BỘ đề và đáp án THI HSG môn văn cấp TỈNH lớp 12 2015 2016 - Pdf 40

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
SÓC TRĂNG

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
Năm học 2013-2014

Đề chính thức

Môn: Ngữ văn - Lớp 12
(Thời gian làm bài 180 phút, không kể phát đề)
Ngày thi: 21/9/2013
_______________
Đề thi này có 01 trang
Câu 1: (8,0 điểm)
Đọc câu chuyện ngụ ngôn sau:
THẦY BÓI XEM VOI
Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói ngồi chuyện gẫu với nhau. Thầy
nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó thế nào. Chợt nghe người
ta nói có voi đi qua, năm thầy chung nhau tiền biếu người quản voi, xin cho
voi đứng lại để cùng xem. Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai,
thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi.
Đoạn năm thầy ngồi bàn tán với nhau.
Thầy sờ vòi bảo:
- Tưởng con voi như thế nào, hóa ra nó sun sun (co lại) như con đỉa.
Thầy sờ ngà bảo:
- Không phải, nó chần chẫn (tròn lẳn) như cái đòn càn.
Thầy sờ tai bảo:
- Đâu có, Nó bè bè trông như cái quạt thóc
Thầy sờ chân bảo:
- Ai bảo! Nó sừng sững như cái cột đình.
Thầy sờ đuôi lại nói:

Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến
trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

----------------HẾT---------------Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ tên học sinh……………………………..Số báo danh……………………………..


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VĨNH PHÚC

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
LỚP 12 THPT NĂM HỌC 2012-2013

Môn: NGỮ VĂN – THPT

HƯỚNG DẪN CHẤM
(Gồm 03 trang)

Câu 1 (3,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội: Bố cục và hệ thống ý
sáng rõ. Biết vận dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt
chẽ. Dẫn chứng chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau
nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giải thích ý nghĩa của lời nhận định.
- Mặt trời là nguồn sáng đem lại hơi ấm và sự sống cho muôn loài. Mặt trời còn là
biểu tượng cho những điều tươi sáng, đẹp đẽ, là niềm tin và hi vọng tốt đẹp ở tương lai
trong cuộc đời con người.
- Bóng tối là màn đêm âm u, tăm tối. Bóng tối cũng là biểu tượng cho sự đen đủi, bi

Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm nổi bật được
những ý cơ bản sau:
1. Khái quát về hình tượng người lính, vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng
- Hình tượng người lính là nguồn cảm hứng lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam. Tuy
nhiên, hình tượng người lính được cảm nhận từ nhiều phương diện với nhiều cảm xúc khác
nhau: có hình tượng người lính được viết theo cảm hứng hiện thực mang vẻ đẹp hồn nhiên,
chân chất, giản dị; có hình tượng người lính được viết theo cảm hứng lãng mạn với vẻ đẹp
oai phong, sang trọng, hào hoa.
- Vẻ đẹp lãng mạn thể hiện trên những phương diện: cái tôi trữ tình tràn đầy tình cảm,
cảm xúc, phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng những yếu tố cường điệu, thủ pháp đối lập
để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hào hùng, tuyệt mĩ. Vẻ đẹp lãng
mạn thể hiện ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng chung của dân tộc,
thể hiện ở vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, thơ mộng.
- Cái bi là sự gian khổ, hi sinh. Cái tráng là sự hào hùng, tráng lệ. Chất bi tráng hòa
quyện vào nhau, sự gian khổ, hi sinh được thể hiện qua màu sắc hào hùng, tráng lệ, bi mà
không lụy.
2. Vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến trong
bài thơ Tây Tiến
a. Vẻ đẹp lãng mạn
- Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên chân dung người lính được đặt
trong khung cảnh miền Tây vừa hùng vĩ, vừa hoang sơ dữ dội, lại hết sức thơ mộng. Ngòi
bút của nhà thơ chú trọng đến những nét độc đáo, khác thường làm nổi bật vẻ đẹp hào hùng,
hào hoa của người lính Tây Tiến.
- Vẻ đẹp hào hùng của người lính qua bức tượng đài tập thể. Cảm hứng lãng mạn
khiến cách nhìn những người lính có vẻ tiều tuỵ, tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ
đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những tráng sĩ thời xưa. Đó là ý chí, tư thế hiên ngang
vượt lên, coi thường gian khổ, hi sinh.
- Vẻ đẹp hào hoa thể hiện ở tâm hồn của người lính: nhạy cảm trước thiên nhiên Tây

- Bài thơ tiêu biểu cho thơ ca dân tộc trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp
và thơ ca cách mạng Việt Nam, là một trong những thi phẩm hay nhất viết về người lính. Từ
hình ảnh người lính Tây Tiến đã gửi đến người đọc thông điệp về lòng yêu nước và lí tưởng
sống cao đẹp của con người.
III. Biểu điểm
* Lưu ý: - Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những suy nghĩ
sáng tạo.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với
tổng điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến 0,5
điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.

3


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VĨNH PHÚC

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
LỚP 12 THPT NĂM HỌC 2012-2013

ĐỀ THI CHÍNH THỨC

Môn: NGỮ VĂN – THPT CHUYÊN
Thời gian: 180 phút, không kể thời gian giao đề.
Ngày thi: 02/11/2012.

Câu 1 (3,0 điểm).
R.Ta-go, nhà thơ Ấn Độ cho rằng: Thà làm một bông hoa sen nở khi thấy
mặt trời rồi mất hết tinh nhụy, còn hơn giữ nguyên hình nụ búp trong sương lạnh

1. Giải thích ý nghĩa của lời nhận định
- Hoa sen: ủ mầm trong bùn đất, tối khuất, nhơ bẩn nhưng mạnh mẽ vươn lên. Hoa
sen là biểu tượng cho phẩm cách thanh sạch, biết vươn lên trong cuộc sống của con người.
- Mặt trời: Đó là ánh sáng vĩnh cửu đem lại sự sống cho vạn vật. Mặt trời tượng
trưng cho sức sống mạnh mẽ, sự huy hoàng.
- Nụ búp: ẩn dụ cho cái non nớt, nhút nhát, e sợ của con người.
- Sương lạnh vĩnh cửu: là môi trường lạnh giá, khắc nghiệt, ở đó vạn vật phải ẩn
mình, thu mình, không thể sinh sôi phát triển. Vì thế nó tượng trưng cho những khó khăn,
thử thách trong cuộc sống.
=> Ý nghĩa câu nói: Ý kiến của Ta- go là một triết lí sống mạnh mẽ, tích cực và tiến
bộ. Trong cuộc sống có rất nhiều khó khăn thử thách, nhưng nếu biết sống và cống hiến hết
mình ta sẽ nhận được thành quả xứng đáng. Nếu sống nhút nhát, thụ động thì cuộc đời thật
nhạt nhẽo, vô nghĩa.
2. Bàn luận, mở rộng vấn đề
a. Tại sao nên chọn cách sống như “bông hoa sen”?
- Cuộc sống rất quý giá nhưng lại ngắn ngủi, và chỉ đến duy nhất một lần. Ta phải
sống thế nào cho xứng đáng, phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những tháng năm đã
sống hoài, sống phí. Ta cần có một trái tim đầy nhiệt huyết để sống hết mình, để cảm nhận
từng hơi thở trong khoảnh khắc của đời mình.
- Đã là con người thì cần phải có ước mơ, lý tưởng và khát khao thực hiện những
điều đó. Tuy nhiên, cuộc sống luôn ẩn chứa những khó khăn, thử thách và những điều tốt
đẹp không bỗng dưng mà có. Thay vì để khó khăn đánh bại, ta hãy đón nhận chúng như một
cơ hội để rèn luyện bản lĩnh của chính mình, để ta thêm trưởng thành.
- Khi ta chọn làm “bông hoa sen nở trong ánh mặt trời” đó là lúc ta sống hết mình và
cống hiến hết mình. Ta sẽ có cơ hội được toả sáng, được khẳng định, lưu lại dấu chân trên
con đường đã đi và tận hưởng những điều tuyệt diệu mà cuộc sống mang lại. Đó cũng chính
là cách khiến cuộc sống của ta thêm ý nghĩa và trở nên có ích. Đó mới là cuộc sống đích
thực của con người.
1


Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để làm
sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc.
Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Học sinh hiểu đúng vấn đề : đề bài bàn về vai trò của tình cảm,cảm xúc trong thơ.
Đó là một trong những đặc trưng của thơ, nhất là thơ trữ tình. Bài viết cần xuất phát từ điều
đó để bình luận và chứng minh vấn đề. Quá trình viết bài, phải có dẫn chứng phân tích để
làm nổi bật các luận điểm. Học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau nhưng cần
trình bày được các ý sau đây:
1. Giải thích
- Thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua tổ
chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm.
- Hành động sáng tạo thi ca: là qúa trình làm thơ của người nghệ sĩ trước tác động
của đời sống hiện thực.
2


- Sự giải phóng những cảm xúc tràn đầy được hiểu là: mỗi khi có điều gì chất chứa
trong lòng, không nói ra, không chịu được, đó là lúc thi sĩ tìm đến thơ để giãi bày.
=> Ý kiến trên đã chỉ ra đặc trưng của thơ trữ tình và đề cao vai trò của tình cảm,
cảm xúc trong thơ.
2. Bình luận và chứng minh
- Khẳng định ý kiến trên là hoàn toàn đúng, ý kiến đó đã xuất phát từ đặc trưng của
thể loại thơ trữ tình và từ quy luật chung của sáng tạo nghệ thuật. Đã có nhiều ý kiến của
các nhà thơ, nhà phê bình văn học xưa nay có những quan điểm tương đồng. Thơ chỉ bật ra
khi tim ta cuộc sống đã tràn đầy (Tố Hữu), Hãy xúc động hồn thơ cho ngòi bút có thần
(Ngô Thì Nhậm)… Xuân Diệu từng phát biểu: Một bài thơ hay là thơ chín đỏ trong cảm
xúc.Thiếu tình cảm, cảm xúc chỉ có thể trở thành người thợ làm những câu chữ có vần chứ
không làm được nhà thơ.
- Thơ là tiếng nói của đời sống tình cảm con người trước cuộc sống. Thơ trữ tình lấy

3


- Thơ không chỉ cần cảm xúc mà cần cả lí trí. Đó là chiều sâu của nhận thức. Nếu thơ
chỉ thiên về cảm xúc, bài thơ sẽ thiếu chất trí tuệ, thiếu sự suy tưởng triết lí mang tính khái
quát về cuộc sống.
- Sự tiếp nhận ở người đọc thơ: cần sự tri âm, sự đồng cảm với tác phẩm, với nhà thơ
để có thể sẻ chia những tình cảm đồng điệu. Khi ấy, thơ sẽ có sức sống lâu bền trong lòng
người đọc nhiều thế hệ.
- Bài học cho người nghệ sĩ: phải biết đề cao yếu tố tình cảm, cảm xúc trong việc
sáng tác thơ.
III. Biểu điểm
- Điểm 7,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong sáng. Bài
viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng diễn
đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
- Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý:
- Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm
của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những suy nghĩ sáng tạo.
- Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến 0,5 điểm
sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.

4



tâm hồn mình trong sáng, giàu tình nhân ái; thân thiện, cởi mở; hướng đến chân, thiện, mĩ,
hướng đến vẻ đẹp chân chính của nhân loại.


- Hiện nay, cuộc sống của chúng ta đang còn những vấn đề bức thiết: không ít người hiểu
về văn hóa lơ mơ; chuẩn mực văn hóa phát triển có phần lệch lạc; chưa có giải pháp và định
hướng hiệu quả xây dựng người Việt Nam có văn hóa; một bộ phận người lớn và giới trẻ đã và
đang làm mất vẻ đẹp thuần văn hóa Việt…
Thí sinh chọn lọc một số dẫn chứng làm rõ từng khía cạnh.
c. Nêu ý nghĩa, nhận thức hành động
- Người Việt nhận thức đúng về con đường làm giàu về tiền bạc và làm giàu bản sắc văn
hóa Việt không giống nhau về thời gian và bản chất.
- Mỗi người hãy tự học hỏi, bổ sung và hoàn thiện dần vốn văn hóa trong tất cả mọi lĩnh
vực của đời sống. Bằng hành đông tích cực trong giao tiếp, công việc, học tập và cuộc sống để
trở thành người có văn hóa. Đó là quá trình lâu dài tích lũy tri thức và thực hành, tiếp nhận và
hoàn thiện bản thân; kế thừa và phát huy chọn lọc văn hóa, với sự nỗ lực bền bỉ và thống nhất
của cá nhân và công đồng người Việt trên toàn thế giới.
Câu 2 (7điểm) Nghị luận văn học
Thí sinh cần làm rõ:
a. Nhận thức đề bài
- Đề bài yêu cầu thí sinh nêu hiểu biết về hai quan niệm của người xưa về đặc điểm thi
pháp của thơ nói chung: tính nhạc và tính họa. Từ đó, thí sinh vận dụng làm nổi bật bức tranh
thơ giàu hình ảnh và nhạc điệu được thể hiện trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Việt
Bắc của Tố Hữu.
- Thí sinh hiểu hai bài thơ; nắm vững tri thức lí luận văn học; biết cách làm bài nghị
luận văn học; diễn đạt lưu loát và thuyết phục.
b. Gợi ý nội dung
1. Giải thích nhận định
- Thi trung hữu họa: ngôn ngữ thơ giàu hình và cảm xúc khắc vẽ bức tranh thiên nhiên,
cuộc sống và con người. Thi trung hữu nhạc: cách gieo vần, hiệp vần, hài thanh, cách ngắt

- Các nhà thơ coi trọng cảm hứng thi ca cần học tập và vận dụng linh hoạt các tính nhạc
điệu và tính hoa trong sáng tác văn học của mình. Học sinh cần hiểu và vận dụng tri thức về
tính nhạc và tính họa khi đọc hiểu tác phẩm văn chương, đặc biệt là thơ ca.
.

Đề thi HSG Ngữ văn 12 –THPT (2015-2016) . Ảnh NVL
Phần trao đổi
Kì thi chọn học sinh giỏi lớp 12 (năm học 2015-2016) của tỉnh Vĩnh Phúc vừa được tổ
chức thành công. Chúng tôi xin trao đổi thêm về đề thi Ngữ văn khối THPT.
Đề thi đã đạt các yêu cầu chung của đề chọn học sinh giỏi (HSG) hệ không chuyên, đã
bám sát đối tượng và có tính đổi mới. Đề thi (câu 1) đề cập vấn đề lớn của xã hội khi văn hóa
Âu châu lấn át văn hóa Việt trong nhiều lĩnh vực đời sống. Giới trẻ đã và đang hòa tan văn hóa
khi hội nhập thế giới.
Câu 2, nghị luận văn học, chọn hai bài thơ tiêu biểu thời chống Pháp đúng chương trình
và đối tượng học sinh giỏi. Cái khó của đề liên quan lý luận văn học, thi sinh cần cái nhìn bao
quát và hiểu sâu tính nhạc và tính họa của thơ ca. Đa phần thí sinh sẽ đi vào trình bày hiểu biết
về giá trị nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm.
Nguyễn Văn Lự/ THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.


TRƯỜNG THPT VĨNH YÊN

ĐỀ THI CHỌN HSG NGỮ VĂN LỚP 12
NĂM HỌC 2015 - 2016
Thời gian làm bài : 180 phút, không kể thời gian giao đề

PHẦN MỘT: MA TRẬN
Vận dụng
Mức độ
Nhận biết

của bài thơ
2 điểm
20%

0,5 điểm
5%
Các phương
thức biểu đạt
dùng tả cảnh
và tình
2 điểm
20%

Bàn luận vấn đề
trong các góc nhìn
hiện nay của học
sinh
2 điểm
20 %
Tích hợp kiến thức,
kỹ năng đã học để
làm một bài văn
Nghi luận văn học.
3 điểm
30%

2,5 điểm
25%

2,5 điểm

Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
(Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr. 119 — 120)
------ Hết--------


HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 1- HSG VĂN 12

A.Yêu cầu chung:
1. Có kiến thức văn học và xã hội đúng đắn, sâu rộng; kĩ năng làm văn tốt: bố
cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh và sức biểu cảm,
ít mắc lỗi chính tả.
2. Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng, định
tính chứ không định lượng. Giám khảo linh hoạt khi vận dụng đánh giá bài làm của
thí sinh trong tính chỉnh thể; trân trọng những bài viết có ý kiến và giọng điệu
riêng. Chấp nhận các cách kiến giải khác nhau, kể cả không có trong hướng dẫn
chấm, miễn là hợp lí và có sức thuyết phục.
3. Tổng điểm toàn bài là 10,0 điểm, cho lẻ đến 0,5 điểm.
B. Yêu cầu cụ thể:
Thí sinh có thể trình bày theo cách riêng nhưng cần làm rõ các nội dung sau
Câu I (3 điểm)
1. Khẳng định mình là phát huy cao nhất năng lực, in dấu ấn cá nhân trong không
gian cũng như trong thời gian, cụ thể là trong môi trường và lĩnh vực hoạt động
riêng của mình. Ở các thời đại và xã hội khác nhau, việc tự khẳng định mình của
con người vươn theo những tiêu chuẩn và lí tưởng không giống nhau. (0,5 điểm)






là chương hay nhất, thể hiện sâu sắc một trong những tư tưởng cơ bản nhất của
bản trường ca - tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. (0,5 điểm)
Trong đoạn thơ, đất nước được nhìn ở tầm gần và hiện hình qua lời tâm sự của anh
và em. Bởi thế, “khuôn mặt” đất nước trở nên vô cùng bình dị, thân thiết. Tình
cảm dành cho đất nước vô cùng chân thật, được nói ra từ chiêm nghiệm, trải
nghiệm của một con người cá nhân nên có khả năng làm lay động thấm thía tâm
hồn người đọc. (1,0 điểm)
Hàm ngôn của các câu thơ thật phong phú: sự tồn tại của đất nước cũng là sự tồn
tại của ta và chính sự hiện hữu của tất cả chúng ta làm nên sự hiện hữu của đất
nước. Hành động “cầm tay” là một hành động mang tính biểu tượng. Nhờ hành
động đó, đất nước mới có được sự “hài hoà nồng thắm”, mới trở nên “vẹn tròn to
lớn”. (1,0 điểm)
Ba câu tiếp theo của đoạn thơ vừa đẩy tới những nhận thức - tình cảm đã được
triển khai ở phần trên, vừa đưa ra những ý tưởng có phần “lạ lẫm”: Mai này con ta
lớn lên / Con sẽ mang Đất Nước đi xa / Đến những tháng ngày mơ mộng. Thực
chất, đây là một cách biểu đạt đầy hình ảnh về vấn đề: chính thế hệ tương lai sẽ
đưa đất nước lên một tầm cao mới, có thể “sánh vai với các cường quốc năm
châu”. Như vậy, quá trình hình thành và phát triển của đất nước luôn gắn với nỗ
lực vun đắp đầy trách nhiệm cho cộng đồng của rất nhiều thế hệ nối tiếp nhau, mà
thế hệ của chúng ta chỉ là một mắt xích trong đó. (1,5 điểm)
Trong bốn câu thơ cuối, cảm xúc được đẩy tới cao trào. Nhân vật trữ tình thốt lên
với niềm xúc động không nén nổi: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình /
Phải biết gắn bó và san sẻ / Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở / Làm nên Đất
Nước muôn đời… Đoạn thơ có những câu mang sắc thái mệnh lệnh với sự lặp lại
cụm từ “phải biết”, nhưng đây là mệnh lệnh của trái tim, của tình cảm gắn bó thiết

Môn thi: NGỮ VĂN 12 - (Hướng dẫn chấm gồm 02 trang)
A.Yêu cầu chung:
1. Có kiến thức văn học và xã hội đúng đắn, sâu rộng; kĩ năng làm văn tốt: bố cục rõ
ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh và sức biểu cảm, ít mắc lỗi
chính tả.
2. Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng, định tính chứ
không định lượng. Giám khảo linh hoạt vận dụng, đánh giá bài làm của thí sinh trong tính
chỉnh thể; trân trọng những bài viết có ý kiến và giọng điệu riêng. Chấp nhận các cách
kiến giải khác nhau, kể cả không có trong hướng dẫn chấm, miễn là hợp lí và có sức
thuyết phục.
3. Tổng điểm toàn bài là 10,0 điểm, cho lẻ đến 0,5 điểm.
B. Yêu cầu cụ thể:
Câu 1. (8 điểm)
Đây là dạng đề mở, người viết cần đưa ra được quan điểm riêng của mình và lựa chọn
kiểu văn bản phù hợp. Sau đây là một số gợi ý về nội dung.
1. Nói dối là nói không đúng sự thật. Đây là một biểu hiện thường gặp trong cuộc
sống.
2. Phía sau lời nói dối có thể là:
- Những động cơ, nguyên nhân khác nhau: những toan tính, thủ đoạn của kẻ
không trung thực; sự yếu đuối, hèn nhát của người không dám đối diện sự thật;
né tránh sự thật đau lòng, không muốn làm tổn thương người khác...
- Những trạng thái tâm lí, cảm xúc khác nhau: buồn - vui, đau khổ - hạnh
phúc, hối hận - hả hê,...
- Những hệ lụy không ai mong muốn, những hậu quả khôn lường: lời nói dối
có thể kéo theo những hành động gian dối, làm xói mòn nhân phẩm, niềm tin giữa con
người với nhau, gây bất ổn nhiều mặt trong xã hội,...
3. Bài học:
- Nói dối là một thói xấu, vì thế con người cần rèn luyện cho mình phẩm chất
trung thực, không được nói dối.
- Cần lên án, phê phán nghiêm khắc những kẻ nói dối cũng như những hành vi

đến những lời thơ, câu văn đẹp khác có nét gần gũi về đề tài, chủ đề, bút pháp...; gợi
những cảm xúc sâu lắng trước vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống...
3. Đánh giá:
- Đóng góp của bài thơ về nội dung và nghệ thuật.
- Người đọc cần có ý thức bồi dưỡng tâm hồn, trau dồi kĩ năng, tích lũy kiến thức
để phát huy khả năng liên tưởng trong quá trình cảm nhận tác phẩm văn học.
Biểu điểm:
- Điểm 11-12: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, hành văn trong sáng, có cảm xúc, giàu hình
ảnh.
- Điểm 9-10: Đáp ứng được phần lớn các yêu cầu trên, hành văn trong sáng, mạch lạc.
- Điểm 8-9: Đáp ứng 2/3 yêu cầu trên, hành văn ít mắc lỗi.
- Điểm 6-7: Đáp ứng được 1/2 yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi về diễn đạt, chính tả.
- Điểm 4-5: Đáp ứng được một số ý, còn lỗi diễn đạt.
- Điểm dưới 3: Còn non kém về nhiều mặt.


ĐỀ LUYÊN THI NGỮ VĂN - NĂM 2015-2016
Số 001
Thời gian làm bài : 120 phút ( không kể thời gian giao đề)
C©u 1 (1,5 ®iÓm)
a. Các đoạn và câu trong văn bản được liên kết chặt chẽ với nhau. Kể tên các phép liên kết
chính về hình thức trong văn bản.
b. Chỉ ra phép liên kết câu sử dụng trong ví dụ sau:
“Người con trai nói to những điều đáng lẽ người ta chỉ nghĩ. Cũng là những điều ta ít nghĩ.
Việc ấy làm bác già và cô gái cảm động và bị cuốn hút ngay. Cô ôm bó hoa vào ngực, bạo dạn
nhìn thẳng vào mặt anh.”
(Nguyễn Thành Long -Lặng lẽ Sa Pa)
C©u 2: (1,5 ®iÓm)
a. Thế nào là câu đơn bình thường? Cho ví dụ.
b. Xác định (gạch chân) thành phần nòng cốt của câu sau:


-HếtCán bộ coi thi không giải thích gì thêm.


ĐỀ LUYÊN THI NGỮ VĂN - NĂM 2015-2016
Số 002
Thời gian làm bài : 120 phút ( không kể thời gian giao đề)

Phần I: (4 điểm )
Truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân đã thể tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần
kháng chiến của người nông dân hết sức chân thực, sâu sắc và cảm động. Trong truyện có đoạn:
"…Ông Hai vẫn trằn trọc không sao ngủ được.Ông hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài.
Chợt ông lão lặng hẳn đi, chân tay nhủn ra, tưởng chừng như không cất lên được… Có tiếng nói léo xéo
ở gian trên. Tiếng mụ chủ…Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì mà lào xào thế? Trống ngực ông lão đập
thình thịch. Ông lão nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…”
Câu 1: Đoạn trích thể hiện rất chân thực tâm trạng của nhân vật ông Hai. Em hãy viết một câu văn nêu
nhận xét khái quát về tâm trạng của nhân vật.
Câu 2: Dựa vào nội dung đoạn văn trên kết hợp với những hiểu biết về tác phẩm, em hãy cho biết vì sao
ông Hai có tâm trạng như vậy khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc (khoảng 10 câu)?
Câu 3: Cụm từ “Tiếng mụ chủ…”đã là câu chưa? Vì sao?
Phần II: (6 điểm)
Bếp lửa là bài thơ gợi lại kỉ niệm sâu sắc về người bà. Trong bài thơ có câu thơ :
"Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi"
Câu 1: Bài thơ Bếp lửa là sáng tác của ai? Hãy chép 6 dòng thơ tiếp theo để hoàn thành khổ thơ?
Câu 2: Dựa vào đoạn thơ vừa chép, em hãy viết một đoạn văn khoảng 8 câu theo cách lập luận
diễn dịch, trong đó có sử dụng phép lặp và phép thế với chủ đề: Đoạn thơ đã làm hiện lên hình ảnh
người bà giàu tình yêu thương, giàu đức hi sinh luôn hướng về kháng chiến, Cách mạng. (Gạch
dưới phép lặp và phép thế).
Câu 3: Cũng trong bài thơ trên còn có đoạn :
"Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

thần tự học trong xã hội hiện đại.
Câu 3 (6,0 điểm).
Hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước qua một
số tác phẩm đã học trong chương trình Ngữ văn 9.

— Hết —
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm!
Họ và tên thí sinh…………………………………………Số báo danh…………


SỞ GD & ĐT VĨNH PHÚC
———————

HƯỚNG DẪN CHẤM THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT CHUYÊN
NĂM HỌC 2015 – 2016; MÔN THI: NGỮ VĂN

Dành cho lớp chuyên Ngữ văn
( Hướng dẫn chấm gồm có 04 trang)

Câu 1 (1,0 điểm).
Ý
Nội dung
Phát hiện biện - Câu thơ của Quang Huy dùng biện pháp ẩn dụ qua từ
dòng trăng để miêu tả dòng sông.
pháp tu từ
- Câu thơ của Hữu Thỉnh dùng biện pháp nhân hóa qua từ
dềnh dàng để miêu tả dòng sông.
Phân tích hiệu - Sử dụng biện pháp ẩn dụ, ngầm so sánh dòng sông phản
quả của biện chiếu ánh trăng là dòng trăng lấp loáng, câu thơ của
Quang Huy làm hiện lên hình ảnh dòng sông tuyệt đẹp, nên

0,25
2
Giải thích
0,5
- Học là quá trình thu nhận kiến thức và hình thành kỹ năng để sống,
0,25
hòa nhập với xã hội.
- Tự học là mỗi cá nhân độc lập, tự mình tiếp nhận, trau dồi kiến
thức và hình thành kỹ năng. Tự học chia làm hai loại: tự học hoàn
0,25
toàn và tự học có hướng dẫn, có sự chỉ bảo của người khác.
3
Bàn luận, mở rộng vấn đề
2,0
- Tinh thần tự học trong xã hội hiện đại có tầm quan trọng như thế
nào?
+ Ở thời nào việc tự học cũng cần thiết vì tự học giúp con người trở
nên năng động, biết tự hoàn thiện mình, không ỷ lại, không bị phụ
0,5
thuộc, hiệu quả học tập cao.
+ Trong xã hội hiện đại, việc tự học càng trở nên cần thiết, quan
trọng hơn bởi sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, sự
bùng nổ thông tin đặt ra yêu cầu mới đối với người lao động: phải có
0,5
tri thức, phải luôn cập nhật thông tin để đáp ứng yêu cầu công việc,
HDC Văn HS2 TS10 CVP năm học 2015-2016

1



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status