ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN PHẠM TRƢỜNG SƠN
NGHIÊN CỨU SỰ LẮNG ĐỌNG VÀ LAN TRUYỀN
MỘT SỐ KIM LOẠI NẶNG TRONG NƢỚC THẢI TỪ
QUÁ TRÌNH KHAI THÁC VÀ LÀM GIÀU QUẶNG THIẾC Chuyên ngành: Công nghệ môi trƣờng
Mã số: 60 44 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐỒNG KIM LOAN Hà Nội - 2013
LỜI CẢM ƠN
1.2. Các kim loại nặng xuất hiện trong quá trình khai thác, chế biến
quặng thiếc và tác động đến môi trƣờng 6
1.2.1. Asen [3,6,15] 6
1.2.2. Thủy ngân [16] 6
1.2.4. Chì [6,15] 8
1.2.5. Kẽm [15,16] 8
1.2.6. Sắt [6,15] 9
1.2.7. Thiếc [14] 9
1.2.8. Mangan [14] 10
1.3. Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên 10
1.4. Các biện pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm kim loại nặng 13
1.4.1. Phương pháp kết tủa hoá học 13
1.4.2. Phương pháp trao đổi ion 13
1.4.3. Phương pháp điện hoá 14
1.4.4. Phương pháp oxy hoá - khử 14
1.4.5. Xử lý nước thải có chứa kim loại nặng bằng phương pháp tạo Ferit 14
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1. Đối tƣợng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 16
2.1.1. Đôi tượng nghiên cứu của đề tài 16
2.1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 16
2.1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 16
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài 16
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin 16
2.2.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 17
2.2.3. Các phương pháp quan trắc và phân tích KLN 17
2.2.4. Phương pháp lấy và bảo quản mẫu 19
2.2.5. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 23
2.2.5.1. Danh mục thiết bị, hóa chất cần thiết cho nghiên cứu 23
2.2.5.2. Phương pháp phá mẫu và phân tích 24
2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu 28
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. Sản lƣợng khai thác thiếc trên thế giới theo thời gian (nghìn tấn) 3
Bảng 2. Sản lƣợng khai thác thiếc qua các thời kỳ nhƣ sau (tấn SnO
2
) 4
Bảng 3 : Địa điểm các vị trí lấy mẫu 20
Bảng 4. Danh mục các thiết bị cần thiết cho nghiên cứu 23
Bảng 5 . Danh mục các hóa chất cần cho nghiên cứu 24
Bảng 6. Danh mục các mẫu chuẩn làm việc theo từng nguyên tố 26
Bảng 7. Thông số điều chỉnh máy theo từng nguyên tố 27
Bảng 8. Các điều kiê
̣
n đo phổ hấp thụ nguyên tử của thuỷ ngân 27
Bảng 10: Tải lƣợng các chất ô nhiễm trong nƣớc thải sinh hoạt 32
Bảng 11 : Hàm lƣợng kim loại nặng trong nƣớc 39
Bảng 12 : Hàm lƣợng kim loại nặng trong trầm tích 45
Bảng 13. Ngƣỡng chịu đựng KLN của cỏ Vetiver 54
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTNMT : Bộ tài nguyên môi trƣờng
KLN : Kim loại nặng
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
BYT : Bộ Y tế
WHO : Tổ chức y tế thê giới
QĐ : Quyết định
HĐTLKS : Hội đồng trữ lƣợng khoáng sản
1
MỞ ĐẦU
Công nghiệp khai khoáng vẫn đƣợc xem là một ngành công nghiệp mũi nhọn
đóng góp một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nƣớc ta. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác khoáng sản nói chung và quặng thiếc
nói riêng đã gây ra rất nhiều tác động xấu tới môi trƣờng cũng nhƣ ngƣời dân khu
vực xung quanh. Những tác động tiêu cực này đầu tiên phải kể đến việc phá rừng để
khai thác quặng và làm đƣờng giao thông, tiếp theo đó là các hoạt động khai thác
gây ô nhiễm không khí và ô nhiễm môi trƣờng nƣớc trong đó có ô nhiễm KLN.
Hiện nay, việc khai thác quặng và hiện trạng ô nhiễm nƣớc ở khu vực khai
thác, chế biến quặng thiếc tại xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đang
diễn ra hàng ngày với mức độ rất nghiêm trọng. Nhiều đơn vị khai thác quặng thiếc
tại các dãy núi cao ở các xã Châu Hồng, Châu Thành, Châu Quang, Châu Tiến
thƣờng lén xả nƣớc thải bùn từ trên núi xuồng tràn vào ruộng lúa, khu dân cƣ hoặc
tràn qua khe suối khiến cho môi trƣờng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Một số đơn vị
khai thác tuy có xây dựng các bể xử lý nhƣng thực tế gần nhƣ các bể không đƣợc
hoạt động mà nƣớc thải chủ yếu thải trực tiếp ra môi trƣờng. Tại các khe đầu nguồn
nƣớc luôn bị đục và có màu đen thẫm, trong đó hàm lƣợng asen khá cao do các đơn
vị khai thác đã sử dụng nƣớc trong quá trình tuyển thô (sơ bộ). Thêm vào đó việc
3
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. Tình hình và hiện trạng ô nhiễm do khai thác và chế biến quặng thiếc
1.1.1. Tình hình khai thác quặng thiếc [9]
Trên thế giới
Thiếc (Sn) là một trong những kim loại đầu tiên mà loài ngƣời đã phát hiện
đƣợc. Việc sử dụng Sn làm hợp kim với đồng đã trải qua một thời kì lâu dài và quan
trọng trong thời đại đồ đồng. Đồng đen cổ nhất đã đƣợc tìm thấy ở Ơfrat
(Messopotania) vào 3500 – 3200 năm trƣớc Công Nguyên. Vào khoảng 1800 – 1500
năm trƣớc Công Nguyên, ở Trung Quốc đã sử dụng rộng rãi đồng đen. Trong thế kỷ
18, ở Anh (mỏ Coocmuon), nam Trung Quốc, Bolivin, Liên Xô đã khai thác thiếc
với quy mô lớn. Sản lƣợng thiếc khai thác trên thế giới từ năm 1940 đến năm 2006
đƣợc thống kê trong bảng 1.
Bảng 1. Sản lượng khai thác thiếc trên thế giới theo thời gian (nghìn tấn)
Năm
1940
1957
1975
1991
2000
2005
2006
1941
1945
1950
1955
1960
1966
1971
1981
1991
1995
Sản
lƣợng
84
127
196
244,5
87
164
170
137
166
185
243
197
250
Từ 1910 đến 1914 thực dân Pháp đã khai thác ở Pia Oac (Cao Bằng) đƣợc
3.247 tấn Sn kèm theo 137 kg Au. Từ năm 1950 đến năm 1956 khai thác thủ công
đƣợc 440 tấn SnO
2
; 1957 – 1980 sản lƣợng khai thác ở vùng Pia Oac đạt 9.901 tấn
5
Ở Việt Nam [3, 14]
Qua phân tích mẫu đất của một số khu vực khai thác mỏ thiếc đã nhận thấy
tất cả đều là những điểm nóng về ô nhiễm kim loại nặng (KLN), điển hình là mỏ
thiếc xã Hà Thƣợng, Thái Nguyên và mỏ thiếc Quỳ Hợp, Nghệ An.
Phân tích sơ bộ nhận thấy đất ở xung quanh 2 mỏ thiếc này đều bị nhiễm As
nghiêm trọng, trong đó tại mỏ thiếc Hà Thƣợng hàm lƣợng As trong đất gấp 17 –
308 lần tiêu chuẩn cho phép. Mỏ thiếc tại Quỳ Hợp ,tình trạng môi trƣờng đất tại các
khu vực Châu Cƣờng, Bản Poòng, Thung Lũng I, Khê Đổ, Châu Tiến,… (Quỳ Hợp-
Nghệ An) cũng đã gây hậu quả làm thu hẹp diện tích đất canh tác và làm giảm chất
lƣợng đất của nhân dân địa phƣơng.
Ở mỏ thiếc Quỳ Hợp, dòng thải của nhà máy đƣợc thải trực tiếp ra một con
suối nhỏ gần đó. Hàm lƣợng As trong chất thải rắn rất cao (355 mg/kg) so với hàm
lƣợng đƣợc coi là không ô nhiễm trên thế giới (5- 20mg/kg).
Tại các mỏ thiếc, quặng đuôi thƣờng chứa arsenopyrit (1-2%), chalcopyrit
(1%) và pyrit (10- 15%). Các khoáng vật sulfua này bị oxi hoá tạo ra dòng thải axit
mỏ và giàu kim loại. Sự lan toả của As và sự ôxy hoá các kim loại độc hại nhƣ Cu,
Cd từ các nguồn rỉ dòng thải axit mỏ qua các đống thải cũng không hề đƣợc chú ý.
Có nơi nƣớc thải từ mỏ và xƣởng tuyển đƣợc thải trực tiếp ra cánh đồng lúa với hàm
lƣợng As gấp 30 lần nƣớc tự nhiên.
Đa phần, các mỏ quặng thiếc đều là mỏ đa kim chứa các kim loại nhƣ: Fe,
Au, Ag, Cu, Ti, W, Mo, Zn, Pb, Ga, Ta, Nb, In … Khai thác thiếc ngoài những yếu
tố ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng nhƣ tạo bụi, tiếng ồn, đào bới, vùi lấp phá hoại
cảnh quan, nó còn ảnh hƣởng rất xấu đến môi trƣờng nƣớc, thảm thực động vật và
sức khoẻ con ngƣời do trong quặng đa khoáng có chứa các nguyên tố rất độc hại nhƣ
asen, chì, molipđen… . Đặc biệt để phân kim vàng - một kim loại màu quý hiếm có
hầu hết trong quặng đa kim chứa thiếc, tại các khu khai thác, ngƣời ta đã sử dụng
phƣơng pháp xianua, sản phẩm nƣớc thải của phƣơng pháp này ra môi trƣờng có
Thủy ngân (Hg) là kim loại duy nhất tồn tại ở thể lỏng ở nhiệt độ thƣờng.
Thủy ngân đƣợc sử dụng nhiều trong lĩnh vực y tế nhƣ nha khoa hay chế tạo các
7
dụng cụ y tế. Tuy nhiên, nguồn thải thủy ngân ra môi trƣờng nhiều nhất là hoạt động
luyện kim của các khu mỏ và khai thác các quặng mỏ đa kim có chứa quặng thủy ngân.
Thủy ngân nguyên tố lỏng là ít độc, nhƣng hơi, các hợp chất và muối của nó
là rất độc và là nguyên nhân gây ra các tổn thƣơng não và gan khi con ngƣời tiếp
xúc, hít thở hay ăn phải. Thủy ngân là chất độc tích lũy sinh học rất dễ dàng hấp thụ
qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa. Các hợp chất vô cơ ít độc hơn so với hợp
chất hữu cơ của thủy ngân. Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhƣng thủy
ngân vẫn tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với môi trƣờng vì nó tạo ra các hợp chất hữu
cơ trong các cơ thể sinh vật.
Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ƣơng và hệ nội tiết và ảnh hƣởng tới
miệng, các cơ quai hàm và răng.
Hàm lƣợng thủy ngân cho phép trong nƣớc uống đóng chai là 6µg/L (QCVN
6-1:2010/BYT), trong nƣớc ngầm là 1µg/L (QCVN 09:2008/BTNMT).
1.2.3. Đồng [6,15]
Đồng (Cu) là một nguyên tố vi lƣợng có mặt trong thực vật, động vật và con
ngƣời. Trong cơ thể ngƣời, đồng tập trung chủ yếu ở gan và là thành phần của một
số protein và enzyme. Hợp chất của đồng rất cần thiết cho quá trình tổng hợp
hemoglobin và photpholipit.
Nguồn thải chính của đồng trong công nghiệp là nƣớc thải quá trình mạ và
nƣớc thải quá trình rửa, ngâm bể chứa đồng. Ngoài ra, khai thác và tuyển quặng
cũng là một nguồn thải đồng ra môi trƣờng, cá biệt ở các khu vực tuyển quặng nồng
độ đồng trong nguồn nƣớc có thể lên đến 1000 mg/L.
Đồng đặc biệt gây tính độc cao đối với hầu hết các động vật thủy sinh, chỉ với
nồng độ ≤ 0,1 mg/l đã gây ức chế sự phát triển của chúng. Đối với cá nƣớc ngọt, khi
nồng độ đồng chỉ là 0,002 mg/l thì cũng đã làm cho cá chết. Đối với con ngƣời, khi
hàm lƣợng đồng là 10 g/l thì sẽ gây tử vong, ở nồng độ 60 – 100 mg/l sẽ gây chóng
Kẽm là nguyên tố vi lƣợng cần thiết cho sự sống. Nó tham gia vào thành phần
của khoảng 300 enzym. Kẽm và hợp chất của chúng khá ít độc tính, chúng ít ảnh
hƣởng đến động vật đẳng nhiệt mà chủ yếu ảnh hƣởng đến động vật biến nhiệt. Khi
cơ thể hấp thụ khoảng 150 mg kẽm một ngày sẽ ảnh hƣởng đến chuyển hóa đồng và
9
sắt. Ở liều lƣợng 450 mg/ngày sẽ gây thiếu đồng và thiếu máu nguyên bào sắt. Khi
quá kiều kẽm gây giảm chức năng miễn dịch, buồn nôn, phát ban, mất nƣớc và loét
dạ dày. Nếu cơ thể hấp thụ lƣợng kẽm từ 2 – 4 g sẽ gây tử vong sau 10 – 48 giây.
Nồng độ kẽm cho phép của kẽm trong nƣớc sinh hoạt ở Việt Nam là 3 mg/l
1.2.6. Sắt [6,15]
Sắt (Fe) là nguyên tố đƣợc sử dụng từ xa xƣa và có mặt nhiều thứ tƣ trên trái
đất. Hàm lƣợng sắt trong nƣớc tự nhiên dao động trong khoảng 0,01 – 26,1 mg/l.
Ngoài ra phụ thuộc vào các yếu tố khác nhƣ pH hay sự có mặt của CO
2
, O
2
, S
2-
và
các chất hữu cơ mà sắt tồn tại ở dạng phức có số oxy hóa +2 hoặc +3 có thể tan hoặc
kết tủa.
Sắt có vai trò quan trọng đối với cơ thể sống khi chúng liên kết ổn định bên
trong các protein kim loại nhƣng ở dạng tự do thì chúng khá độc với tế bào. Sắt đóng
vai trò quan trọng trong những protein tham gia vào việc chuyên chở oxy nhƣ
hemoglobin và myglobin.
Việc hấp thụ quá nhiều sắt sẽ gây ngộ độc, do chúng sẽ sản sinh các gốc tự do
gây độc. Với trẻ em 2 tuổi hấp thụ 1 – 3g sắt sẽ gây ngộ độc nguy hiểm, khi > 3g sẽ
gây chết. Đối với ngƣời lớn thì hàm lƣợng cho phép của sắt là 45 mg/ngày, trẻ em
dƣới 14 tuổi là 40 mg/ngày.
độc đối với cơ thể con ngƣời. Mangan đƣợc hấp thụ vào cơ thể thông qua hô hấp sẽ
làm tổn thƣơng phổi với các mức độ khác nhau nhƣ: ho, viêm phế quản cấp tính,
viêm cuống phổi, ù tai, run chân tay và tính dễ bị kích thích. Sự nhiễm độc mangan
cũng xuất hiện khi con ngƣời sử dụng nguồn nƣớc ăn uống có nồng độ mangan cao
trong một thời gian dài. Nhiễm độc mangan từ nƣớc uống làm giảm khả năng ngôn
ngữ, giảm trí nhớ, giảm khả năng vận dụng sự khéo léo của đôi tay và tốc độ chuyển
động của mắt.
Nồng độ cho phép của thiếc trong nƣớc uống theo WHO là 0,1 mg/L. Ở Việt
Nam thì tiêu chuẩn cho nƣớc sinh hoạt là 0,1 mg/L.
1.3. Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên [1,2]
a) Điều kiện về địa hình, địa mạo khu mỏ
Khu mỏ thiếc gốc Suối Bắc, huyện Quỳ Hợp nằm trong vùng địa hình đồi núi
cao, đỉnh cao nhất >700m, đỉnh thấp nhất 450m, chênh cao 250m. Địa hình hƣớng
11
cao dần về phía tây diện tích nghiên cứu và thấp dần về phía đông. Thân quặng
thiếc gốc có đầu lộ vỉa phân bố theo đƣờng đồng mức, độ cao 600m và cắm vào núi
cao với góc dốc 15÷ 20
o
. Địa hình dốc, mức độ chia cắt trung bình nên mỏ có điều
kiện thoát nƣớc tốt.
Các hiện tƣợng địa chất động lực xẩy ra trong khu mỏ chủ yếu là các hiện
tƣợng phong hoá, bào mòn, mƣơng xói, rãnh xói và một ít nơi có hiện tƣợng sạt lở
vách.
b) Điều kiện về khí tượng
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió
mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng IV đến tháng VIII) và gió mùa Đông Bắc
lạnh, ẩm ƣớt (từ tháng IX đến tháng III năm sau).
Nhiệt độ không khí
Tại khu vực nghiên cứu, từ tháng V đến tháng X, khí hậu nóng và ẩm, nhiệt độ
tổng lƣợng bốc hơi nhỏ nhất là tháng I. Tổng lƣợng bốc hơi cả năm duy trì ở mức trên
dƣới 861mm.
c) Điều kiện thủy văn và địa chất thuỷ văn
- Đặc điểm thuỷ văn:
Gần khu mỏ có 2 suối chính là Suối Bắc và Suối Mai với hƣớng song song với
phƣơng cấu trúc; Lòng suối rộng 310 m, đá gốc lộ tốt. Mùa khô các suối thƣờng ít
nƣớc, mùa mƣa lũ nƣớc chảy xiết gây trở ngại cho điều tra địa chất.
- Đặc điểm nước mặt:
Trong khu vực khai thác có 2 mạng lƣới khe suối. Các suối hầu hết có độ dài
ngắn (200- 600m), chiều rộng nhỏ (13m), độ dốc khá lớn (3035
0
). Suối Bắc chảy
qua phía nam thân quặng theo hƣớng tây bắc – đông nam. Lƣu lƣợng suối đo đƣợc
là Qmax=30.7 L/s (11/7/2013); Qmin= 0,005 L/s.
Loại hình hóa học của nƣớc suối: bicacbonat natri có độ khoáng hóa thấp
(0,33g/L-trạm TR.2) và pH= 6,8. Nƣớc suối có thể dùng vào mục đích sinh hoạt và
tƣới ruộng, không nên sử dụng vào mục đích ăn uống vì kết quả phân tích vi sinh
vật cho thấy lƣợng vi khuẩn gây bệnh vƣợt mức cho phép của Bộ Y tế ban hành [2].
Nhìn chung các suối ở khu vực khai thác đều có lƣu lƣợng nhỏ và không ảnh
hƣởng tới công tác tháo khô mỏ khi khai thác.
Trữ lượng và tuổi thọ mỏ.
Theo quyết định số 846/QĐ-HĐTLKS ngày 16/3/2012 của hội đồng đánh giá
về việc phê duyệt trữ lƣợng quặng và kim loại thiếc thì trữ lƣợng mỏ thiếc gốc suối
Bắc, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An nhƣ sau
Cấp
Trữ lƣợng (nghìn tấn)
Quặng
Kim loại Sn
122
698
- Tạo phức không tan hoặc ít tan với Cl
-
, CO
3
2-
, SO
4
2-
, S
2-
… 1.4.2. Phương pháp trao đổi ion
Dựa trên nguyên tắc của phƣơng pháp trao đổi ion dung ionit là nhựa hữu cơ
tổng hợp, các chất cao phân tử có gốc hydrocacbon và các nhóm chức trao đổi ion.
Quá trình trao đổi ion đƣợc tiến hành trong cột Cationit và Anionit. Các vật liệu
nhựa này có thể thay thế đƣợc mà không làm thay đổi tính chất vật lý của các chất
trong dung dịch và cũng không làm biến mất hoặc hoà tan.
333
338
0,981
14
Phƣơng pháp trao đổi ion có ƣu điểm là tiến hành ở qui mô lớn và với nhiều
loại kim loại khác nhau. Tuy vậy lại tốn nhiều thời gian, tiến hành khá phức tạp do
phải hoàn nguyên vật liệu trao đổi, hiệu quả cũng không cao.
1.4.3. Phương pháp điện hoá
Tách kim loại bằng cách nhúng các điện cực trong nƣớc thải có chứa kim
loại nặng cho dòng điện 1 chiều chạy qua. Ứng dụng sự chênh lệch điện thế giữa hai
16
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1.1. Đôi tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các kim loại nặng có mặt trong
nguồn thải ra môi trƣờng, xem xét mức độ tồn dƣ trong đất và lan truyền trong nƣớc
của kim loại nặng.
2.1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trƣớc tình hình khai thác và xả thải gây ô nhiễm môi trƣờng nhƣ hiện nay thì
cần phải quan tâm tìm hiểu mức độ ô nhiễm cũng nhƣ biện pháp để giảm thiểu tác
động do chất thải gây ra. Do đó, mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài gồm:
Đánh giá hiện trạng khai thác và chế biến quặng thiếc.
Đánh giá mức độ lắng đọng và lan truyền của một số kim loại nặng bao
gồm: As, Zn, Pb, Mn,Fe, Hg, Sn, Cu tại khu vực khai thác mỏ thiếc tại xã
Châu Hồng, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đề xuất các biện pháp giảm thiểu kim loại nặng và phƣơng án xử lý ô
nhiễm.
2.1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ tuyến thải của cơ sở khai thác và
chế biến quặng thiếc tại xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An từ khu khai
thác, làm giàu và dòng thải lỏng – rắn đến cửa sông Con.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin
Đây là một trong những phƣơng pháp cơ bản đƣợc thực hiện trong quá trình
nghiên cứu. Các số liệu về ô nhiễm và chất lƣợng môi trƣờng sau qua trình khai
khoáng và quy trình hoạt động khai khoáng, làm giàu của cơ sở khai khoáng đều đã
phẩm đƣợc tách bằng phản ứng kết tủa để từ đó xác định đƣợc hàm lƣợng kim loại
nặng có mặt trong mẫu.