BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
MỞ ĐẦU
Luật Thuế Bảo vệ môi trường chính thức đi vào cuộc sống từ ngày 01/01/2012, với
mục đích khuyến khích phát triển kinh tế đi liền với giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường.
Đồng thời, góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong đầu tư sản xuất,
tiêu dùng các sản phẩm có tác động đến môi trường, mặt khác, tạo nguồn thu cho hoạt động
môi trường. Để có thể hiểu rõ hơn về Luật thuế Bảo vệ môi trường nhóm chúng em xin tìm
hiểu đề tài: “Phân tích nội dung cơ bản Luật Thuế bảo vệ môi trường – thực tiễn áp dụng
6 tháng đầu năm 2015 và đề xuất pháp lý của nhóm đối thông qua việc áp dụng đối với
mặt hàng túi nilon thuộc diện chịu thuế.”
NỘI DUNG
I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG.
1. Khái niệm và đặc điểm của thuế bảo vệ môi trường
a. Khái niệm
Thuế là khoản nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà
nước khi có đủ những điều kiện nhất định.1
Theo khoản 1 Điều 2 Luật thuế bảo vệ môi trường thì Thuế bảo vệ môi trường (BVMT)
là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử
dụng gây tác động xấu đến môi trường.
b. Đặc điểm
Thứ nhất, thuế BVMT là một loại thuế gián thu, tức người chịu thuế là người tiêu dùng
hàng hóa gây ô nhiễm môi trường - môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và
nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật; ô nhiễm môi
trường là sự biến đối của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật
môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hường xấu đến con người và sinh vật. 2 Người
nộp thuế là chủ thể sản xuất, nhập khẩu hàng hóa gây ô nhiễm môi trường. Quy định này là
phù hợp với nguyên tắc của chính sách bảo vệ môi trường là “người gây ô nhiễm phải trả ”
– người gây ô nhiễm môi trường phải có trách nhiệm chi trả chi phí khắc phục hậu quả ô
nhiễm môi trường; người được hưởng thụ môi trường trong sạch cũng trả chi phí cho việc
trường. Quy định như vậy nhằm hạn chế việc sử dụng tràn lan các hóa chất và không để lọt
những hàng hóa gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người và cũng phù hợp với
các thông lệ quốc tế. Căn cứ vào cách thức và mức độ gây ô nhiễm môi trường các nhà làm
luật đã chia 08 loại hàng hoá này thành 5 nhóm vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường, cụ
thể như sau:
Thứ nhất, nhóm xăng dầu (xăng trừ etanol, nhiên liệu bay, diesel, dầu hoả, dầu
mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn). Cụ thể hơn Điều 2 Nghị định 67/2011/ NĐ- CP quy định :
Đối với xăng, dầu, mỡ nhờn quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Luật Thuế bảo vệ môi trường
là các loại xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch. Đối với nhiên liệu hỗn hợp chứa nhiên liệu
sinh học và xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch, chỉ tính thu thuế bảo vệ môi trường đối với
phần xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch. Có thể thấy đây là các loại hàng hóa có chứa
những chất hóa học độc hại như chì, lưu huỳnh mà ngay cả khi chưa sử dụng thì các chất
chứa trong xăng dầu đã thải ra môi trường tác động xấu đến môi trường. Mặc dù có nhiều
tác hại nhưng ở Việt Nam xăng dầu đang được sử dụng trên phạm vi rộng, số lượng lớn cho
nên tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng đặc biệt là ở các thành phố, đô thị
lớn. Vì vậy, việc đưa các sản phẩm thuộc nhóm xăng dầu vào đối tượng chịu thuế sẽ
khuyến khích được người dân sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, hướng người tiêu dùng
đến loại năng lượng tái tạo, thân thiện với môi trường. Hơn nữa quy định này còn phù hợp
với thông lệ quốc tế bởi hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định nguồn nhiên liệu từ
TRANG 2
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
xăng dầu là đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường. Tuy nhiên mức thuế suất áp dụng với
nhóm hàng hóa này chưa hợp lý “ Trên thế giới, để đánh giá mức độ độc hại của nhiên
liệu, người ta dựa trên chất ô nhiễm SO2 được sinh ra từ việc đốt nhiên liệu để làm căn cứ
tính thuế. Như vậy, việc áp mức thuế suất cao hay thấp chủ yếu căn cứ trên hàm lượng lưu
huỳnh có trong loại nhiên liệu đó. Tuy nhiên, theo dự thảo Luật Thuế BVMT, hàm lượng
chuyển đổi công nghệ sản xuất, sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường.
3 Theo Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Đinh Tuấn, nguyên Chi cục Trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM.
TRANG 3
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
Thứ tư, nhóm túi ni lông thuộc diện chịu thuế. Cụ thể Điều 1 Thông tư
số 159/2012/TT-BTC sửa đổi, bổ sung TT 152/2011/TT – BTC hướng dẫn thi hành Nghị
định 67/2011/NĐ – CP quy định: “ Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) là loại túi,
bao bì nhựa mỏng có hình dạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng
sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin),
LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ
bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường kể từ
ngày được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi
trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Như ta đã biết, túi ni lông khi thải
vào môi trường phải trải qua thời gian rất lâu để phân hủy, có thể tới hàng trăm năm hoặc
không thể tự phân hủy được. Túi ni lông thải bỏ sau khi sử dụng sẽ tích tụ trong đất, suy
thoái môi trường đất. Khi bị phân hủy thì còn sinh ra các chất làm đất bị trơ, không giữ
được độ ẩm và dinh dưỡng cho cây trồng; với các loại túi ni lông màu, túi ni lông tái chế...
nếu sử dụng để chứa thực phẩm có thể khiến thực phẩm nhiễm các kim loại như chì,
clohydric gây hại cho não, ung thu phổi. Ở nước ta hiện nay, túi ni lông có giá thành thấp,
tính tiện lợi và quan trọng là phát miễn phí khi mua hàng, theo Bà Nguyễn Thị Thanh Mỹ,
Phó Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường TP Hồ Chí Minh: khảo sát tại TP Hồ Chí Minh
cho thấy, túi ni lông hiện được sử dụng rất phổ biến và trên mức cần thiết tại các chợ, siêu
thị, trung tâm thương mại; vì thế người tiêu dùng hầu như không có thói quen tái sử dụng
túi ni lông, việc xả thải túi ni lông sau lần sử dụng đầu tiên vào môi trường là rất phổ biến.
Bởi vậy, việc đưa loại hàng hóa này vào đối tượng chịu thuế nhằm nâng cao ý thức sử dụng
của người dân, gia tăng quá trình sử dụng, tái sử dụng sản phẩm, hạn chế tình trạng sử dụng
quy định như vậy nhằm đảm bảo tính khả thi trong giai đoạn đầu mới đưa loại thuế này vào
thực tiễn. Tuy nhiên trên thực tế ngoài 8 loại này còn có nhiều loại hàng hóa khác cũng tác
động xấu tới môi trường. Cho nên, Luật thuế BVMT quy định điều khoản mở tại khoản 9
Điều 3: “ Trường hợp xét thấy cần thiết phải bổ sung đối tượng chịu thuế khác cho phù hợp
với từng thời kỳ thì Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quy định ” ;
nhằm hạn chế trường hợp trên thực tế còn nhiều đối tượng hàng hóa khác đã tác động tiêu
cực đến môi trường chưa được đưa vào đối tượng chịu thuế như thuốc lá, chất tẩy rửa, chất
thải từ khai thác, chế biển ở các khu công nghiệp... Những sản phẩm này thực sự khiến môi
trường tiếp tục xuống cấp, là những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế
bền vững của nước ta trong thời gian tới nhưng lại không được liệt kê vào diện phải chịu
thuế.
3. Đối tượng không chịu thuế
Theo quy định tại điều 4 Luật thuế BVMT, đối tượng không chịu thuế BVMT được
chia làm hai nhóm:
Nhóm 1: Tất cả các hàng hóa không được quy định tại điều 3 Luật thuết BVMT, tức
là toàn bộ hàng hóa ngoài 8 loại hàng hóa chịu thuế;
Nhóm 2: là các sản phẩm hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT nhưng không
được sử dụng tại Việt Nam bao gồm:
- Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam
theo quy định của pháp luật;
- Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu theo quy định của pháp luật
- Hàng hóa do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh
xuất khẩu để nhập khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua hàng hóa thuộc
diện chịu thuế BVMT để xuât khẩu.
4 Xem. Điều 1 Nghị quyết 1269/2011/ UBTVQH 12 về biểu thuế bảo vệ môi trường
TRANG 5
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
công thức sau:
Thuế bảo vệ môi trường phải nộp = Số lượng đơn vị hàng hoá tính thuế × Mức thuế
tuyệt đối trên một đơn vị hàng hoá.
• Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:
-Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng
hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho;
- Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập
khẩu.
TRANG 6
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu thuế
là hàng hóa sản xuất trong nước hay hàng hóa nhập khẩu, quy định như vậy là để phù hợp
với đặc thù của sản xuất hàng hóa, tạo thuận lợi và hạn chế phát sinh chi phí trong quản lý
thu thuế bảo vệ môi trường.
• Mức thuế tuyệt đối:
BIỂU KHUNG THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
(Điều 8 Luật thuế bảo vệ môi trường)
Mức thuế
Số
Đơn
Hàng hóa
(đồng/1 đơn vị
thứ tự
vị tính
hàng hóa)
I
Than đá
1
Than nâu
tấn
10.000-30.000
2
Than an-tra-xít (antraxit)
tấn
20.000-50.000
3
Than mỡ
tấn
10.000-30.000
4
Than đá khác
tấn
10.000-30.000
III
Dung
dịch
Hydro-chlorokg
1.000-5.000
fluoro-carbon (HCFC)
IV
Túi ni lông thuộc diện chịu
kg
30.000-50.000
thuế
V
Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn
định vào ngân sách nhà nước mà không phụ thuộc vào sự biến đổi của giá cả hàng hóa chịu
thuế. Luật thuế tài nguyên môi trường quy định mức thuế cao nhất và thấp nhất đối với
từng đơn vị hàng hóa chịu thuế theo nguyên tắc hàng hóa nào có mức độ gây ô nhiễm môi
trường cao hơn sẽ phải chịu mức thuế cao hơn. Quy định như vậy sẽ khắc phục được nhược
điểm của thuế tuyệt đối là Nhà nước sẽ bị thất thu thuế khi giá cả của hàng hóa chịu thuế
tăng cao, suy giảm hiệu lực của thuế trên thực tế.
Căn cứ vào Biểu khung thuế bảo vệ môi trường do Quốc hội quy định, Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định mức thuế cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu thuế bảo đảm các
nguyên tắc sau:
-Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Nhà nước trong từng thời kỳ;
-Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến
môi trường của hàng hóa.
6. Quản lý thuế
Về cơ bản, việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường được
thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế. Tuy nhiên, trong luật quản lý thuế không
quy định cụ thể nên quản lý thuế bảo vệ môi trường được quy định ngay trong nội dung của
luật thuế bảo vệ môi trường.Cụ thể việc quản lý thuế được quy định tại điều 9, 10, 11 luật
thuế bảo vệ môi trường 2010: thời điểm tính thuế, khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ
môi trường.
* Về thời điểm tính thuế:
Để phù hợp với đặc thù của mỗi loại hàng hóa chịu thuế và thuận lợi cho công tác
quản lý thu thuế bảo vệ môi trường thì luật quy định cụ thể như sau:
– Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo thời
điểm tính thuế là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa.
– Đối với hàng hóa sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm
đưa hàng hóa vào sử dụng.
– Đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai hải
quan, trừ xăng dầu nhập khẩu để bán.
– Đối với xăng, dầu sản xuất hoặc nhập khẩu để bán, thời điểm tính thuế là thời điểm
sinh thuế phải nộp thì vẫn kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để theo dõi.
+Đối với hàng hóa nhập khẩu, hàng hoá nhập khẩu uỷ thác thì khai, tính và nộp thuế
theo từng lần nhập (trừ xăng dầu nhập khẩu để bán).Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế đối
với hàng hoá nhập khẩu cùng thời điểm với khai thuế và nộp thuế nhập khẩu, trừ xăng dầu
nhập khẩu.Thời hạn nộp thuế là thời hạn nộp thuế nhập khẩu theo quy định tại Luật Quản lý
thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
* Về hoàn thuế
Theo quy định của luật thuế bảo vệ môi trường, các trường hợp được hoàn thuế bảo
vệ môi trường là những trường hợp đã nộp thuế bảo vệ môi trường nhưng sai đó hàng hóa
chịu thuế được xuất khẩu ra nước ngoài, tức được tiêu thụ ngoài thị trường việt nam, nên
không có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Cụ thể, người nộp thuế được hoàn thuế bảo vệ
môi trường đã nộp trong các trường hợp sau:
+ Hàng hóa nhập khẩu còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu sự giám sát của
cơ quan Hải quan, được tái xuất khẩu ra nước ngoài;
+ Hàng hóa nhập khẩu để giao, cho nước ngoài thông qua đại lý tại Việt Nam;
TRANG 9
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
+ Xăng dầu để bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trên các tuyến đường
qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trên các tuyến đường vận tải
quốc tế theo quy định của pháp luật;
+ Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm
nhập, tái xuất;
+ Hàng hóa nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu ra nước ngoài;
+ Hàng hóa tạm nhập để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm theo quy
định của pháp luật khi tái xuất ra nước ngoài.
II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
Dưới đây là bảng chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước trong 6 tháng đầu năm 2015 do Bộ
Tài chính công khai.
Đơn vị: Tỉ đồng
Chỉ tiêu
6 tháng đầu năm 2015
Thu ngân sách nhà nước và viện trợ
446120
( I+II+III)
I
Thu thường xuyên
417747
I.1
Thu Thuế
369247
1
Thuế bảo vệ môi trường
9057
I.2
Thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế
48500
1
Thu phí, lệ phí ( cả phí xăng dầu)
7030
1.2 Tác động đến môi trường
Việc đánh thuế môi trường góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với
môi trường. Thuế môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô
chế sử dụng, thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc khử trùng kho thuộc
loại hạn chế sử dụng. Tuy nhiên, với vấn đề môi trường hiện nay thì 8 đối tượng này vẫn
chưa thể đủ mà cần phải bổ sung thêm một số loại đối tượng khác ví dụ như các chất tẩy
rửa trong công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ, đồ điện tử ( phát sinh chất thải điện tử),
cao su ( săm, lốp…);polime… và rất nhiều sản phẩm gây ô nhiễm môi trường nữa mà trong
luật chưa tính đến mới chỉ quy định chung chung tại khoản 9 điều 2 luật thuế bảo vệ môi
trường.
2.2. Căn cứ tính thuế.
Khác với các loại thuế khác, Luật thuế bảo vệ môi trường không quy định mức thuế
suất theo tỷ lệ phần trăm mà lại sử dụng thuế suất tuyệt đối. Vì mục đích chính của thuế bảo
vệ môi trường không phải là tạo ra nguồn thu ngân sách nhà nước mà nhằm hướng tới và
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, đồng thời phát huy được ưu điểm của dạng thuế suất
này là đơn giảm minh bạch trong việc thực hiện, đảm bảo ổn định nguồn thu Ngân sách
Nhà nước để chủ động trong kế hoạch bảo vệ môi trường. Tuy nhiên vì chỉ có một mức
tuyệt đối nên dẫn đến không có tính linh hoạt, khó điều chỉnh khi có vấn đề xảy ra.
2.3. Mức thuế bảo vệ môi trường
Luật hiện hành xác định tính thuế bảo vệ môi trường theo mức thuế tuyệt đối để đơn
giản, minh bạch trong thực hiện, ổn định số thu ngân sách. Tuy nhiên khoảng cách giữa
mức tối thiểu và mức tối đa áp dụng cho một loại hàng hóa là tương đối lớn nhất, dẫn tới
khả năng việc áp dụng sẽ không thống nhất đối với các doanh nghiệp cùng sản xuất mặt
hàng nhưng tại các địa phương khác nhau.
Ngoài ra đối với việc áp dụng mức thuế 4 tháng đầu năm- 1000đồng/lit đối với xăng
dầu vẫn còn nhiều hạn chế. Ông Đinh Tiến Dũng - Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết Việt
Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế, cắt giảm thuế xuất nhập khẩu theo lộ trình. Giá
xăng dầu thế giới giảm từ đầu năm đến nay. Điều này đã khiến số thu cho ngân sách nhà
nước giảm. Hơn nữa, giá xăng dầu bán lẻ tại VN hiện nay vẫn thấp hơn Lào, Campuchia
(khoảng 5.000-6.000 đồng), Trung Quốc, do đó xuất hiện tình trạng buôn lậu xăng dầu qua
biên giới. Để bù một phần giảm thu ngân sách, Chính phủ đề nghị tăng thuế bảo vệ môi
trường gấp ba lần.
2.4. Quản lý thuế
môi trường giảm hiệu quả của việc ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường. Vì vậy cần phải
tăng mức thuế đối với túi nilon thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật.
2. Một mặt tăng thuế với túi nilon thuộc diện chịu thuế thì nhà nước cũng cần phải
giảm các loại thuế khác để tạo sự cần bằng
Chính phủ và các chuyên gia chính sách cần phải dung hòa giữa mục tiêu tăng nguồn
thu và bảo vệ môi trường trong chính sách thuế. Chẳng hạn, tăng thuế túi nilon, đồng thời
phải giảm thuế giá trị gia tăng hay giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp người dân chấp
nhận rằng việc tăng thuế bảo vệ môi trường là hợp lý. Hơn nữa, chính sách thuế bảo vệ môi
trường phải minh bạch, rõ ràng, nguồn thuế thu được phải đưa vào những biện pháp nhằm
bảo vệ môi trường bằng những hoạt động thiết thực để người dân thấy được Nhà nước đã
trang trải nguồn thuế như thế nào. Để Luật Thuế bảo vệ môi trường thiết thực để người dân
thấy được Nhà nước đã trang trải nguồn thuế như thế nào. Để Luật Thuế bảo vệ môi trường
được người dân đồng thuận thì nó phải thể hiện sự minh bạch v à cân bằng trong thực hiện.
Theo đó, tiền thuế bảo vệ môi trường phải được đầu tư vào các dự án bảo vệ môi trường và
được tính toán theo hướng tăng loại thuế này thì giảm loại thuế khác…
TRANG 13
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
3. Nhà nước cầnquan tâm và ban hành những chính sách hỗ trợ để các doanh nghiệp
chuyển dần sang việc sản xuất túi nilon thân thiện với môi trường thay vì vẫn giữ
“nghề cũ” là sản xuất túi nhựa, túi nilon không thân thiện với môi trường.
Chúng ta đều biết rằng Túi nhựa xốp (túi ni lông) phải trải qua thời gian rất lâu để
phân hủy (có thể tới hàng trăm năm) hoặc không thể tự phân hủy được. Túi nhựa xốp thải
bỏ sau khi sử dụng sẽ tích tụ trong đất gây suy thoái môi trường đất. Việc khuyến khích sản
xuất các sản phẩm thay thế thân thiện hơn với môi trường là rất cần thiết.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật thuế Việt Nam trường đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân
dân
Giáo trình Luật thuế Việt Nam trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, năm 2013
Luật thuế Bảo vệ môi trường 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật bảo vệ môi trường 2014
http://mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?
pers_id=2177092&item_id=80658228&p_details=1
http://www.baocamau.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=19487
2.
3.
4.
5.
6.
.
TRANG 15
BÀI TẬP NHÓM ĐỀ SỐ 13
TRANG 16