ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------------------
Nguyễn Thị Ngân
QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG MỎ THAN
MẠO KHÊ, QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60 85 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguyễn Đình Hòe
Hà Nội – 2010
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................1
1.1. Những vấn đề QLMT của khai thác than trên thế giới ........................................1
1.2. Những vấn đề QLMT của khai thác than Việt Nam ............................................4
1.3. Giới thiệu chung về mỏ than Mạo Khê ..............................................................17
1.3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên khu vực .........................................................17
1.3.2. Tổ chức quản lý mỏ than Mạo Khê .............................................................20
3.3.2.1 Giải pháp quy hoạch quản lý vùng về môi trường .................................54
3.3.2.2. Giải pháp về cơ chế chính sách .............................................................56
3.3.3. Xây dựng mô hình hệ thống QLMT theo tiêu chuẩn ISO 14001 ................58
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ....................................................................91
Kết luận..................... ................................................................................................91
Khuyến nghị……… ...................................................................................................92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................93
PHỤ LỤC................................................................ Error! Bookmark not defined.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất than là một ngành kinh tế quan trọng ở Việt Nam. Với sản lượng khai
thác 40 triệu tấn than/năm như hiện nay (trong đó có đến 70% sản lượng than được
khai thác tại vùng mỏ Quảng Ninh) và cùng với những bước tiến vượt bậc cả về quy
mô khai thác lẫn chất lượng sản phẩm đã đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sử dụng
than trong và ngoài nước, đáp ứng nhu cầu việc làm cho hàng vạn người lao động,
góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực và vùng miền. Tuy
nhiên, việc khai thác than lại phát sinh nhiều vấn đề tác động tiêu cực tới môi
trường như: gây lún đất, suy thoái nhanh tài nguyên rừng, bồi lắng lòng hồ, ô nhiễm
nguồn nước, làm phát sinh nhiều khói bụi và chất thải rắn… ảnh hưởng không nhỏ
đến sức khỏe và đời sống của người dân và các sinh vật ở các khu vực lân cận.
Mỏ than Mạo Khê là một trong những mỏ được đánh giá là có mức độ ảnh
hưởng xấu tới môi trường. Hàng loạt các giải pháp bảo vệ môi trường đã được thực
hiện bao gồm cả giải pháp quản lý và công nghệ nhằm khắc phục những tồn tại do
sản xuất than gây ra. Tuy nhiên môi trường vẫn bị tàn phá hết sức nặng nề. Bên
cạnh những bất cập về công nghệ thì công tác quản lý môi trường trong mỏ than
cũng bộc lộ nhiều thiếu sót.
kết luận và kiến nghị, phần tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Những vấn đề QLMT của khai thác than trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại hai quan niệm cơ bản về quyền sở hữu tài
nguyên khoáng sản:
Quan niệm thứ nhất coi “khoáng sản thuộc về chủ đất”. Theo đó, tài nguyên
khoáng sản là một phần không tách rời đất đai, bất kể khoáng sản đó có trên mặt đất
hay trong lòng đất. Quyền thăm dò, khai thác được cấp cho nhà đầu tư khoáng sản
thông qua các thỏa thuận cho thuê mỏ (các thỏa thuận thuê mỏ này không phải là
một thỏa thuận hành chính, mà là thỏa thuận giữa chủ đất và bên có hoạt động
khoáng sản trên đất hoặc liên quan đến đất). Hoa Kỳ là nước duy nhất áp dụng một
cách tuyệt đối và thống nhất quan điểm này [19].
Quan niệm thứ hai coi “khoáng sản thuộc về Nhà nước”. Quan điểm này được
thể hiện bởi hai đặc tính: xác nhận quyền sở hữu công cộng hay toàn dân mà được
đại diện bởi các cơ quan chính quyền đối với khoáng sản; cơ quan chính quyền cấp
phép thông qua các hợp đồng thuê để thăm dò, khai thác khoáng sản hay cấp phép
cho các nhà đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản. Nhìn chung, quyền sở hữu tài
nguyên khoáng sản ở hầu hết các nước trên thế giới đều thuộc về Nhà nước.
Than nói riêng và các loại khoáng sản khác nói chung được coi là sự ưu đãi mà
thiên nhiên chỉ dành cho một số quốc gia nhất định tùy theo điều kiện địa lý, địa
chất. Vì thế, nên đạo luật về khoáng sản không phải quốc gia nào cũng có. Một số
nước có tiềm năng khai thác than dồi dào như Canađa, Úc, Philippin, Chilê, Trung
Quốc,... pháp luật về khoáng sản rất hoàn thiện và được chú trọng, tuy nhiên mảng
môi trường thể hiện trong các luật còn nhiều bất cập:
Năm 1995 Philippin đã thông qua luật khai thác khoáng sản mới [12]. Luật
Khai khoáng Philippin quy định rằng cả đất công và đất tư, kể cả đất rừng đều có
thể được đưa vào khai thác mỏ. Luật này dường như cho phép thực hiện các hoạt
Ngoài ra, luật cũng không yêu cầu đặt cọc để khắc phục các tổn thất môi trường xảy
ra trong hay sau hoạt động khai thác.
2
Theo Luật Khai khoáng của Úc, để được cấp giấy phép thăm dò, chủ đơn cần
cung cấp thông tin đầy đủ liên quan đến các ảnh hưởng có thể xảy ra đối với môi
trường [12]. Các thông tin này bao gồm cả các biện pháp phục hồi dự kiến. Ở giai
đoạn thăm dò, luật không bắt buộc phải có ĐTM nhưng sẽ được yêu cầu nếu thấy
cần thiết. Luật Khai khoáng Nam Úc lại không hề có bất kỳ điều khoản nào liên
quan đến môi trường, cũng như không đề cập đến một đạo luật nào khác phải áp
dụng khi các vấn đề về môi trường bị vi phạm. Các yêu cầu về môi trường do Bộ
trưởng Bộ phát triển tài nguyên khoáng sản tùy ý quy định.
Có thể nói Hoa Kỳ là nước có khung pháp luật về môi trường hoàn thiện hơn
cả. Ở Hoa Kỳ, chủ sở hữu khoáng sản sẽ chủ động xin đăng ký quyền khai thác theo
Luật Khai khoáng chung 1872 đã sửa đổi [12]. Tư nhân có quyền bán, cho thuê
hoặc ký các thoả thuận khác như liên doanh liên quan đến khoáng sản mà họ sở hữu
hoặc kiểm soát. Mọi hoạt động khai khoáng, dù trên đất tư hay đất công, đều được
điều chỉnh bởi rất nhiều luật, quy định, quy chế, pháp lệnh của Liên bang, tiểu bang
hay địa phương. Chúng đề cập đến các vấn đề khác nhau kể cả BVMT, giảm thiểu
và phục hồi môi trường. Các văn bản quy định các hoạt động và các hạn chế liên
quan đến các vấn đề này do các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ ban hành ở
tất cả các giai đoạn của hoạt động khai khoáng.
30 năm qua, ngành than Hoa Kỳ đã đạt được các kết quả đáng khích lệ, tuân
thủ nghiêm ngặt các văn bản pháp luật, các quy định trong “Luật kiểm soát và hoàn
thổ mặt đất sau khai thác mỏ” có hiệu lực từ năm 1977. Các công ty khai thác mỏ đã
tự xác định hướng hoàn thiện công nghệ của mình một cách phù hợp theo quy định
của pháp luật. Việc thiết lập những vành đai cách ly và những kênh mương tháo
nước ở biên giới mỏ thuộc khu vực miền Đông là những sáng tạo được Ủy ban điều
1.2. Những vấn đề QLMT của khai thác than Việt Nam
1.2.1. Các vấn đề môi trƣờng liên quan đến hoạt động khai thác than
Hoạt động khai thác than bao gồm các khâu công tác chủ yếu sau: khai thác,
sàng tuyển chế biến, tàng trữ và vận chuyển than. Các khâu công tác này là nguồn
phát sinh những tác động xấu đến môi trường. Quá trình phát sinh ô nhiễm và
những tác động tới môi trường được khái quát trong hình 1.1.
4
Hình 1.1: Sơ đồ khái quát chung các khâu hoạt động trong quá trình khai
thác than lộ thiên, hầm lò và phát sinh nguồn ô nhiễm môi trường
KHAI THÁC
THAN
- Bụi
- ồn
- Chấn động
- Khí thải độc hại
Khoan, nổ
mìn
Nổ mìn
- Gây nứt nẻ, sụt lún mặt
đất (Đối với hầm lò)
- Bụi
- ồn
- Thay đổi cảnh quan
- Khí độc hại (đối với
- ồn
- Gây bụi
- Gây ồn
- Gây trôi lấp do bã sàng
- Làm ô nhiễm nước biển
gần bờ
- Bồi lắng đáy biển do bùn
than
- Gây trôi lấp, sa mạc
hoá
- Gây sạt lở
- Làm xấu chất lượng
nước mặt
- Làm ô nhiễm nước
ngầm
1.2.1.1. Ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn
Hoạt động khai thác than đang gây ô nhiễm môi trường nặng nề, nhất là vùng
than Quảng Ninh. Trong đó bụi là nhân tố có tác động lớn nhất đến môi trường
không khí của khu vực, phát sinh trong tất cả các công đoạn của hoạt động khai thác
và chế biến than. Hàm lượng bụi tại các khu vực khai thác, chế biến, vận chuyển
than thường xuyên vượt QCVN 05:2009/BTNMT gấp nhiều lần (bảng 1, phụ lục 1).
Hàm lượng bụi ở nhiều khu vực đô thị cũng vượt quá giới hạn cho phép gây ảnh
5
hưởng không nhỏ đến sức khỏe và đời sống của người dân khu vực (biểu đồ 1, phụ
môi trường làm suy thoái nguồn nước mặt và nước ngầm gây ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống các sinh vật thuỷ sinh và đa dạng sinh học các khu vực cửa sông, ven
biển, thoái hoá đất nông nghiệp và giảm năng suất cây trồng, phát sinh dịch bệnh.
Nhiều nhánh sông, suối, hồ, đập bị bồi lấp, mất nguồn sinh thuỷ và suy giảm
nghiêm trọng chất lượng nước như: các sông Vàng Danh, Diễn Vọng, Mông
Dương, các hồ nước khu vực huyện Đông Triều (hồ Nội Hoàng, Bến Châu, Khe
Ươn), v.v…[22]
Do tác động lâu ngày từ các hoạt động khai thác than trong đó có các hoạt
động khai thác than trái phép, một số hồ thuỷ lợi tại vùng Đông Triều của Quảng
Ninh đã bị chua hoá, gây khó khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp.
1.2.1.3. Những ảnh hưởng do khai thác, đổ đất đá thải:
* Biến đổi địa hình và cảnh quan
Những biến đổi mạnh mẽ nhất diễn ra chủ yếu ở những khu vực có khai thác than
lộ thiên, đất đá thải phần lớn đổ bãi thải ngoài. Trung bình mỗi năm sản lượng than đạt
40 triệu tấn than nguyên khai, đã thải ra khoảng 180 triệu tấn đất đá tạo nên những quả
đồi lớn như ở Cọc Sáu cao 280m, Nam Đèo Nai có độ cao 200m, Đông Cao Sơn cao
250m, Đông Bắc Bàng Nâu cao 150m và Núi Béo cao 140m v.v ...[16]. Việc khai thác
các mỏ than không theo thiết kế kỹ thuật thi công được phê duyệt, không thực hiện
hoàn nguyên môi trường nên phần lớn đã gây phá vỡ cảnh quan, thảm thực vật, tạo ra
các hố đất, mỏm đá nham nhở...
Nhiều moong khai thác lộ thiên như ở các mỏ Cọc Sáu, Hà Tu, Núi Béo... có
độ sâu từ -50 m đến -150 m dưới mực nước biển đã tạo nên những biến đổi lớn về
địa mạo khu vực, khó có thể hoàn nguyên môi trường sau khi kết thúc mỏ.
* Mất rừng
Tỷ lệ rừng che phủ bị suy giảm một cách nghiêm trọng do mở khai trường, đổ
thải và trôi lấp, do lấy gỗ chống lò,.... Diện tích rừng tự nhiên bị giảm mạnh nhất tại
các khu vực có khai thác than lộ thiên, có nơi tới 70 - 80% như phía Bắc thành phố
Hạ Long và thị xã Cẩm Phả. Hiện nay ở thành phố Hạ Long đất có rừng chỉ còn
8
Mảng xanh là hoạt động phục hồi môi trường, bảo vệ giữ gìn đa dạng sinh học,
cảnh quan thiên nhiên. Theo đó, các cơ sở khai thác than phải tuân thủ quyết định số
71/2008/QH-TTG ngày 29/05/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ký quỹ cải
tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.
Mảng nâu bao gồm các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và ứng
phó sự cố môi trường.
Mảng năng lực gồm các hoạt động tăng cường luật pháp và thể chế, nâng cao
nhận thức cộng đồng, xã hội hoá BVMT, tăng cường nguồn lực cho BVMT như
nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực, hợp tác quốc tế...
Như vậy, với việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế,
luật pháp... các cơ sở khai thác than sẽ tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân
bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và BVMT.
1.2.3. Một số văn bản pháp luật chủ yếu liên quan đến công tác BVMT áp dụng
cho hoạt động sản xuất than của các doanh nghiệp
Hệ thống văn bản pháp quy áp dụng để QLMT cho hoạt động sản xuất than
của các doanh nghiệp bao gồm các văn bản pháp quy của nhà nước và một số văn
bản về QLMT của ngành than được thể hiện trong bảng 1.1.
Bảng 1.1: Danh mục các văn bản pháp luật áp dụng cho
QLMT ngành than
TT
1.
2.
3.
4.
khoáng sản được Quốc hội thông qua ngày
14/6/ 2005
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc
“Phê duyệt Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quyết định số
5.
Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến 256/2003/TTg
năm 2020”
Quyết định của Bộ trưởng Bộ Khoa học,
Quyết định số
Công nghệ và Môi trường về việc ban hành
6.
35/2002/QĐ
các Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt
BKHCNMT
buộc áp dụng
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc Quyết định số
7. “Ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với
71/2008/QĐhoạt động khai thác khoáng sản”
TTg
Quyết định của TVN về quản lý công tác bảo Quyết định số
8. vệ môi trường và phòng chống sự cố môi 699/QĐ-TCCBtrường
ĐT
Quyết định của TKV về việc ban hành Quy QĐ3048/QĐ9.
chế Bảo vệ môi trường
HĐQT
Nghị định của Chính phủ về việc quy định
Nghị định
10. chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều 80/2006/NĐ –
luật Bảo vệ môi trường
CP
25/6/2002
29/05/2008
19/4/1999
12/17/2007
9/8/2006
12/31/2009
27/12/2005
13/06/2003
12/5/2004
18/12/2003
8/12/2008
trường chiến lược, đánh giá tác động môi
trường và cam kết BVMT
17.
Thông tư của BTNMT về việc ban hành quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia về Môi trường
9/22/2008
1.2.4. Công tác quản lý tài nguyên và môi trƣờng của TKV
Công tác quản lý tài nguyên và môi trường của TVN (nay là TKV) có sự
chuyển biến qua từng giai đoạn:
Giai đoạn 1994 – 1998 là những năm mới thành lập Tổng công ty nên đầu tư
cho lĩnh vực môi trường mới chỉ tập trung vào các hoạt động mang tính chất phong
trào, tuyên truyền giáo dục, các công việc như tưới nước dập bụi, nạo vét sông suối,
xử lý nước sạch, lập ĐTM.
Giai đoạn 1999 – 2001: Trong giai đoạn này ngoài các chi phí cho hoạt động
phong trào và các công việc mang tính thường xuyên, Quỹ môi trường Than Việt
Nam hình thành đã đầu tư cho các công tác khác như lập ĐTM, QTMT, xây dựng
các công trình khắc phục ô nhiễm môi trường mà chủ yếu là các đập, kè ngăn đất đá
trôi lấp, xử lý nước thải…. Các công trình khắc phục ô nhiễm môi trường nói trên
chỉ ở phạm vi mỏ. Cũng trong giai đoạn này, Quỹ môi trường Than Việt Nam đã
đầu tư cho các công trình khắc phục ô nhiễm môi trường do khai thác than theo thỏa
thuận với UBND tỉnh Quảng Ninh.
11
Quỹ môi trường Than Việt Nam hình thành trên cơ sở sử dụng 1% chi phí tính
thêm vào giá thành được Chính phủ cho phép và các nguồn huy động khác. Tổng
cộng từ năm 1999 đến năm 2005, Quỹ môi trường than Việt Nam đã thu được trên
415 tỷ đồng. Các hoạt động môi trường được chia thành 3 nhóm: trong ranh giới mỏ
do mỏ thực hiện; liên mỏ do TVN thực hiện và ngoài mỏ do TVN phối hợp với địa
phương thực hiện.
Giai đoạn 2002 đến nay: nhờ có sự tập trung nguồn kinh phí (quỹ môi trường)
công tác BVMT cũng được kế hoạch hóa. Tổng công ty có điều kiện tập trung xử lý
các dự án lớn, cùng với tỉnh Quảng Ninh thực hiện nhiều công trình khắc phục ô
1.2.5. Công tác quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động khai thác than
Công tác Quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác than dựa trên cơ sở các
Luật Khoáng sản, Luật đất đai, Luật Môi trường, Luật Tài nguyên nước. Bên cạnh đó
công tác này còn có mối liên quan với hầu hết các bộ luật khác như Luật Giao thông,
Luật Bảo vệ rừng v.v... và một số công ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam tham gia
ký kết như Công ước về Di sản thiên nhiên và văn hoá, Công ước về Biển v.v...
Căn cứ vào các kế hoạch, chính sách của Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi
trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh có trách nhiệm xây dựng các kế hoạch
hành động phù hợp với đặc điểm của từng địa phương trong tỉnh. Trong những năm
qua Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh và UBND các tỉnh có hoạt động khai thác than luôn có
những chỉ đạo sâu sát đối với công tác quản lý nhà nước trong khai thác than về 03
mặt công tác chính là quản lý đất đai, khoáng sản và BVMT. Nhờ có sự phối hợp
của các ngành, các địa phương có hoạt động khai thác than và sự phối hợp của các
doanh nghiệp thuộc TKV trong việc giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc,
công tác quản lý nhà nước về môi trường đã đạt được những hiệu quả đáng kể. Cụ
thể:
- Ban hành nhiều văn bản, quy phạm pháp luật và chỉ đạo đẩy mạnh công tác quản
lý TN&MT trong hoạt động khoáng sản.
- Chủ động lập kế hoạch phòng ngừa ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường
do hoạt động khai thác than gây ra; giải quyết kịp thời sự cố thiên nhiên, tai biến
môi trường trong khai thác than và đơn thư kiến nghị của nhân dân.
13
- Đã đầu tư có trọng điểm và thực hiện đạt hiệu quả nhiều công trình, dự án cải
thiện môi trường dân cư, sử dụng nguồn vốn 1% trích từ kinh phí đầu tư cho sản
xuất than của TVN. Từ Năm 2006, chủ động lập kế hoạch giải quyết những bức xúc
về môi trường tại các địa phương có hoạt động khai thác than, sử dụng nguồn thu
phí môi trường theo quy định tại Nghị định 137/CP của Chính phủ.
1.2.6. Những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý TN&MT ngành than
1.2.6.1. Tồn tại trong công tác QLMT của TKV
* Hệ thống QLMT trong ngành than vẫn chưa được hoàn thiện
- Hầu hết các doanh nghiệp có hoạt động khai thác than thuộc TKV đều bố trí
cán bộ phụ trách công tác BVMT nhưng chủ yếu là kiêm nhiệm và thuộc các phòng
như kế hoạch, đầu tư, kỹ thuật, an toàn.... Do đó, đội ngũ này không ổn định,
thường xuyên thay đổi vị trí công tác khiến cho công tác quản lý không liền mạch.
- Tại các đơn vị khai thác than hầu hết chưa có phòng chuyên trách về BVMT.
- Các cán bộ làm công tác môi trường trong Tổng công ty còn thiếu kiến thức
về công nghệ và kỹ thuật môi trường [22].
* Việc thực hiện quản lý, BVMT còn chưa sát sao, chặt chẽ
- Đã tiến hành QTMT nhưng phần lớn số liệu quan trắc của các đơn vị chưa
được tổng kết lập thành cơ sở dữ liệu để có thể sử dụng cho đánh giá sự biến động
tổng thể môi trường do hoạt động sản xuất than gây ra.
- Đã thực hiện lập báo cáo ĐTM khá đầy đủ nhưng các giải pháp đề xuất giảm
thiểu ô nhiễm và rủi ro về môi trường chưa được thực hiện đầy đủ, vẫn còn thụ
động trong việc tiến hành lập báo cáo ĐTM khi mở rộng sản xuất.
- Tiến độ thực hiện các công trình cải tạo môi trường đã và đang thực hiện
nhưng còn chậm do kiến thức và kinh nghiệm về công nghệ xử lý ô nhiễm còn non
yếu và thiếu thốn [22].
- Thiếu sự trao đổi kinh nghiệm, thông tin giữa các đơn vị tư vấn về môi
trường trong Tập đoàn.
15
1.2.6.2. Tồn tại trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước về môi trường
Công tác quản lý TN&MT trong hoạt động khai thác than của các tỉnh còn
nhiều thiếu sót cần tiếp tục được quan tâm giải quyết, đặc biệt là trong bối cảnh
ngành than có những bước phát triển tăng vọt về sản lượng, yêu cầu quản lý chất
của các lĩnh vực trong cùng một tổ chức chưa nhịp nhàng và đồng bộ.
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chưa được ban hành kịp thời như
các chỉ tiêu kỹ thuật, hướng dẫn thẩm định các dự án chuyên ngành, qui chuẩn kỹ
thuật địa phương về chất thải phù hợp với đặc thù của địa phương...
- Các cơ quan quản lý TN&MT và các ngành, các cấp chính quyền địa phương
trong tỉnh ít nhân lực và trình độ quản lý yếu, thiếu kinh phí, phương tiện, cơ sở vật
chất v.v…
Từ năm 2006, theo Nghị định 137/CP và 67/CP, tổng số phí môi trường và phí
nước thải công nghiệp thu được hàng năm từ hoạt động khai thác than đạt khoảng
200 tỷ đồng/năm, tương đương tổng kinh phí quỹ BVMT ngành than trong vòng 05
năm kể từ năm 1999 – 2004. Tuy nhiên để đảm bảo sử dụng đúng mục đích, có hiệu
quả nguồn kinh phí này cần tăng cường năng lực điều hành, quản lý nhà nước của
các cơ quan quản lý nhà nước liên quan.
Ngoài ra, theo quy định của Luật khoáng sản, các doanh nghiệp có khai thác
khoáng sản có trách nhiệm ký quỹ môi trường trước khi tiến hành khai thác. Đây
cũng là nguồn kinh phí rất lớn cần được vận động vào các hoạt động quản lý tài
nguyên và BVMT. Đến nay, do sự chưa đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp
luật và sự yếu kém về nhân lực của Sở Tài nguyên và Môi trường, mặt khác do
doanh nghiệp chưa xây dựng dự án đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường sau khai
thác nên chưa thực hiện trách nhiệm ký quỹ môi trường theo đúng quy định của
Nhà nước như đã đề cập ở trên.
1.3. Giới thiệu chung về mỏ than Mạo Khê
1.3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên khu vực
1.3.1.1. Vị trí địa lý
17
Mỏ than Mạo Khê là tên thường gọi của đơn vị khai thác than tại Mạo Khê.
có lượng mưa cao hơn sườn hướng Bắc.
Mùa đông khu vực mỏ thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Mùa
hè chủ yếu là gió Nam và Đông Nam. Tốc độ gió trung bình năm là 3 – 3,4 m/s. Do
đó những ngày nắng hanh, nhất là khi có gió mùa Đông Bắc tăng cường, bụi than có
thể bị phát tán diện rộng theo hướng gió này. Trong các đợt gió mùa Đông Bắc thời
điểm đầu đợt cũng hay xảy ra gió lớn và có thể tác động gây bụi nhiều tại bãi thải
và khai trường.
Trong khu vực không có sông suối lớn. Nước mưa, nước thải chủ yếu tập
trung chảy vào suối Non Đông (dài khoảng 2km, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây
Nam, lưu lượng đo được Qmax = 28930l/s và Qmin = 0,905l/s) đổ ra suối Cầu Lim
và ra sông Đá Bạc (hướng dòng chảy từ Tây sang Đông, đến Quảng Yên rồi đổ ra
biển).
19
Các hồ (hồ Củ Chi, hồ Vạn Tường, hồ Nội Hoàng, hồ Cầu Cuốn,...) chủ yếu
tập trung ở các vỉa than cánh Nam, về mùa khô thể tích chứa nước của các hồ giảm,
có hồ còn khô cạn.
1.3.2. Tổ chức quản lý mỏ than Mạo Khê
Mỏ than Mạo Khê chia làm 2 bộ phận: khối cơ quan và khối đơn vị sản xuất.
Trong đó, khối cơ quan bao gồm 450 người và khối đơn vị sản xuất gồm 4086
người. Bộ máy tổ chức của khối cơ quan bao gồm 18 phòng ban và một bộ phận
chuyên trách: Đảng ủy, công đoàn, thanh niên. Khối sản xuất bao gồm 22 phân
xưởng. Với số lượng cán bộ công nhân viên khá đông (4536 người) mỏ đã tiến hành
tổ chức sản xuất rất chặt chẽ với sự phân công công việc đến từng cán bộ, công
nhân trong Công ty. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh
mỏ Mạo Khê được thể hiện trong hình 1 phụ lục 3.
1.3.3. Điều kiện cơ sở hạ tầng và hoạt động sản xuất kinh doanh
Cơ sở hạ tầng tại mỏ than Mạo Khê được nâng cấp, cải thiện mạnh mẽ từ năm