HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
---------------------------------------
VÕ ANH TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG BẢO MẬT CỦA MẠNG
CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG CLUSTER VỚI
KỸ THUẬT CHỌN LỰA NÚT CHUYỂN TIẾP
VÀ NÚT TẠO NHIỄU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
---------------------------------------
VÕ ANH TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU NĂNG BẢO MẬT CỦA MẠNG
CHUYỂN TIẾP ĐA CHẶNG CLUSTER VỚI
KỸ THUẬT CHỌN LỰA NÚT CHUYỂN TIẾP
VÀ NÚT TẠO NHIỄU
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT VIỄN THÔNG
MÃ SỐ: 60.52.02.08
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN TRUNG DUY
trong phòng thí nghiệm thông tin vô tuyến của Học Viện Công Nghệ Bưu Chính
Viễn Thông (Wireless Communication Lab, PTIT-Tp.HCM). Bên cạnh đó em xin
cảm ơn các quý anh chị và các bạn khóa cao học 2014-2016 đã động viên, tạo điều
kiện cho em hoàn thành khóa học.
Cuối cùng em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quỹ phát triển khoa
học và công nghệ quốc gia (Nafosted, 102.01 – 2014.33) đã tài trợ và tạo điều kiện
để em có thể hoàn thành tốt luận văn này.
Tp.HCM, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả luận văn
Võ Anh Trung
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................................. I
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................................... II
MỤC LỤC ........................................................................................................................................ III
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT ........................................................ V
DANH MỤC HÌNH .......................................................................................................................VI
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 - LÝ THUYẾT TỔNG QUAN ........................................................................ 3
1.1 Bảo mật lớp vật lý................................................................................................................ 3
1.1.1 Khái niệm và ưu điểm của bảo mật lớp vật lý ................................................ 3
5.1 Kết luận ................................................................................................................................. 53
5.2 Các kết quả đạt được ........................................................................................................ 53
5.3 Hướng phát triển đề tài .................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................... 55
v
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
BR-BJ
Tiếng Anh
Best Relay-Best Jammer
Tiếng Việt
Nút chuyển tiếp tốt nhất-Nút tạo
nhiễu tốt nhất
BR-RJ
Best Relay-Random Jammer
Nút chuyển tiếp tốt nhất-Nút tạo
nhiễu ngẫu nhiên
CDF
Cumulative Distribution Function
TDMA
gian
RF
RR-RJ
Randomize-and-Forward
Ngẫu nhiên-và-chuyển tiếp
Random Relay-Random Jammer
Nút chuyển tiếp ngẫu nhiên-Nút
tạo nhiễu ngẫu nhiên
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Cấu trúc giao thức các lớp...................................................................... 5
Hình 1.2. Minh họa bối cảnh nghe lén trong mạng vô tuyến .................................. 6
Hình 1.3. Hệ thống mật mã của Shannon ............................................................... 7
Hình 1.4. Mô hình của Wyner trong giao tiếp bảo mật .......................................... 9
Hình 1.5. Cấu trúc tổ của mã wire-tap ................................................................. 11
Hình 1.6. Mô hình kênh cho việc tạo khóa bảo mật ............................................. 12
Hình 1.7. Mô hình truyền thông đa chặng dạng cụm (cluster network) ................ 17
Hı̀ nh 2.1.Mô hình được nghiên cứu trong luận văn ............................................. 21
Hı̀nh 2.2. Mô hình kênh truyền và giao thoa đồng kênh ....................................... 23
Hı̀ nh 2.3.Sự truyền dữ liệu ở chặng thứ nhất....................................................... 25
Hình 2.4. Sự truyền dữ liệu tại chặng cuối cùng .................................................. 29
kênh truyền giữa các nút trong các cụm này.
Gần đây, bảo mật lớp vật lý trong mạng vô tuyến đã trở thành chủ đề thu hút
nhiều tác giả. Ý tưởng cơ bản của bảo mật lớp vật lý là sử dụng các tính chất vật lý
của kênh truyền vô tuyến để đảm bảo giao tiếp bảo mật mà không cần dùng đến
việc mã hóa. Tuy nhiên, hầu hết các công trình công bố chủ yếu tập trung vào giao
thức một chặng hoặc hai chặng, sử dụng các phương pháp lựa chọn nút chuyển tiếp
tốt nhất để tăng cường dung lượng bảo mật. Một vấn đề khác là trong hệ thống giao
tiếp bảo mật dùng khuếch đại-và- chuyển tiếp thì các nút chuyển tiếp không đáng
tin đã được đánh giá. Tiếp đó, các giao thức chuyển tiếp hai chặng với các phương
pháp lựa chọn nút chuyển tiếp và nút tạo nhiễu khác nhau đã được để xuất và phân
tích. Những phương pháp này đã tăng cường đáng kể sự bảo mật của mạng vô
tuyến; tuy nhiên sự triển khai mà đòi hỏi sự đồng bộ hoàn hảo giữa các nút thì khó
2
thực hiện. Nhiều tác giả đã xem xét phương pháp chọn lựa nút chuyển tiếp và nút
tạo nhiễu trong mạng chuyển tiếp hai chiều, và kết quả thu được đã cho kết quả
vượt trội thông thường.
Theo hiểu biết tốt nhất của học viên, thì có rất ít các công trình nghiên cứu
công bố về chuyển tiếp đa chặng trong bảo mật lớp vật lý. Xác suất dừng bảo mật
của chuyển tiếp đa chặng đã được xem xét đến, tuy nhiên trong giao thức này,
chuyển tiếp phân tập tại mỗi chặng không được dùng để nâng cao hiệu năng hệ
thống. Việc nghiên cứu đánh giá xác suất dừng bảo mật và dung lượng bảo mật của
hệ thống mạng chuyển tiếp đa chặng dạng cluster với phương pháp lựa chọn nút
chuyển tiếp tốt nhất và kỹ thuật giải mã chuyển tiếp thông thường đã được đưa ra.
Tuy nhiên các công trình trên đều chưa có xem xét việc chọn lựa nút tạo nhiễu để
nâng cao hiệu năng bảo mật. Trong luận văn này, học viên xem xét chọn lựa một
cặp nút chuyển tiếp và nút tạo nhiễu tại mỗi cụm để đánh giá hiệu năng bảo mật của
mô hình này. Đồng thời luận văn này cũng xem xét đến thông tin trạng thái kênh
MIMO đến các từ mã điều khiển lỗi.
Với sự thành công vượt trội của mạng internet và sự triển khai rộng khắp của
mạng vô tuyến, ngày nay đã cho phép truy cập đồng thời vào các mạng giao tiếp
khác nhau. Tuy nhiên việc truy cập tràn lan vào các dịch vụ trực tuyến thường kèm
theo sự mở rộng của vấn đề bảo mật. Do đó, việc giao tiếp vô tuyến tự thân nó đã
trở nên nhạy cảm với sự nghe lén thông tin, từ đó nhu cầu giải pháp giao tiếp an
toàn càng trở nên cần thiết. Không giống như các phương pháp truyền thống là xử
lý bảo mật tại lớp ứng dụng, thì bảo mật lớp vật lý này hướng đến việc phát triển
các sơ đồ giao tiếp bảo mật hiệu quả, khai thác các đặc tính của lớp vật lý như
khoảng cách, độ lơi kênh truyền.
4
Bênh cạnh các vấn đề bảo mật chuẩn, thì hệ thống vô tuyến cũng đối mặt với
nhiều sự tấn công đặc trưng gây ra bởi sự mở rộng vốn có của môi trường vô tuyến.
Đầu tiên, các kênh vô tuyến dễ bị tổn thương do nhiễu kênh truyền. Một kẻ tấn công
dễ dàng gây nhiễu lên kênh giao tiếp vật lý và ngăn không cho người dùng hợp
pháp truy cập từ một mạng nào đó. Mối đe dọa này càng ngày càng khó xử lý vì nó
nhắm đến việc phá vỡ thông tin dữ liệu. Kế đến, nếu không có cơ chế xác thực hợp
lý, thì kẻ tấn công có thể đạt được việc truy nhập không cho phép vào các nguồn tài
nguyên mạng và bỏ qua hạ tầng bảo mật như tường lửa. Cuối cùng, vì bản chất sự
mở rộng của môi trường vô tuyến, nên nghe lén có thể thực hiện mà không cần
dùng đến các thiết bị công nghệ tiên tiến. Trên nguyên tắc, ngay cả người dùng hợp
pháp trong một mạng cũng đôi khi bị xem là kẻ nghe lén tiềm ẩn.
Giải pháp cho vấn đề bảo mật đã kể ở trên đã được nghiên cứu bằng cách
dùng các phương pháp chia theo lớp. Trước đây, phương pháp này đã được sử dụng
để đơn giản hóa thiết kế của các giao thức giao tiếp – với một chút xem xét về bảo
mật. Hình dưới đây miêu tả các lớp khác nhau được xem xét trong một giao thức
giao tiếp vô tuyến điển hình, và chỉ ra mục đích đặc trưng của chúng. Ví dụ, mã hóa
Hình 1.2: Minh họa bối cảnh nghe lén trong mạng vô tuyến
Trong hình trên, dung lượng kênh chính là C12, dung lượng kênh nghe lén là
C13, thì dung lượng bảo mật hệ thống được tính là CSEC = max (0, C12 – C13).
Khi các đầu cuối T2 và T3 không đặt cùng vị trí với nhau thì tín hiệu tần số
vô tuyến quan sát được tại ngõ ra của kênh chính và kênh nghe lén là thường khác
nhau. Sự khác nhau cơ bản này là do hiện tượng vật lý và trong giao tiếp vô tuyến
thì các ảnh hưởng chú ý nhất là fading và path-loss. Fading là hiện tượng tự can
nhiễu gây ra bởi sự lan truyền theo nhiều đường của sóng tần số vô tuyến; còn pathloss là sự suy hao của biên độ sóng theo khoảng cách. Do đó, nếu khoảng cách
truyền trên kênh chính mà nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách kênh nghe lén, thì sự
tách sóng tại đầu cuối T3 là rất khó khăn hơn so với đầu cuối T2. Ví dụ, nếu T1
quảng bá một chuỗi tín hiệu, thì tín hiệu nhận được tại T3 giảm rất nhiều so với
nhận được tại T2 mà sự suy giảm này ngăn cản T3 hiểu được nội dung của tín hiệu
phát đi ban đầu. Gần đây, các giải pháp bảo mật chống lại việc nghe lén hoàn toàn
xem xét kỹ lưỡng các ảnh hưởng này, và hoạt động như thể tín hiệu nhận được tại
nút nghe lén là giống như tín hiệu nhận được tại bộ thu hợp pháp. Ngược lại, ý
tưởng chính của bảo mật lớp vật lý là xem xét chi tiết rõ ràng sự khác biệt tại lớp
vật lý để bảo vệ tốt hơn các tin tức trao đổi trên kênh chính.
Vấn đề giao tiếp ba nút như hình trên sẽ được đánh giá theo các khía cạnh lý
thuyết – thông tin, và trong trường hợp này, bảo mật đạt được bởi việc khai thác lớp
vật lý được định lượng chính xác. Sự kết nổi bẩm sinh giữa bảo mật lớp vật lý và
7
bảo mật lý thuyết thông tin đã cung cấp động lực chính cho sự bàn luận này. Sự
nghiên cứu bảo mật lớp vật lý được xem xét độc quyền từ lý thuyết thông tin và mã
hóa, nhưng chúng ta biết rằng phạm vi của bảo mật lớp vật lý vượt trên cả những sự
xem xét này.
đặc tính này đảm bảo chiến thuật tốt nhất của Eve để khôi phục M để toán giá trị
của nó một cách ngẫu nhiên.
Bảo mật hoàn hảo thì khác với các khái niệm dùng trong bảo mật máy tính
trên vài phương diện. Nó không chỉ là yếu tố về lượng cho việc thông tin bị rò rỉ
đến nút nghe lén, mà còn độc lập với bất kỳ giả định liên quan đến công nghệ của
Eve hoặc công suất máy tính. Nói cách khác, sự truyền tin tức bảo mật đòi hỏi việc
chia sẻ từ khóa bảo mật kèm theo tin tức đó, cái đó sẽ giới hạn đáng kể sự hữu ích
của một hệ thống.
Trong hệ thống mật mã của Shannon, giả sử rằng các tin tức có các giá trị nhị
phân, thì sự bảo mật hoàn hảo đạt được với một sự mã hóa một lần đơn giản, bao
gồm việc thêm vào các bit khóa chuẩn K với các bit tin tức M modulo hai, đó là,
=
⊕ . Bộ giải mã dễ dàng truy ra M từ C và K bằng cách thêm vào từ khóa
K đến C vì C ⊕ K = M. Chú ý rằng vai trò của từ khóa K là đảm bảo bảo mật hoàn
hảo đến 2 lần. Đầu tiên là từ khóa ngẫu nhiên việc mã hóa tin tức. Thứ hai là nó
đảm bảo rằng từ phía Eve, các thuộc tính thống kê của C là giống của M.
b) Metric bảo mật lý thuyết thông tin
Yêu cầu sự độc lập thống kê chính xác giữa các tin tức và từ mã của bảo mật
hoàn hảo là quá khắt khe để theo dõi được. Do đó, như thường làm trong lý thuyết
thông tin, nó hữu ích khi giảm bớt các yêu cầu bảo mật và chỉ yêu cầu sự độc lập
thống kê trong sự tiệm cận. Đặc biệt, giả sử các tin tức M có thể phát đi một cách
bảo mật được mã hóa thành một từ mã của n ký tự Cn. Thay vì yêu cầu M là độc lập
thống kê của Cn, ý tưởng là đòi hỏi M phải độc lập với Cn với n đủ lớn.
Sự độc lập thống kê tiệm cận được nhận ra và nên được đo lường ít nhất theo
khoảng cách thay đổi hoặc theo độ bảo mật mạnh. Nó cũng có thể thiết lập nhiều
WYZ | X
Zn
Hình 1.4: Mô hình của Wyner trong giao tiếp bảo mật
Mục tiêu là nơi phát (Alice) giao tiếp tin tức với tốc độ R, đại diện bởi biến
ngẫu nhiên M ∈ {1,2 nR}, bằng việc mã hóa chúng vào các từ mã Xn của độ dài n và
phát Xn trên kênh quảng bá nhiễu không bộ nhớ, đặc trưng bởi xác suất chuyển vị
WYZ|X. Nơi thu quan sát tín hiệu Yn là nơi thu hợp phát (Bob), có thể ước lượng
đúng M của M với xác suất cao. Nơi thu quan sát Zn được xem như là nút nghe lén
(Eve), mà không có thu nhận thông tin về tin tức M. Việc mã hóa tin tức M được hỗ
10
trợ bởi việc tạo số ngẫu nhiên cục bộ M’ ∈ {1,2nR’}, mà giả sử chỉ có Alice mới
biết.
Các giả định nền liên quan đến mô hình này như sau:
- Mô hình kênh wire-tap khác so với hệ thống mật mã Shannon theo hai ý:
thứ nhất là mô hình bao gồm sự hiện diện của nhiễu trong kênh giao tiếp; thứ hai là
mô hình không bao gồm mã bảo mật chia sẻ giữa Alice và Bob.
- Tạo số ngẫu nhiên cục bộ M’ trong bộ mã hóa của Alice đóng vai trò tương
tự khóa trong một thời gian, vì nó làm ngẫu nhiên mã hóa của tin tức; tuy nhiên chú
ý là M’ chỉ được biết bởi Alice và không cung cấp bất kỳ thuận lợi nào cho Alice và
Bob so với Eve.
- Các thống kê của kênh và mã wire-tap được biết bởi các bên liên quan, và
Eve là nút nghe lén bị động thuần túy. Giả định là Alice và Bob có thể đặc tính hóa
các thống kê của kênh Eve là yếu kém của mô hình; tuy nhiên, các nghiên cứu gần
đây chỉ ra rằng các giả định này có thể được làm giảm bớt sự không chắc chắn về
kênh truyền và các bộ tấn công chủ động.
- Mô hình kênh wire-tap chỉ có thể thấy được vấn đề của độ riêng tư và hiểu
khác. Đặc biệt, Eve quan sát từ mã thông qua một kênh rằng nó sẽ xóa mỗi ký tự từ
mã với xác suất , và để cho ký tự không ảnh hưởng với xác suất 1- . Chúng ta đại
diện một vết xóa bởi ký tự “?”. Dung lượng bảo mật của kênh này là CS = .
Giả định rằng Alice mong muốn phát tin tức nhị phân M ∈ {0,1} với mã
chuẩn, đặc tính bởi việc mã hóa quyết định như sau:
0→
= (x0,1 ,…,x0,n) ∈ {0,1}n và 1 →
= (x1,1 ,…,x1,n) ∈ {0,1}n
Trung bình thì Eve có được sự quan sát với n(1- ) ký tự không xóa, không
nên cho phép nó tác động đến tin tức được gửi đi. Bằng các so sánh các từ mã
và
trong các vị trí không xóa, ta thấy chỉ có một cách để tăng cường đảm bảo rằng
các ký tự trong vị trí không xóa là như nhau cho
và
. Vì vị trí của các ký tự
không xóa là ngẫu nhiên, có nghĩa là hai từ mã phải bằng nhau và Alice không thể
phát hai tin tức phân biệt. Do đó, việc mã hóa phải chọn ngẫu nhiên một trong các
từ mã có thể cho một tin tức có trước; nói cách khác, mã hóa phải ngẫu nhiên.
12
K
WYZ | X
Zn
Hình 1.6: Mô hình kênh cho việc tạo khóa bảo mật
Mặc dù cấu trúc dựa trên phân giải kênh và dung lượng là có lẽ đơn giản
nhất, cấu trúc tổ luân phiên tồn tại mà không sẵn sàng phù hợp với các định nghĩa.
Các ví dụ của cấu trúc như vậy bao gồm cấu trúc dựa trên các trích xuất có thể đảo
ngược, mã hóa ghép, và matrice với các đặc tính băm.
Tạo khóa bảo mật từ kênh nhiễu:
Trong phần này, ta xét mô hình cơ bản thứ hai của bảo mật lớp vật lý, gọi là
mô hình kênh cho việc tạo khóa bảo mật. Mô hình này là mở rộng của kênh wiretap, mà trong đó có kênh một phía, công cộng, không nhiễu, hai chiều với dung
13
lượng không giới hạn. Mô hình này được giới thiệu bởi Maurer và AhlswedeCsiszár để phân tích ảnh hưởng của sự hồi tiếp trên giao tiếp bảo mật. Do sự có mặt
của kênh một phía không nhiễu đã loại bỏ vấn đề của giao tiếp đáng tin cậy, mục
tiêu của mô hình này là việc tạo bảo mật từ kênh truyền theo dạng của khóa bảo
mật. Như đã làm cho kênh wire-tap, chúng ta bắt đầu bằng mô hình và việc triển
khai cho bảo mật lớp vật lý, sau đó sẽ xét đến cơ chế cần thiết để tạo khóa bảo mật.
1. Mô hình kênh truyền cho việc tạo khóa bảo mật
Mô hình kênh truyền cho việc tạo khóa bảo mật được minh họa trong hình
trên. Mô hình bao gồm kênh quảng bá nhiễu không bộ nhớ với xác suất chuyển vị
WYZ|X , với tín hiệu đầu vào Xn được điều khiển bởi Alice và ngõ ra của nó là Yn và
bảo mật từ bên phát phải được nhận không thay đổi.
Chiến thuật tạo khóa bảo mật có thể rất giả tạo; ví dụ, mô hình cho
phép Alice và Bob trao đổi nhiều tin tức trên kênh công cộng giữa hai
sự truyền dẫn trên kênh nhiễu, và các ký tự phát bởi Alice trên kênh
nhiễu có thể dựa vào các tin tức nhận trước đó.
2. Cơ chế mã hóa cho việc tạo khóa bảo mật
Mục tiêu của phần này là xem xét các cơ chế mã hóa cần để trích xuất các
khóa bảo mật có thể chứng minh được. Có ba phương pháp được giới thiệu như sau:
Tạo khóa bảo mật từ các mã wire-tap
Phương pháp đầu tiên này là xây dựng chiến thuật tạo mã bảo mật sử dụng
kênh công cộng để tạo kênh wire-tap ảo. Mặc dù nguyên tắc áp dụng cho các kênh
tùy ý, ta tập trung cho kênh nhị phân nhằm đơn giản hóa vấn đề. Giả sử Bob mong
muốn phát bit U đến Alice thông qua kênh công cộng. Thay vì phát bit U một cách
trực tiếp, thì Alice đầu tiên sẽ tạo một bit ngẫu nhiên X để phát qua kênh nhiễu; Bob
và Eve có được giá trị quan sát tương ứng là Y và Z. Sau đó Bob cố ý sửa đổi bit U
của Bob và phát ký tự F = U ⊕ Y trên kênh công cộng. Theo đó khi nhận được F,
thì Alice sẽ cố gắng loại bỏ sự sửa đổi của Bob bằng việc ước lượng F ⊕ X = U ⊕
15
E1. Có thể thấy rằng chiến thuật tối ưu của Eve cũng ước lượng F ⊕ Z = U ⊕ E1 ⊕
E2. Với E1, E2 là các biến ngẫu nhiên Bernoulli và Y = X ⊕ E1; Z = X ⊕ E2. Do đó
mọi thứ diễn ra như thể Bob giao tiếp với Alice trên kênh wire-tap ảo, trong đó
Alice vẫn chịu nhiễu E1, và Eve chịu nhiễu E1 ⊕ E2. Nói cách khác, mặc dù kênh
vật lý thực tế giới thiệu nhiều nhiễu trên Bob hơn là trên Eve, thì việc sử dụng hồi
tiếp cho phép Alice và Bob giữ vững tình trạng này.
từ khóa ngẫu nhiên nhỏ cần cho việc xác thực lúc khởi đầu. Do đó, bảo mật lớp vật
lý có tiềm năng để đơn gian hóa một cách đáng kể việc quản lý từ khóa trong mạng
giao tiếp. Tuy nhiên, cần nhớ là khả năng của hệ thống bảo mật lớp vật lý cho đến
bảo mật lý thuyết thông tin phụ thuộc khá nhiều vào tính hiệu lực của các mô hình
giao tiếp dạng nền. Do đó, từ việc thiết kế hệ thống, thì bảo mật lớp vật lý nên được
xem như là phương tiện để bổ trợ hoặc đơn giản hóa các cấu trúc giao tiếp bảo mật
đang có.
1.2 Truyền thông đa chặng
1.2.1 Sơ lược truyền thông đa chặng
Trên thực tế, trong những mạng như mạng Ad-hoc, mạng cảm biến vô
tuyến, nút nguồn có thể rất xa nút đích, và sự truyền dữ liệu phải được thực
hiện thông qua nhiều chặng và nhiều nút trung gian.
Trong mô hình chuyển tiếp đa chặng, dữ liệu được truyền tuần tự theo mỗi
chặng và các nút chuyển tiếp sử dụng giao thức giải mã và chuyển tiếp (Decode and
Forward). Nghĩa là một nút chuyển tiếp phải giải mã được toàn bộ tín hiệu mà nó
nhận được từ nút trước đó và đồng thời thực hiện điều chế lại trước khi chuyển tiếp
đến nút tiếp theo. Do đó, nếu ở một chặng nào đó, gói dữ liệu bị mất thì trong
trường hợp này nút đích sẽ không nhận được gói dữ liệu. Nói cách khác, nút đích
chỉ có thể nhận được gói dữ liệu nếu sự truyền của gói dữ liệu trên tất cả các chặng
đều thành công. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là hệ thống chỉ đạt được
độ lợi phân tập bằng 1 và vì thế hiệu năng của chúng thấp nhất là trong môi trường
Rayleigh fading.
Để tăng cường độ lợi phân tập, mới đây truyền thông cộng tác cho các nút
trên tuyến từ nguồn đến đích được đề nghị sử dụng. Trong các tài liệu, các nút
chuyển tiếp sử dụng kỹ thuật giải mã và chuyển tiếp để truyền dữ liệu. Hoặc, các
nút chuyển tiếp sử dụng các kỹ thuật kết hợp để tăng cường hiệu quả giải mã tại các
17