Nghiên cứu sự lắng đọng và phát tán một số kim loại nặng trong nước thải từ quá trình khai thác và làm giàu quặng thiếc tại xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN ........................................................................... 5
1.1. Tình hình và hiện trạng ô nhiễm do khai thác và chế biến quặng thiếc ...... 5
1.1.1. Tình hình khai thác quặng thiếc ..................................................... 5
1.1.2. Hiện trạng ô nhiễm do khai thác và chế biến quặng thiếc............. 6
1.2. Các kim loại nặng xuất hiện trong quá trình khai thác, chế biến
quặng thiếc và tác động đến môi trƣờng........................................................ 8
1.2.1. Asen ................................................................................................ 8
1.2.2. Thủy ngân ....................................................................................... 8
1.2.3. Đồng ............................................................................................... 9
1.2.4. Chì ................................................................................................ 10
1.2.5. Kẽm ............................................................................................... 10
1.2.6. Sắt ................................................................................................. 11
1.2.7. Thiếc ............................................................................................. 12
1.2.8. Mangan......................................................................................... 12
1.3. Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên ....................................................... 13
1.4. Các biện pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm kim loại nặng ................. 16
1.4.1. Phương pháp kết tủa hoá học ...................................................... 16
1.4.2. Phương pháp trao đổi ion ............................................................ 16
1.4.3. Phương pháp điện hoá ................................................................. 16
1.4.4. Phương pháp oxy hoá - khử ......................................................... 17
1.4.5. Xử lý nước thải có chứa kim loại nặng bằng phương pháp tạo
Ferit .......................................................................................................... 17
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........ 18
2.1. Đối tƣợng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài ....................... 18

1



MỞ ĐẦU

Công nghiệp khai khoáng vẫn đƣợc xem là một ngành công nghiệp mũi nhọn
đóng góp một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nƣớc ta. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác khoáng sản nói chung và quặng thiếc
nói riêng đã gây ra rất nhiều tác động xấu tới môi trƣờng cũng nhƣ ngƣời dân khu
vực xung quanh. Những tác động tiêu cực này đầu tiên phải kể đến việc phá rừng để
khai thác quặng và làm đƣờng giao thông, tiếp theo đó là các hoạt động khai thác
gây ô nhiễm không khí và ô nhiễm môi trƣờng nƣớc trong đó có ô nhiễm KLN.
Hiện nay, việc khai thác quặng và hiện trạng ô nhiễm nƣớc ở khu vực khai
thác, chế biến quặng thiếc tại xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đang
diễn ra hàng ngày với mức độ rất nghiêm trọng. Nhiều đơn vị khai thác quặng thiếc
tại các dãy núi cao ở các xã Châu Hồng, Châu Thành, Châu Quang, Châu Tiến
thƣờng lén xả nƣớc thải bùn từ trên núi xuồng tràn vào ruộng lúa, khu dân cƣ hoặc
tràn qua khe suối khiến cho môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Một số đơn vị
khai thác tuy có xây dựng các bể xử lý nhƣng thực tế gần nhƣ các bể không đƣợc
hoạt động mà nƣớc thải chủ yếu thải trực tiếp ra môi trƣờng. Tại các khe đầu nguồn
nƣớc luôn bị đục và có màu đen thẫm, trong đó hàm lƣợng asen khá cao do các đơn
vị khai thác đã sử dụng nƣớc trong quá trình tuyển thô (sơ bộ). Thêm vào đó việc
« mót » quặng diễn ra ngay giữa dòng khe, ngƣời dân đào bới và đãi quặng trực tiếp
xuống khe khiến cho nguồn nƣớc quanh năm đục ngầu, dòng chảy bị thay đổi, môi
trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Bên cạnh việc khai thác khoáng sản (ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới), con
ngƣời cũng đã quan tâm đến các biện pháp xử lý nhằm giảm sự phát thải các chất ô
nhiễm ra ngoài môi trƣờng, mà đặc biệt là kim loại nặng. Tuy nhiên sự quan tâm xử
lý và quản lý chƣa phải khi nào và ở đâu cũng đúng mực. Thêm nữa, sự quan tâm
hầu nhƣ cũng mới chỉ dừng lại ở tại các điểm phát thải, mà chƣa chú ý nhiều đến sự

3


(Messopotania) vào 3500 – 3200 năm trƣớc Công Nguyên. Vào khoảng 1800 – 1500
năm trƣớc Công Nguyên, ở Trung Quốc đã sử dụng rộng rãi đồng đen. Trong thế kỷ
18, ở Anh (mỏ Coocmuon), nam Trung Quốc, Bolivin, Liên Xô đã khai thác thiếc
với quy mô lớn. Sản lƣợng thiếc khai thác trên thế giới từ năm 1940 đến năm 2006
đƣợc thống kê trong bảng 1.
Bảng 1. Sản lượng khai thác thiếc trên thế giới theo thời gian (nghìn tấn)
Năm

1940

Sản lƣợng 240

1957

1975

1991

2000

2005

2006

200

234.6

186.3



1913

1937

1941

1945

1950

1955

1960

1966

1971

1981

1991

1995

84

127

196

trung bình 210 tấn/năm. Ở Quỳ Hợp khai thác từ 1961 với qui mô nhỏ.
1.1.2. Hiện trạng ô nhiễm do khai thác và chế biến quặng thiếc


Trên thế giới [21,24]

Hiện nay, các khu mỏ khai thác và chế biến quặng thiếc trên thế giới đa số
đều đang ở trong tình trạng ô nhiễm kim loại nặng. Ở những nƣớc có mỏ thiếc và có
sản lƣợng khai thác thiếc lớn nhƣ Indonesia, Trung Quốc, Nga … hàm lƣợng kim
loại nặng có mặt trong nƣớc đều vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép.
Một khu vực ô nhiễm là lƣu vực sông Citarum ở Tây Java của Indonesia, nơi
9 triệu ngƣời sinh sống nhƣng có tới 2.000 nhà máy. Dòng sông Citarum, vốn đƣợc
sử dụng để phục vụ các nhu cầu hàng ngày của ngƣời dân ở đây cũng nhƣ để cung
cấp nƣớc tƣới cho đồng ruộng, đã bị ô nhiêm bởi nhiều loại chất độc, trong đó có
nhôm và mangan. Kiểm tra mẫu nƣớc uống ở đây cho thấy hàm lƣợng chì vƣợt quá
1.000 lần mức tiêu chuẩn của WHO (0,05 mg/L).[21]
Nhiều thập niên khai thác mỏ đa kim chì – thiếc bừa bãi ở thành phố Kabwe,
Zambia đã gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho ngƣời dân Kabwe, nơi hơn
300.000 ngƣời đƣợc cho là bị ảnh hƣởng bởi ô nhiễm. Năm 2006, lƣợng chì trong
máu trẻ em ở Kabwe đƣợc phát hiện cao gấp 5-10 lần mức đƣợc khuyến nghị.[24]

6




Ở Việt Nam [3, 14]

Qua phân tích mẫu đất của một số khu vực khai thác mỏ thiếc đã nhận thấy
tất cả đều là những điểm nóng về ô nhiễm kim loại nặng (KLN), điển hình là mỏ

thiếc và tác động đến môi trƣờng
Nhƣ đã nói ở trên, đa phần các mỏ thiếc ở Việt Nam đều là các mỏ đa kim; do
đó, trong quá trình khai thác và chế biến quặng thiếc sẽ xuất hiện rất nhiều kim loại
nặng gây ảnh hƣởng không tốt đến môi trƣờng và con ngƣời. Các kim loại nặng
thƣờng xuyên xuất hiện ở mỏ thiếc bao gồm: Hg, Cu, Pb, Zn, Fe, Sn, Mn và As.
1.2.1. Asen [3,6,15]
Asen (As) là nguyên tố tồn tại có độc tính cao và thƣờng xuất hiện trong môi
trƣờng dƣới dạng các anion trong các hợp chất.
Trong tự nhiên, asen tƣơng đối phổ biến, hàm lƣợng asen trong vỏ trái đất ở
khoảng 2-10 mg/kg. Tuy nhiên, các trƣờng hợp nhiễm độc asen chủ yếu là do asen
đƣợc thải ra bởi các hoạt động của con ngƣời. Các hoạt động thải asen ra môi trƣờng
chủ yếu là: khai thác và chế biến quặng đa kim, than và dầu mỏ, sản xuất năng
lƣợng, sản xuất amiang, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, bảo quản và chế biến gỗ.
Khi bị nhiễm độc, asen làm cho đông tụ protein, tác dụng với nhóm chức –SH
của enzyme làm cho enzyme bị thụ động hóa, phá hủy quá trình photphat hóa tạo
ATP (Adenozin triphotphat). Asen ở dạng vô cơ gây ung thƣ biểu bì mô da và các
bệnh ngoài da. Asen còn đầu độc hệ tuần hoàn khi hấp thu một lƣợng ≥ 0,1 mg/kg
cơ thể.[6]
Liều lƣợng asen tối đa mỗi ngày có thể chấp nhận đƣợc là 0,05 mg/kg thể
trọng. Khi tích lũy asen trong một thời gian dài sẽ gây ra các triệu chứng ngộ độc
mãn tính nhƣ mặt xám, tóc rụng, viêm dạ dày và ruột, đau mắt, tai…làm cho cơ thể
mệt mỏi và chết sau một thời gian ngắn.[15]
Nồng độ tối đa trong nƣớc uống của WHO là 0,01mg/L, tiêu chuẩn cho phép
của asen trong nƣớc sinh hoạt của nƣớc ta là 0,01 mg/L.
1.2.2. Thủy ngân [16]

8


Thủy ngân (Hg) là kim loại duy nhất tồn tại ở thể lỏng ở nhiệt độ thƣờng.



mặt, buồn nôn. Tiếp xúc thƣờng xuyên với đồng dẫn đến xơ gan, tổn thƣơng não,
phá hủy thận …
Nồng độ cho phép của đồng trong nƣớc sinh hoạt là 2 mg/l.[15]
1.2.4. Chì [6,15]
Chì (Pb) là kim loại có rất ít trong tự nhiên, hàm lƣợng chì rất nhỏ chỉ cỡ
0,001 – 0,02 mg/L. Ở trong nƣớc, chì có thể tồn tại ở dạng phức tan hoặc các dạng
khó tan.
Nguồn thải chì ra môi trƣờng là: khai thác quặng, tinh luyện chì, sản xuất pin
và acquy, sử dụng xăng pha chì, thuốc trừ sâu…Hàm lƣợng chì thải ra không khí
khoảng 330 tấn/năm, chì trong không khí có khích thƣớc nhỏ (< 22 µm) nên chúng
có thể phân tán rất xa và gây tích tụ trong cơ thể sinh vật qua đƣờng hô hấp hoặc
thức ăn.[6]
Chì và các hợp chất của chì rất độc, đặc biệt là với trẻ em do trẻ em có khả
năng hấp thụ cao hơn ngƣời lớn. Khi bị nhiễm độc chì sẽ gây ức chế một số enzym
quan trọng của quá trình tổng hợp máu gây quá trình cản trở quá trình tạo hồng cầu.
Khi hàm lƣợng chì trong máu đạt khoảng 0,3 ppm thì nó sẽ ngăn cản quá trình sử
dụng oxi để oxi hóa glucozo, tạo năng lƣợng cho quá trình sống. Ở nồng độ > 0,8
ppm chì gây bênh thiếu máu do thiếu sắc tố hồng cầu, phá hủy các chức năng của
thận và phân hủy tế bào não. Chì ở nồng độ thấp ngăn cản sự phát triển sinh lý và trí
tuệ của trẻ sơ sinh và trẻ em. Liều độc của chì axetat là 1 mg cà chì cacbonat là 2 – 4
mg đối với ngƣời lớn. Nồng độ cho phép tối đa của chì trong nƣớc uống theo WHO
là 0,05 mg/L. Ở Việt Nam thì tiêu chuẩn cho phép của chì trong nƣớc sinh hoạt là
0,05 mg/L.[15]
1.2.5. Kẽm [15,16]
Kẽm (Zn) là kim loại thƣờng có mặt trong các quặng đa kim cùng với chì và
đồng và dễ thải ra môi trƣờng trong quá trình khai thác về chế biến quặng.

10

11


1.2.7. Thiếc [14]
Thiếc (Sn) là một kim loại màu trắng bạc, kết tinh cao, dễ uốn, dễ dát mỏng,
có màu ánh bạc, nhiệt độ nóng chảy thấp, rất khó bị oxy hóa. Thiếc thông thƣờng
đƣợc khai thác và thu hồi từ quặng cassiterit, ở dạng Ôxít. Thiếc là một thành phần
chính tạo ra hợp kim đồng thiếc.
Thiếc là kim loại khá ít trong tự nhiên, thông thƣờng trong các mỏ quặng thì
thiếc thƣờng tồn tại chung với các kim loại khác tạo thành mỏ đa kim nhƣ Fe, Cu,
Mn… Nguồn thải chính của thiếc ra môi trƣờng là các khu mỏ, nhà máy luyện kim
và chế biến quặng thiếc, các cơ sở xí nghiệp mạ hợp kim thiếc lên các vỏ đồ hộp…
Chƣa có nhiều sự nghiên cứu về thiếc và oxit thiếc cũng nhƣ độ độc của
chúng nhƣng thiếc cacbonat có độ độc ngang với cyanua. Trong điều kiện làm việc
tiếp xúc nhiều với thiếc thì thiếc sẽ xâm nhập vào cơ thể ngƣời chủ yếu qua đƣờng
hô hấp, tích trữ trong phổi và gây bệnh không báo trƣớc. Sử dụng bình thiếc chứa
các loại chất lỏng nhƣ nƣớc hay rƣợu sẽ làm cho các chất này nhiễm độc và gây ngộ
độc thiếc cấp tính cho ngƣời sử dụng và có thể gây chết trong thời gian ngắn.
Nồng độ cho phép của thiếc trong nƣớc sinh hoạt ở Việt Nam là 0,2 mg/l.
1.2.8. Mangan [14]
Mangan (Mn) là kim loại màu trắng xám, giống sắt. Ở dạng nguyên tố tự do,
mangan là kim loại quan trọng trong các hợp kim công nghiệp, đặc biệt là thép
không gỉ.
Nguồn thải chính của mangan ra môi trƣờng là các khu mỏ, các nhà máy
luyện kim, chế biến thép không gỉ, các hoạt động y tế, nhuộm màu cho gốm và thủy
tinh …
Mangan là kim loại tồn tại ở rất nhiều trạng thái oxy hóa khác nhau, phổ biến
nhất là +2, +3, +4, +6 và +7 trong đó trạng thái oxy hóa +2 là trạng thái đƣợc sử
dụng trong các sinh vật sống cho chức năng cảm giác; các trạng thái khác đều là chất
độc đối với cơ thể con ngƣời. Mangan đƣợc hấp thụ vào cơ thể thông qua hô hấp sẽ

trung bình là 20,7oC. Nhiệt độ cao nhất 41,8oC và nhiệt độ thấp nhất xuống tới 5oC.
 Độ ẩm không khí
Độ ẩm trung bình của khu vực nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2010 là 82%.

13


 Nắng và bức xạ
Tổng số giờ nắng trung bình 5 năm từ 2006- 2010 đo đƣợc là 1526
giờ/năm. Chế độ nắng liên quan chặt chẽ tới chế độ bức xạ và tình trạng mây. Từ
tháng XII đến tháng IV bầu trời u ám nhiều mây nên số giờ nắng ít nhất trong
năm chỉ 72,6 giờ/tháng. Sang tháng V, trời ấm lên số giờ nắng tăng lên tới 193,3
giờ/tháng.
 Tốc độ gió và hướng gió
Tại hƣớng gió chủ đạo là Đông Bắc, Đông và hƣớng Tây Nam, mùa hè có
hƣớng gió chủ đạo là Đông Nam. Những yếu tố ảnh hƣởng đến hƣớng gió là áp
suất và đặc điểm địa hình của khu vực. Tốc độ gió trung bình cả năm từ 1,6 m/s
- 2,7 m/s.
 Mưa
Mùa mƣa thƣờng xảy ra trong thời kỳ từ tháng VII đến tháng X. Lƣợng
mƣa trung bình nhiều năm là 1455mm. Trong một năm, lƣợng mƣa trung bình từ
13,3 mm đến 285,2 mm.
 Bốc hơi
Tổng lƣợng bốc hơi tháng lớn nhất thƣờng rơi vào tháng V đên VII. Tháng có
tổng lƣợng bốc hơi nhỏ nhất là tháng I. Tổng lƣợng bốc hơi cả năm duy trì ở mức
trên dƣới 861mm.
c) Điều kiện thủy văn và địa chất thuỷ văn[1]
- Đặc điểm thuỷ văn:
Gần khu mỏ có 2 suối chính là Suối Bắc và Suối Mai với hƣớng song song với
phƣơng cấu trúc; Lòng suối rộng 310 m, đá gốc lộ tốt. Mùa khô các suối thƣờng ít


Trữ lƣợng (nghìn tấn)
Quặng

Kim loại Sn

122

698

2,02

333

338

0,981

15


Theo tính toán sơ bộ thì tuổi thọ của mỏ là T = 25 năm
 Công suất khai thác.
+ Tính theo quặng nguyên khai: 20.000 tấn/năm
+ Tinh quặng thiếc (Sn= 32,58%) trung bình 1năm: 120 tấn/năm
+ Công suất nhà máy tuyển: 25.000 tấn quặng/năm (hệ số không điều hòa K=1,25)
1.4. Các biện pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm kim loại nặng[6]
Có rất nhiều phƣơng pháp để xử lý nƣớc thải chứa kim loại nặng nhƣ các
phƣơng pháp hoá học, hoá lý hay sinh học. Song kim loại nặng thƣờng là phát sinh
ra từ các nguồn nhất định do vậy cách tốt nhất là ta xử lý ngay tại nguồn gây ô


điện cực kéo dài vào bình điện phân để tạo ra một điện trƣờng định hƣớng, các ion
chuyển động trong điện trƣờng này. Các cation chuyển dịch về catốt, các anion
chuyển dịch về anốt.
Ƣu điểm của phƣơng pháp này là nhanh tiện lợi hiệu quả xử lý cao, ít độc
nhƣng lại quá tốn kém về điện năng.
1.4.4. Phương pháp oxy hoá - khử
Đây là một phƣơng pháp thông dụng để xử lý nƣớc thải có chứa kim loại
nặng khi mà phƣơng pháp vi sinh không thể xử lý đƣợc. Nguyên tắc của phƣơng
pháp là dựa trên sự chuyển từ dạng này sang dạng khác bằng sự có thêm electron
khử hoặc mất electron (oxy hoá) một cặp đƣợc tạo bởi một sự cho nhận electron
đƣợc gọi là hệ thống oxy hoá - khử.
1.4.5. Xử lý nước thải có chứa kim loại nặng bằng phương pháp tạo Ferit
Quá trình xử lý nƣớc thải có chứa kim loại nặng bằng phƣơng pháp tạo ferit
là quá trình tinh thể hoá, tạo tinh thể Fe3O4 từ FeSO4. Trong quá trình hình thành
tinh thể, các ion kim loại nặng có trong dung dịch cũng bị kéo vào, tham gia vào
mạng tinh thể ở vị trí các nút cation. Quá trình này đƣợc gọi là nội kết tủa.
Các ion kim loại tan trong dung dịch sẽ bị kéo vào mạng tinh thể. Sau phản
ứng lắng và lọc lấy nƣớc trong.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình hình thành tinh thể chủ yếu là pH, nhiệt
độ, nồng độ các ion kim loại, bán kính các ion kim loại trong dung dịch.

17


CHƢƠNG 2 – ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1.1. Đôi tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các kim loại nặng có mặt trong
nguồn thải ra môi trƣờng, xem xét mức độ tồn dƣ trong đất và lan truyền trong nƣớc

nghiên cứu. Các số liệu về ô nhiễm và chất lƣợng môi trƣờng sau qua trình khai
khoáng và quy trình hoạt động khai khoáng, làm giàu của cơ sở khai khoáng đều đã
đƣợc tiến hành khảo sát và nghiên cứu rất nhiều lần trong các năm qua. Việc thu
thập các thông tin này sẽ giảm bớt thời gian cũng nhƣ kinh phí thực hiện đề tài. Mặt
khác, việc tổng quan tài liệu cũng cung cấp thêm những hiểu biết về từng KLN

18


trong quá trình nghiên cứu; Hiểu tốt hơn biện pháp xử lý, giảm thiểu, các phƣơng
pháp phân tích để từ đó có thể chọn đƣợc chƣơng trình quan trắc và giảm thiểu phù
hợp nhất.
2.2.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Điều tra, khảo sát hiện trạng khai thác và chế biến tại địa phƣơng nghiên cứu
là yêu cầu tiên quyết để có thể xây dựng đƣợc một chƣơng trình quan trắc phù hợp.
Nội dung chính trong phần này bao gồm:
-

Khảo sát toàn bộ hoạt động khai khoáng, làm giàu, xử lý nƣớc, khí và
chất rắn của cơ sở khai khoáng.

-

Khảo sát toàn bộ tuyến thải để chọn vị trí thu mẫu hợp lý.

-

Chụp ảnh tƣ liệu, phỏng vấn và điều tra nhanh đối với ngƣời dân và cán
bộ cơ sở sản xuất cũng nhƣ địa phƣơng.


loại nặng bằng phƣơng pháp này tốn rất nhiều thời gian, hơn nữa đối với các kim
loại nặng có nồng độ thấp thì phƣơng pháp này cho kết quả kém chính xác.


Các phương pháp hóa lý

Các phƣơng pháp hóa lý hiện đang đƣợc sử dụng nhiều là: phƣơng pháp
quang, phƣơng pháp điện hóa và phƣơng pháp tách/ sắc ký


Phương pháp quang

Các phƣơng pháp quang đƣợc sử dụng để phân tích kim loại nặng thƣờng
là trắc quang, AAS, AES, AES – MS, AAS – MS. Đặc điểm chung của các
phƣơng pháp quang là thực hiện nhanh, thuận lợi, độ nhạy, độ chính xác cao có
thể phát hiện các nguyên tố vết từ 10 -6 mol/L đến 10-12 mol/L; tuy nhiên việc sử
dụng các máy móc trong phân tích quang đòi hỏi ngƣời thực hiện có chuyên môn
cao, hơn nữa giá thành cao cũng là một hạn chế trong việc sử dụng rộng rãi các
phƣơng pháp quang.


Phương pháp điện hóa

Các phƣơng pháp điện hóa đƣợc sử dụng để phân tích kim loại nặng bao
gồm: phƣơng pháp cực phổ dòng một chiều, phƣơng pháp von – ampe hòa tan,
ngoài ra còn phƣơng pháp von – ampe hòa tan xung vi phân (DP – ASV). Tƣơng tự
nhƣ phƣơng pháp quang, phƣơng pháp điện hóa có thể xác định đƣợc nhiều kim
loại nặng, độ chính xác lên đến 10-9 mol/L. Tuy nhiên, việc áp dụng phƣơng pháp
này cũng gặp nhiều hạn chế do giá thành phân tích cao, quy trình phân tích đỏi hỏi
nhiều kinh nghiệm để tránh sai số trong quá trình phân tích.


Mực nƣớc tại các vị trí lấy mẫu khá nông (43 cm – 66 cm) nên việc lấy mẫu chỉ

cần thực hiện trực tiếp ở độ sâu ~ 20cm.
-

Sử dụng chai nhựa PE để thu mẫu nƣớc. Để thu mẫu trầm tích nghiên cứu thì sử

dung bộ dụng cụ lấy mẫu trầm tích nhãn hiệu “Wildconsin hand corer” tiến hành lấy
mẫu bùn ở tầng mặt ngay tại các vị trí lấy mẫu nƣớc. Đặt dụng cụ vào đáy trầm tích
và móc giữ phần đầu vào máy. Sau đó cuộn và kéo tự do để thu hồi mẫu. Ngay khi
ống đƣợc kéo lên, van rung sẽ bịt kín đáy của ống lấy mẫu. Ống này nằm dọc theo
đáy và dài từ 50-75 cm dƣới nƣớc.
 Vị trí lấy mẫu
2 loại mẫu nƣớc và trầm tích đƣợc thu ở các vị trí nhƣ sau
 Điểm xả thải đầu tiên sau quá trình khai thác, chế biến và xử lý của cơ
sở sản xuất.
 Các mẫu tiếp theo đƣợc lấy dọc theo Suối Bắc ra đến cửa sông Con để
xác định mức độ lan truyền và lắng đọng KLN.

Bảng 4 : Địa điểm các vị trí lấy mẫu

21


TT

Địa điểm lấy mẫu

Ký hiệu


T6

Cách điểm xả 3000m

N6, Đ6

T7

Chân cầu Nậm Tôn, cửa ra sông Con

N7, Đ7

 Bảo quản mẫu
-

Mẫu nƣớc sau khi lấy đƣợc tiến hành lọc ngay tại nơi thu mẫu và tiến hành bảo

quản mẫu theo TCVN 6663 – 3 :2008
Cụ thể là thêm 2ml HNO3 đặc/L(đƣa pH < 2) đối với các kim loại Cu, Pb, Zn, Fe,
Mn và As. Thêm 1ml HNO3 và 1mg K2Cr2O7 trên 1L nƣớc đối với Hg. Riêng Sn sẽ
đƣợc bảo quản bằng cách thêm 2ml HCl (đƣa pH < 2) để tiến hành phân tích thiếc
tổng số.
-

Các mẫu nƣớc sau khi đƣợc lọc và bảo quản thì cho vào hộp có chứa đá lạnh để

hạn chế sai số trong quá trình phân tích. Giữa các bình chứa mẫu có một lớp xốp
mỏng để ngăn cản sự va đập gây vỡ bình trong quá trình vận chuyển về phòng thí
nghiệm. Tại phòng thí nghiệm trƣớc khi phân tích thì tiến hành bảo quản mẫu ở t0 ≤

§iÓm lÊy mÉu T1

Hồ lắng 2

Tr¹m b¬m n-íc
mÆt

T3

Cầu Nậm Tôn
T4

T5

T6

T7

Hình 2 : Sơ đồ các vị trí lấy mẫu
2.2.5. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm [20]
Vì mục tiêu nghiên cứu của luận văn là sự lan truyền của kim loại nặng
trong nƣớc và sự lắng đọng trong đất /trầm tích nên các nghiên cứu trong phòng thí
nghiệm tập trung chủ yếu vào quá trình tiền xử lý mẫu và quy trình phân tích. Để có

24


đƣợc mẫu cho quá trình phân tích bằng AAS, các mẫu phải đƣợc chuyển sang trạng
thái hòa tan.
- Đối với kim loại nặng trong mẫu nƣớc: Sau khi bảo quản thì tiến hành phân tích

4

Máy hấp thụ nguyên tử (AAS) AA7000 của hãng Shimadzu

5

Bình khí Acetylen (độ tinh khiết >98%)

6

Máy nén không khí

7

Quạt hút

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status