5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng KH - CN hiện đại diễn ra như bão táp trong những
thập niên gần đây, đã tạo nên những biến đổi nhảy vọt trong đời sống nhân
loại. Kinh tế thế giới chuyển sang một thời kỳ phát triển mới với sự gia
tăng về chất của lực lượng sản xuất mang tính toàn cầu, dẫn tới sự ra đời và
phát triển của KTTT. Sự xuất hiện của KTTT trong bối cảnh toàn cầu hoá,
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực tạo ra cơ hội và thách thức mới đối với
các quốc gia trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng trên con đường
phát triển của mình. Điều đó đặt ra và đòi hỏi nước ta hiện nay phải tận
dụng cơ hội quí giá để phát triển KTTT, đẩy mạnh và thực hiện thắng lợi
mục tiêu CNH, HĐH mà Đảng ta đã đề ra, rút ngắn khoảng cách phát triển
kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhận thức sâu sắc
vấn đề này, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: "Phát huy
những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ
tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ
ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành
tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức"
[30, tr.91].
Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, sự
phát triển KTTT của nước ta tuy mới ở bước đi ban đầu nhưng đã và đang
tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quốc
phòng - an ninh và xây dựng quân đội. KTTT và phát triển KTTT ở Việt
Nam là vấn đề còn mới, đang là tâm điểm nghiên cứu của nhiều tổ chức và
các nhà khoa học. Quá trình phát triển của nó ra sao? tác động của quá
trình đó như thế nào đến xây dựng QĐNDVN, lực lượng nòng cốt trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN cũng là vấn đề phức tạp và chưa được làm
7
hạn chế nhất định, chưa đủ sức thuyết phục và chưa được xem là khái niệm chính
thống.
Một số tác giả khác tập trung bàn về vai trò của chính phủ, của GD - ĐT
trong KTTT như: "Các tổ chức học tập trong nền kinh tế toàn cầu dựa trên tri
thức" của Stan Davis, Jim Botkin, John Mathews, Riiel Miller và Gregory
Wurzburg; "Xã hội và chính sách công: Chính phủ, giáo dục và đào tạo trong nền
kinh tế dựa trên tri thức" của Lester C. Thurow, Hedrick Smith, Daniell Colardyn
và Marianne Durand - Drouhin. Vấn đề được bàn đến trong các công trình này
khá bổ ích, nó đặt ra yêu cầu đối với Chính phủ và nền GD - ĐT của một nước
cần phải có động thái và quyết sách cụ thể để thích ứng với KTTT. Điều đó mang
tính gợi mở và có một giá trị nhất định đối với nước ta hiện nay, song luận án
không đi sâu nghiên cứu vấn đề này.
Ở Việt Nam, vấn đề KTTT đã được nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm
nghiên cứu dưới góc độ lý luận. Trong thời gian qua đã có hai cuộc hội thảo về
KTTT, đó là: "Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" do Ban
Khoa giáo Trung ương, Bộ Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Bộ ngoại giao đã
phối hợp tổ chức tại Hà Nội, ngày 21 - 22/6/2000; "Kinh tế tri thức - khoa học và
thực tiễn ở Việt Nam" do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức
vào tháng 11/2003. Cùng thời gian này, nhiều cuốn sách đã được xuất bản: "Kinh tế
tri thức - Những khái niệm và vấn đề cơ bản" của Đặng Mộng Lân, Nxb Thanh
niên, Hà Nội, 2001; "Phát triển kinh tế tri thức rút ngắn quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá" do GS. VS Đặng Hữu (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2001. Nhiều bài viết được đăng tải: "Cơ sở lý luận về kinh tế tri thức" của GS. TS
Trần Ngọc Hiên, Tạp chí Khoa học xã hội, số234, tháng 6 năm 2002; "Những đặc
trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức" của PGS. TS Nguyễn Kế Tuấn, Tạp chí Kinh
tế và phát triển, số 63, tháng 9/2002... Một số bài tham luận, các cuốn sách và các
công trình nghiên cứu kể trên nhìn chung đều thống nhất cho rằng, sự ra đời của
KTTT là bước phát triển tất yếu của nhân loại, đưa ra được quan niệm của mình về
thiết thực giúp cho việc nghiên cứu và hoạch định chiến lược, chính sách phát
9
triển KTTT ở Việt Nam. Thế nhưng, vấn đề quan trọng hơn là phải có những
khảo sát, luận chứng xác thực về thuận lợi và khó khăn, điều kiện phát triển
KTTT ở Việt Nam và những kiến nghị ở tầm vĩ mô giúp Đảng và Nhà nước ta
hoạch định chiến lược, chính sách phát triển KTTT trong thời kỳ CNH, HĐH
chưa được nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo.
Một nhóm công trình nghiên cứu khác đề xuất những vấn đề mang tính
giải pháp nhằm phát triển KTTT ở Việt Nam hiện nay. Các công trình này cố
gắng làm rõ vai trò của GD - ĐT, sự cần thiết phải đổi mới và nâng cao chất
lượng GD - ĐT nhằm tạo nguồn nhân lực thúc đẩy KTTT phát triển; xây dựng
và phát triển thị trường KH - CN cũng được xem là giải pháp quan trọng trong
quá trình phát triển KTTT. Đáng chú ý hơn cả là các công trình: "Đổi mới, nâng
cao chất lượng công tác giáo dục đào tạo - Một biện pháp quan trọng để xây
dựng, phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam" của Lê Huy Thực, Tạp chí Khoa
học Chính trị, số 4/2003; "Mấy vấn đề giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực cho
phát triển kinh tế tri thức" của GS. TS Đặng Hữu, Tạp chí Thông tin công tác tư
tưởng lý luận, tháng 5/2004; "Thị trường khoa học và công nghệ, đặc trưng của
kinh tế tri thức" của GS Vũ Đình Cự, Tạp chí Cộng sản, số 20, tháng 10/2004.
Mặc dầu vấn đề trình bày trong các bài viết là các biện pháp cơ bản, quan trọng,
nhưng chưa đầy đủ. Cần phải có một hệ thống giải pháp mang tính toàn diện và
đồng bộ từ phá bỏ rào cản trong nhận thức và hành động của các cấp các ngành,
các địa phương và mỗi người dân đến việc đổi mới cơ chế chính sách, luật pháp,
thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo, quản lý điều
hành kinh tế - xã hội..., chưa thấy đề cập trong các công trình này.
Cũng bàn về KTTT, nhiều nhà khoa học khác lại tiếp cận nó từ góc độ
quân sự, quốc phòng: "Kinh tế tri thức với nền quân sự tri thức" của Chu Thiện
Bách, Thông tin chuyên đề, Trung tâm Thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi
13
- Góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển
KTTT và sự tác động của quá trình này đối với sự nghiệp xây dựng
QĐNDVN trong thời kỳ CNH, HĐH.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo và giảng dạy ở bộ môn
kinh tế chính trị và kinh tế quân sự trong các nhà trường quân đội.
8. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 3 chương 7 tiết, công trình của tác giả đã
công bố, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI
THỨC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÓ ĐẾN SỰ NGHIỆP
XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tri thức
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng kinh tế tri thức
1.1.1.1. Khái niệm kinh tế tri thức
Do sự phát triển như vũ bão của cách mạng KH - CN hiện đại vào những
thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, một hiện tượng kinh tế mới trên thế giới đã
xuất hiện, giải thích hiện tượng đó, dưới góc độ tiếp cận khác nhau người ta đã
dùng nhiều thuật ngữ, tên gọi khác nhau như: kinh tế thông tin (Information
economy), kinh tế số hoá (Digital economy), kinh tế mạng (Net work
economy), kinh tế học hỏi (Learning economy), kinh tế dựa vào tri thức
(Knowledge based economy), KTTT (Knowledge economy)...
Trong các thuật ngữ trên, KTTT được sử dụng phổ biến hơn cả. Để có sự
hiểu biết sâu sắc về KTTT, thiết nghĩ cần phải làm rõ khái niệm tri thức là gì? Tri
thức là sự hiểu biết đúng đắn của con người đối với bản thân và thế giới mà sự
14
định nghĩa: "KTTT là những nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối
và sử dụng tri thức, thông tin" [71]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến kết cấu của
KTTT, đồng thời nó cũng chỉ ra điểm mấu chốt trong sự phát triển của KTTT đó
chính là tri thức và thông tin. Một nền kinh tế đạt tới KTTT không chỉ dựa vào tri
thức để phát triển, mà quan trọng hơn phải sản xuất tri thức, phân phối và sử dụng
tri thức, xem đó là những ngành, những lĩnh vực kinh tế đặc thù tức là kinh tế
chuyên ngành với tiêu chí là ngành khoa học kỹ thuật cao, làm động lực thúc đẩy
nền kinh tế quốc dân phát triển. Tuy nhiên, định nghĩa này bộc lộ hạn chế ở chỗ nếu
cho rằng, KTTT tồn tại như ngành kinh tế riêng biệt, vậy thì các ngành khác không
dựa trên tri thức?
Từ định nghĩa đó đã dẫn đến sự hiểu lầm: phát triển KTTT chỉ là phát triển
các ngành kinh tế dựa vào tri thức, nghĩa là các ngành CNC. Trên thực tế, một số
nước đã chú trọng vào phát triển CNC mà không quan tâm đầy đủ đến việc sáng
tạo, phát triển và ứng dụng tri thức vào tất cả mọi lĩnh vực đời sống kinh tế. Vì lẽ
đó, năm 2000, APEC đã có sự điều chỉnh lại: "KTTT là nền kinh tế trong đó sự
sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng
trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế" [2]. Định nghĩa
này nhấn mạnh sử dụng tri thức ở tất cả các lĩnh vực kinh tế chứ không riêng một
ngành nghề nào.
Viện Khoa học xã hội Trung Quốc gần đây đã đưa ra một định nghĩa
về KTTT: "Nền kinh tế dựa trên tri thức là một loại nền kinh tế được hình
thành trên cơ sở sản xuất, phân phối, áp dụng và sử dụng tri thức và thông
tin" [95, tr.36]. Định nghĩa này gần với định nghĩa của OECD đã nêu ở
trên, mặc dầu có điểm đúng, song nó chưa phải là một định nghĩa hoàn
chỉnh, đủ sức khái quát bản chất, nội dung của KTTT.
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan niệm khác nhau.
Theo giáo sư, viện sĩ Đặng Hữu: "KTTT là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra,
16
50% GT), ta nói sản
phẩm có hàm lượng trí tuệ cao. Hiển nhiên điều này chỉ có nghĩa khi sản
phẩm được định giá, nghĩa là được thông qua quá trình trao đổi. Đối với một
ngành kinh tế hay toàn bộ nền kinh tế, tương tự như với sản phẩm nói ở trên:
Tổng GT = Tổng GTvl + Tổng GTct + Tổng GTtt
Khi mà tổng GTtt chiếm phần lớn của tổng GT, chẳng hạn > 50% thì
được gọi là nền hay ngành kinh tế đó là KTTT. Mặt khác, những ngành kinh
tế mà sản phẩm của nó có GTvl nhỏ hay bằng không, hàm lượng lao động
chân tay rất ít (nghệ thuật, nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tài chính, ngân hàng,
quảng cáo, xuất bản, y tế, các ngành chế tạo CNC như máy tính, viễn thông,
hàng không, vũ trụ, dược...) được xem là các ngành KTTT [1, tr.197]. Tuy
nhiên, cách tính trên vô hình chung đã quên yếu tố C 1 (máy móc), một thành
tố quan trọng khi tính toán giá trị sản phẩm.
17
kiến trúc thượng tầng vẫn hoàn toàn đúng đắn, mang tính cách mạng và khoa
học trong điều kiện phát triển KTTT. Mọi mưu toan làm lu mờ, phủ nhận lý
luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin cần phải được
đấu tranh vạch trần và bác bỏ.
Từ lâu, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định,
chính con người bằng bàn tay, khối óc của mình, bằng "sức mạnh đã vật hoá
của tri thức" đã tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội chứ
không phải là thiên nhiên ban tặng. C.Mác viết: "Thiên nhiên không chế tạo
ra máy móc, đầu máy xe lửa, đường sắt, điện báo... Tất cả những cái đó đều là
sản phẩm lao động của con người, là vật liệu tự nhiên đã được chuyển hoá
thành những cơ quan của ý chí con người chế ngự giới tự nhiên... Tất cả
những cái đó đều là những cơ quan của bộ óc con người do bàn tay con người
tạo ra, đều là sức mạnh đã vật hoá của tri thức" [60, tr.372]. Các ông còn quan
niệm rằng, lực lượng sản xuất xã hội không những bao gồm các yếu tố vật
chất, mà còn bao gồm cả yếu tố tinh thần, trước hết là tri thức. Ph.Ăngghen đã
viết: "Có hai yếu tố sản xuất hoạt động: giới tự nhiên và con người; con
người, đến lượt mình, lại hoạt động với những thuộc tính thể chất và tinh thần
của nó...", đồng thời ông còn khẳng định vai trò của yếu tố tinh thần trong sản
xuất và trong kinh tế chính trị học: "Dưới một chế độ hợp lý vượt lên trên sự xé
lẻ những lợi ích - như là điều đó đang diễn ra ở các nhà kinh tế học, - thì yếu tố
tinh thần cố nhiên sẽ thuộc về số các yếu tố sản xuất và sẽ tìm thấy vị trí của
mình trong chi phí sản xuất và trong kinh tế chính trị học" [5, tr.762]. Cũng
chính từ đó, C.Mác vạch rõ sự phụ thuộc của sản xuất vào khoa học và vai trò
ngày càng lớn của khoa học trong phát triển sản xuất: "Theo đà phát triển của
đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian
lao động và vào số lượng lao động đã chi phí hơn..., mà đúng ra, chúng phụ
19
thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là
Trước đây, tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, của cải vật chất được
đánh giá cao, được xem là những yếu tố hàng đầu của sản xuất; đồng thời còn
là lợi thế so sánh, là những yếu tố đem lại sự phồn thịnh cho mỗi quốc gia.
Ngày nay, KTTT ra đời đã làm cho những yếu tố này giảm xuống so với tiềm
năng trí tuệ, tinh thần, văn hoá của mỗi quốc gia. Ở đây, trí lực là nguồn tài
nguyên chủ yếu nhất, quan trọng bậc nhất trong phát triển kinh tế [14, tr.16].
KH - CN hiện đại trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thúc đẩy sự gia tăng
không ngừng của kinh tế - xã hội. C.Mác từng coi tri thức là nhân tố trực tiếp
của sản xuất, của lực lượng sản xuất. Mác viết: "Sự phát triển của tư bản cố
định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến [Wissen, Knowledge] đã chuyển
hoá đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp" [60, tr.372].
Ngày nay, tri thức càng trở thành nhân tố trực tiếp của quá trình sản
xuất, đầu tư vào sáng tạo và khai thác tri thức trở thành yếu tố then chốt cho
sự tăng trưởng kinh tế dài hạn. Nhiều nước phát triển rất chú trọng đầu tư
vào các lĩnh vực GD - ĐT, KH - CN, văn hoá - nghệ thuật. Các lĩnh vực này
không những là nền tảng của sự phát triển, mà còn đem lại giá trị kinh tế to
lớn đối với mỗi quốc gia. Với sự tham gia trực tiếp của tri thức khoa học vào
sản xuất đã làm cho đầu vào của sản xuất phải được tính toán lại, nếu trước
đây trật tự là: vốn + lao động + tài nguyên tự nhiên + tri thức, thì ngày nay
tri thức vượt trội hơn tất cả, nó trở thành số một và ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn trong quá trình sản xuất. Trong KTTT, việc sản xuất ra tri thức, thông tin
và công nghệ mới đóng vai trò hàng đầu. Ở xã hội công nghiệp, sản phẩm
22
công nghiệp là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nông nghiệp là một ngành sản
xuất không hề mất đi, nông sản vẫn là sản phẩm cơ bản mà nhân loại cần sử
dụng, nhưng địa vị của nông nghiệp trong toàn bộ kết cấu kinh tế - xã hội đã
có sự thay đổi. Công nghiệp thay thế cho nông nghiệp và trở thành ngành chủ
đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Tiến tới xã hội thông tin, tri thức thì
nhưng lại tạo ra 73 triệu việc làm mới [7, tr.6].
Các doanh nghiệp muốn thu được nhiều lợi nhuận, muốn chiến thắng trong
cạnh tranh đòi hỏi phải không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm. Vì
thế, sản xuất CNC trở thành loại hình sản xuất quan trọng hàng đầu, tiêu biểu cho
KTTT. Các doanh nghiệp sản xuất bằng CNC (có thể gọi là doanh nghiệp tri thức)
được phát triển nhanh chóng, trong đó khoa học và sản xuất được nhất thể hoá,
không có sự phân biệt giữa phòng thí nghiệm với công xưởng sản xuất. Những
người làm việc ở đây là công nhân tri thức (công nhân khoa học - công nhân cổ
cồn), họ vừa nghiên cứu, sáng tạo, vừa ứng dụng vào sản xuất. Các nước phát
triển nhất hiện nay có tới 70 - 80% lực lượng lao động không trực tiếp làm ra các
sản phẩm, họ chuyển sang làm các công việc liên quan đến di chuyển vật phẩm,
xử lý thông tin, cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Việc làm trong lĩnh vực sản
xuất trực tiếp giảm đi nhiều, thay vào đó là việc làm trong văn phòng và các dịch
vụ phục vụ sản xuất ngày càng tăng lên. Ngày nay và tương lai, chỉ có không
ngừng sáng tạo ra tri thức, biến tri thức khoa học thành công nghệ mới, tạo ra
nhiều sản phẩm tri thức (sản phẩm thông minh) đáp ứng nhu cầu không ngừng gia
tăng của con người, thì mới có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền
vững. Các nước đang phát triển không thể chỉ dựa vào lợi thế so sánh về lao động
rẻ để phát triển kinh tế. Giờ đây, lợi thế so sánh của một quốc gia là lao động có tri
thức và trí tuệ cao, những bí quyết công nghệ mới. Vì thế, suy đến cùng sở hữu
nhân tài và tri thức là sở hữu quan trọng nhất trong KTTT.
24
Hai là: Thông tin, tri thức biến đổi với tốc độ rất cao; xu thế toàn cầu
hoá, nhất thể hoá các nền kinh tế quốc gia và khu vực tăng nhanh với tính hai
mặt cạnh tranh khốc liệt và hợp tác hiệu quả.
Đây cũng là một đặc trưng nổi bật của KTTT. Nó thể hiện ở tốc độ xuất
hiện những thông tin và ý tưởng mới, tốc độ sản sinh tri thức, tốc độ ứng dụng
các phát minh khoa học vào thực tiễn, nghĩa là từ nghiên cứu phát minh khoa
nguyên vật liệu, máy móc, qui trình công nghệ, thông tin quảng cáo xuyên
quốc gia. Vấn đề liên kết, hợp tác trong SX - KD được tăng cường mạnh mẽ
hơn, đồng thời cạnh tranh cũng trở nên gay gắt ở cả địa hạt quốc gia và quốc
tế. Bởi vậy, thị trường của các doanh nghiệp trong thời đại KTTT là thị
trường toàn cầu. Trong KTTT, các công ty mới ra đời gắn liền với sự ra đời
của các sáng chế mới, công nghệ mới. Các công ty đang hoạt động muốn trụ
vững đòi hỏi công nghệ phải thường xuyên đổi mới và hiện đại hoá. Cuộc chiến
trên thương trường chính là cuộc chiến về công nghệ. Ai có công nghệ tốt hơn,
ứng dụng sớm hơn, người đó sẽ chiến thắng. Vì thế mà cuộc đua tranh kinh tế
giữa các công ty, các quốc gia trên thế giới ngày càng khốc liệt hơn, mặc dù có
nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn và rủi ro. Trong bối cảnh đó, thách
thức lớn nhất đối với các nước đang phát triển, chậm phát triển chính là sự lạc
hậu, yếu kém về tri thức và công nghệ. Đối với các nước phát triển, sự cạnh tranh
về công nghệ vẫn diễn ra gay gắt, mặc dù ở mức độ nào đó có sự hợp tác bắt tay
với nhau. Để tăng sức mạnh cạnh tranh, các công ty đi tới thoả thuận, hợp tác với
nhau để hợp thành công ty lớn. Có rất nhiều công ty khổng lồ, với giá trị hàng
chục, hàng trăm tỷ USD sát nhập, liên hợp với nhau trong thời gian gần đây để trở
thành những tập đoàn lớn chi phối cả thế giới. Tính riêng ở Mỹ, các công ty lớn đã
sát nhập hoặc mua lẫn nhau, như ngành ôtô thành ba tập đoàn lớn, ngành tài chính
kiểm toán thành 5 tập đoàn lớn, ngành thuốc lá thành 3 công ty; nền công nghiệp
quân sự Mỹ tập trung thành các tập đoàn lớn (Lockheed - Martin, Northrop Grumman, Raytheon - Hughes, Boeing, Mcdonnell Douglas, Textron - Bell). Như
vậy, trong KTTT, triết lý "cá lớn nuốt cá bé" vẫn diễn ra phổ biến. Các công ty
26
khổng lồ (công ty mẹ) lại được chia thành nhiều công ty con rải khắp thế giới. Các
công ty con được quyền chủ động, linh hoạt hơn và dễ thích ứng với sự đổi mới.
Ba là: KTTT tạo ra một xã hội thông tin rộng khắp, đa chiều.
Không riêng gì lĩnh vực sản xuất, nhờ ứng dụng những thành tựu mới
nhất của CNTT, nên các khâu của quá trình sản xuất, dịch vụ và quản lý được
sự hạn hẹp của biên giới quốc gia để hoà vào mạng toàn cầu.
Bốn là: Phương thức quản lý có sự thay đổi căn bản, xuất hiện nhiều mô
hình quản lý linh hoạt, dễ thích ứng với cái mới, khơi dậy sự năng động sáng
tạo của con người.
Thích ứng với sự phát triển của KTTT, trong quản lý vĩ mô có thể xuất
hiện các mô hình chỉ huy phi đẳng cấp, phi tập trung, mô hình mạng, trong
đó các mối quan hệ ngang được phát huy, nhiều khâu quản lý điều hành
trung gian cồng kềnh kém hiệu quả được loại bỏ. Có thể dự tính rằng, với sự
phát triển của KH - CN, nhất là CNTT cùng với trình độ nhân viên của các
cơ quan chính phủ được nâng cao, sẽ làm cho "chính phủ điện tử" trở thành
hiện thực. Có thể hiểu chính phủ điện tử là chính phủ làm việc với người dân
24/24 giờ trong ngày, 7/7 ngày trong tuần; người dân có thể thụ hưởng các
dịch vụ công cộng dù họ ở bất cứ đâu. Điều này có ý nghĩa là người dân có
thể lấy giấy phép kinh doanh, hộ chiếu, đóng thuế, làm giấy khai sinh...
24/24 giờ, 7/7 ngày trong tuần và ở bất cứ nơi nào, mọi rào cản về thủ tục
hành chính bị loại bỏ [102]. Hiện nay, ở một số quốc gia như Mỹ, Nhật, Tây
Âu đã triển khai mạnh vấn đề này. Một số địa phương của Việt Nam (thành
phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng...) đã xuất hiện một vài yếu tố của chính phủ
điện tử, đó là thực hiện công việc hành chính điện tử ở một số khâu, một số
lĩnh vực nhất định. Phương thức quản lý xã hội có sự đổi mới, sẽ khơi dậy, phát
huy tính linh hoạt, nhạy bén, sáng tạo của con người trong công việc. Người dân
nào cũng được thông tin kịp thời về các quyết sách của cơ quan nhà nước hoặc tổ
28
chức, đoàn thể liên quan tới họ và họ có thể có ý kiến ngay nếu thấy không phù
hợp. Việc tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, phúc đáp và giải quyết kiến
nghị của người dân nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều.
Năm là: Hình thành một xã hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt
đời; đầu tư cho giáo dục và khoa học chiếm tỷ lệ rất cao; nhân tố quan trọng
mỗi người. Kinh nghiệm quốc tế và "những con rồng châu Á" cho thấy, trong các
nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực con người giữ vai trò quyết định.
Thế nhưng, nguồn lực này chỉ phát huy hiệu quả trong trường hợp đã qua đào tạo,
có năng lực trí tuệ và sức sáng tạo, nắm bắt được tri thức khoa học, làm chủ ngành
nghề và công nghệ mới để xây dựng và phát triển đất nước.
Những đặc trưng trên đây chỉ là phác thảo bước đầu, trong tương lai, cùng
với sự phát triển hoàn thiện của KTTT những đặc trưng đó sẽ bộc lộ đầy đủ và rõ
nét hơn. Cần phải thấy rằng, KTTT ở mỗi nước, mỗi chế độ chính trị - xã hội khác
nhau có những những sắc thái và biểu hiện khác nhau. Mỗi nước xây dựng KTTT
trong một khuôn khổ thể chế chính trị - xã hội nhất định, bị chi phối bởi hoàn cảnh
đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội mang tính đặc thù, do đó việc hoạch định chiến
lược, chính sách, giải pháp, bước đi trong quá trình phát triển KTTT sẽ khác nhau,
vì thế KTTT ở mỗi nước có những biểu hiện khác nhau.
Hiện nay, KTTT đang trong quá trình phát triển, do đó, yêu cầu xây dựng hệ
thống tiêu chí mang tính khoa học, hoàn chỉnh và đồng bộ là rất khó khăn. Tuy nhiên,
dựa vào các đặc trưng trên, các tổ chức, các nhà khoa học trong và ngoài nước bước
đầu đã phác thảo sơ bộ một hệ thống tiêu chí về KTTT để đánh giá trình độ phát triển
KTTT của một nước.
1. Cơ cấu kinh tế: Các ngành KTTT thống trị
2. Cơ cấu giá trị gia tăng: Hơn 70% do lao động trí óc mang lại