TIỂU LUẬN lý LUẬN của các NHÀ KINH điển mác lê NIN và hồ CHÍ MINH về xây DỰNG QUAN hệ sản XUẤT TRONG THỜI kỳ QUÁ độ và sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM - Pdf 40

MỞ ĐẦU
Quan hệ sản xuất là một phạm trù kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với
lực lượng sản xuất, cùng cấu thành hai mặt thống nhất của một phương thức
sản xuất. Trong phương thức sản xuất, mỗi chế độ xã hội đều có kiểu quan hệ
sản xuất riêng và việc xây dựng quan hệ sản xuất đặc trưng đó dù thông qua
cải tạo hay xây dựng mới đều phải trên cơ sở vận dụng đúng đắn qui luật về
sự sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Nghiên cứu vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta, nhằm làm rõ những căn cứ lý‎ luận, thực tiễn để tiếp tục
khẳng định khả năng, trình độ đổi mới tư duy, hiệu quả vận dụng vào thực
tiễn và sự phát triển lý‎ luận Mác - Lênin của Đảng, Nhà nước về xây dựng
quan hệ sản xuất XHCN và sử dụng các TPKT trong quá trình phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Hiện nay, chúng ta xây dựng quan hệ sản xuất mới đã tạo ra được động
lực mạnh mẽ để giải phóng sức sản xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể
của đất nước và bối cảnh quốc tế hiện nay đang còn rất nhiều vấn đề phức tạp.
Nhiều ý‎ kiến cho rằng chúng ta xây dựng QHSX hiện nay là không đúng theo
lý‎ luận của chủ nghĩa Mác, là đang đi chệch hướng con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội. Với những lý‎ do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Lý luận của các
nhà kinh điển Mác - Lênin và Hồ Chí Minh về xây dựng quan hệ sản
xuất trong thời kỳ quá độ và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt
Nam” làm tiểu luận môn học.


2

NỘI DUNG
1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và chủ tịch Hồ
Chí Minh về xây dựng quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ
* Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về xây dựng quan hệ sản
xuất trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản


chất xúc tác, kích thích (kìm hãm), thúc đẩy (hạn chế) tốc độ, nhịp điệu của sản
xuất. Quan hệ sản xuất trong sự vận động và tác động qua lại với lực lượng sản
xuất hình thành phương thức sản xuất. Mối quan hệ tương tác này tác động đến
sự thay đổi và phát triển của phương thức sản xuất, do đó tác động đến sự phát
triển của xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích khoa học phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa và chỉ rõ nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất tất
yếu đòi hỏi phải thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản
xuất mới phù hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Trong lịch sử các tư tưởng kinh tế, lần đầu tiên C.Mác và Ph.Ăngghen

đã

nêu luận điểm về xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản và xây dựng chế độ sở hữu xã hội.
Trong các nghiên cứu của mình về chủ nghĩa tư bản, C.Mác cho rằng:
bất cứ ở đâu, giai cấp tư sản giành được chính quyền thì ở đó nó sẽ phá vỡ
được mọi quan hệ và mối liên hệ phức tạp phong kiến lạc hậu, gia trưởng, đập
tan được “tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của tính toán ích
kỷ” 2. Tính tất yếu của quá trình xoá bỏ chế độ tư hữu tư sản và thiết lập chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới chủ nghĩa xã hội được C.Mác khẳng
định rõ trong bộ “Tư bản”: “Sự độc quyền của tư bản trở thành những xiềng
xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc
quyền đó và dưới độc quyền đó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá
lao động đạt tới cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản
chủ nghĩa của chúng nữa”3. Chính nó đã mở ra khả năng giải phóng toàn bộ
thế giới khỏi sự thống trị của chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng xóa bỏ sở hữu
tư bản, xóa bỏ chế độ tư hữu tư sản. Vì trong xã hội tư bản, người sở hữu thì
không lao động, người lao động thì không được quyền sở hữu, xã hội vận
động trong hai cực đối lập ấy, cho nên chỉ có xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản thì
mới giải quyết được sự đối lập trong xã hội tư bản. Khi nghiên cứu về đảng

công hữu. Cho nên, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản... sẽ chỉ có thể cải tạo
xã hội một cách dần dần và chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng tư
liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ
tư hữu”. Luận điểm của Ph.Ăngghen về những biện pháp quá độ để dần đi
đến xoá bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,
trong đó công việc đầu tiên mà giai cấp vô sản phải thực hiện là “tạo ra một
chế độ dân chủ”, qua đó thiết lập quyền thống trị chính trị của mình và sử
dụng chế độ dân chủ đó “làm phương tiện để thi hành các biện pháp rộng rãi,
trực tiếp đánh bại chế độ tư hữu”. Ph.Ăngghen đã đưa ra 12 biện pháp chủ
4
5

C. Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội-2006, tr.616
Sđd C. Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội-2006, tr.616


5

yếu và nhắc nhở rằng phải xuất phát từ điều kiện cụ thể và không thể thi hành
tất cả các biện pháp đó ngay trong một đợt, biện pháp này sẽ dẫn đến biện pháp
khác và đảng vô sản phải có sách lược linh hoạt. Theo đó, nhiệm vụ này của đảng
vô sản sẽ được thực hiện trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
cộng sản. Đó là thời kỳ mà xã hội cũ đã qua, nhưng xã hội mới chưa đến. Vì vậy,
sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, giai cấp vô sản dùng chế độ dân
chủ nhân dân của mình làm phương tiện để cải biến kinh tế, xã hội và thủ tiêu các
quan hệ bóc lột của chế độ cũ, từng bước thiết lập quan hệ sở hữu công cộng với
nền sản xuất theo kế hoạch dưới sự điều tiết của nhà nước vô sản. C.Mác viết:
“Việc thay thế những điều kiện kinh tế của sự nô dịch lao động bằng những điều
kiện của lao động tự do và liên hợp, chỉ có thể là một sự nghiệp tiến triển trong
thời gian (đó là việc cải tạo kinh tế)... sau một quá trình phát triển lâu dài.” 6

mới của nhà nước; tổ chức lao động mang tính tập thể cho giai cấp vô sản;
nhà nước nắm các phương tiện vận tải lớn; thực hiện giáo dục không mất tiền;
xây dựng nhà ở xã hội; thực hiện vệ sinh môi trường đô thị; thực hiện chế độ
kế thừa tài sản bình đẳng... Đối với quản lý‎ kinh tế tập thể, Ph.Ăngghen
khẳng định trong thời kỳ quá độ nền kinh tế chủ nghĩa cộng sản chưa hoàn
thiện, chúng ta phải áp dụng nền sản xuất hợp tác xã coi như một giai đoạn
trung gian trên quy mô lớn.
Trong xây dựng chế độ quản lý‎ nền kinh tế, việc tăng cường củng cố
nhân sự bộ máy quản lý‎ có tầm quan trọng sống còn đối với phát huy vai trò
của chính quyền cách mạng trong tổ chức nền kinh tế mới. Ph.Ăngghen chỉ
rõ: Muốn không để mất một lần nữa quyền thống trị mà mình vừa giành được,
giai cấp vô sản, một mặt, phải xóa bỏ toàn bộ bộ máy áp bức cũ từ trước đến
nay vẫn dùng để áp bức mình; mặt khác, lại phải đề phòng những đại biểu,
viên chức của chính mình bằng cách tuyên bố tất cả những người này không
trừ một ai, đều có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào.10
Luận điểm C.Mác và Ph.Ăngghen về xây dựng chế độ phân phối lưu
thông hàng hóa trong nền kinh tế thời kỳ quá độ.
Xây dựng chế độ phân phối khoa học có vị trí quan trọng bảo đảm sự
đồng bộ ba mặt của quan hệ sản xuất, đồng thời bảo đảm tính liên tục và
nâng cao hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Đặc trưng về phân phối
cho tiêu dùng cá nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguyên tắc chung của
sự phân phối trong xã hội cộng sản là “phân phối sản phẩm theo sự thỏa thuận
C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb, CTQG, H. 2005, t.16, tr.264.
C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb, CTQG, H.2005, t.17, tr.724.
10 Trong Lời nói đầu viết cho lần xuất bản thứ ba bằng tiếng Đức tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”,
8
9


7

14 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb, CTQG, H. 1995, t.19, tr.34-35.
15 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb, CTQG, H. 1995, t.19, tr.35.
11

12


8

đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực
tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người
kia.”16 Theo đó, phân phối trong thời kỳ này vẫn chứa đầy mâu thuẫn và còn tồn
tại dấu vết của pháp quyền tư sản lấy bất bình đẳng làm tiền đề. Phải chăng những
luận điểm trên đây của C.Mác và Ph.Ăngghen cho chúng ta những chỉ dẫn xây
dựng chế độ phân phối đa hình thức trong nền kinh tế thị trường.
Phân phối là phạm trù kinh tế rộng gồm phân phối cho tiêu dùng cá
nhân và phân phối cho sản xuất. Ngày nay, khi nói đến lợi ích kinh tế hay
quyền con người, người ta chỉ thường nghĩ đến việc phân phối sản phẩm tiêu
dùng cá nhân hay phân phối kết quả sản xuất nói chung. Song, C.Mác đã chỉ
rõ: “Bất kỳ một sự phân phối nào về tư liệu tiêu dùng cũng chỉ là hậu quả của
sự phân phối chính ngay những điều kiện sản xuất; nhưng sự phân phối những
điều kiện sản xuất lại là một tính chất của chính ngay phương thức sản xuất.
Ví dụ, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên tình hình là những
điều kiện vật chất của sản xuất lại nằm ở trong tay những kẻ không lao động,
dưới hình thức sở hữu tư bản và sở hữu ruộng đất, còn quần chúng chỉ là kẻ
sở hữu những điều kiện người của sản xuất, tức là sức lao động. Nếu những
yếu tố của sản xuất được phân phối như thế thì việc phân phối hiện nay về tư
liệu tiêu dùng tự nó cũng do đó mà ra. Nếu những điều kiện vật chất của sản
xuất là sở hữu tập thể của bản thân những người lao động thì cũng sẽ có một
sự phân phối những tư liệu tiêu dùng khác với sự phân phối hiện nay” 17. Bài

chứ không phải là sang một hình thức sở hữu trung gian nào khác.
Chủ thể của sở hữu toàn dân dưới chủ nghĩa xã hội là “tất cả những
nguời lao động”, toàn thể xã hội, giai cấp công nhân, tất cả mọi công dân.
Căn cứ vào tình hình của nước Nga lúc bấy giờ, V.I.Lênin đã xem đối tượng
của sở hữu toàn dân mà chủ nghĩa xã hội cần phải tiến hành quốc hữu hoá là:
ruộng đất, hầm mỏ, nhà máy, công xưởng, kho tàng, hải cảng, đường sắt,
ngân hàng... nói chung là hết thảy mọi tư liệu sản xuất. Thực chất và mục
đích của việc xoá bỏ sở hữu tư nhân là mọi công dân có địa vị ngang nhau
đối với tư liệu sản xuất của toàn thể xã hội, có nghĩa là tất cả mọi công dân
đều có quyền làm việc ngang nhau đối với tư liệu sản xuất xã hội.
Thứ hai, đối tượng của việc xoá bỏ sở hữu tư nhân là tư liệu sản xuất
chứ không phải tư liệu tiêu dùng, là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chứ
không phải sở hữu cá nhân. V.I.Lênin cũng cho rằng chủ nghĩa xã hội cũng
không đòi hỏi điều gì giống như thế cả... không một người xã hội chủ nghĩa
nào lại đề nghị tịch thu tài sản của hàng chục triệu công dân.
Thứ ba, V.I.Lênin khẳng định bản thân việc xoá bỏ chế độ tư hữu mới


10

chỉ là sự cải tạo xã hội chủ nghĩa, là bước đi đầu tiên để tiến tới xã hội cộng
sản chủ nghĩa. Một xã hội không chỉ giới hạn ở việc tước đoạt các công
xưởng, nhà máy, ruộng đất, và tư liệu sản xuất, không chỉ giới hạn ở việc
kiểm kê, kiểm soát một cách chặt chẽ việc sản xuất và phân phối sản phẩm,
mà còn đi xa hơn nữa. Để thực hiện xã hội hóa tư liệu sản xuất theo chủ
nghĩa xã hội (thiết lập chế độ sở hữu toàn dân) phải áp dụng những biện pháp
và phương pháp khác nhau. V.I.Lênin cho rằng: “Thực hiện triệt để, hoàn
thành việc tước đoạt - hiện đã bắt đầu - bọn địa chủ và giai cấp tư sản, và
việc chuyển giao cho nước Cộng hòa Xô viết quyền sở hữu tất cả các công
xưởng, nhà máy, đường sắt, ngân hàng, tàu bè và các tư liệu sản xuất và

11

V.I.Lênin đã chỉ ra cần sử dụng những hình thức “trung gian”, những biện pháp
“quá độ” và cách thức thực hiện chúng, mà điều quan trọng có ý‎ nghĩa lý‎ luận
lớn là: “khẳng định tính thiết yếu của việc thực hiện các hình thức “quá độ gián
tiếp”, những “biện pháp trung gian”, “quá độ đặc biệt” ở một nước tiểu nông
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chủ trương phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, coi sự tồn tại các thành phần kinh tế trong thời kỳ
quá độ là một tất yếu khách quan. Mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai trò,
đặc điểm khác nhau, làm điều kiện và tiền đề cho nhau.
Nền kinh tế nhiều thành phần là nét đặc trưng của thời kỳ quá độ.
Chính vì thế, V.I.Lênin khẳng định rằng, đối với nước Nga đầu thế kỷ XX có
năm thành phần kinh tế: “1/ Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần
lớn có tính chất tự nhiên; 2/ Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số
nông dân bán lúa mì); 3/ Chủ nghĩa tư bản tư nhân; 4/ Chủ nghĩa tư bản nhà
nước; 5/ Chủ nghĩa xã hội.” 22
Trong đó, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò, tác dụng của kinh tế tư
bản nhà nước, đó là thứ chủ nghĩa tư bản mà 3/4 là chủ nghĩa xã hội.
V.I.Lênin coi chủ nghĩa tư bản nhà nước là chiếc cầu trung gian để đưa nước
Nga tiểu nông lên chủ nghĩa xã hội. Quan điểm về nền kinh tế nhiều thành
phần, về các hình thức kinh tế quá độ, đặc biệt là vấn đề sử dụng chủ nghĩa tư
bản nhà nước với tư cách là “sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa
xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội”, là “nấc thang lịch sử”, là “bước
tiến lên” chủ nghĩa xã hội. Kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hình thức sở
hữu còn phải phát huy vai trò của các hợp tác xã, V.I.Lênin cho rằng, hợp tác
xã là bộ máy duy nhất do xã hội tư bản tạo ra mà chúng ta nên sử dụng”23.
Luận điểm của V.I. Lênin về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu và
thành phần kinh tế đã không được những người kế tục sau này kế thừa và phát
triển, mà lại đưa nền kinh tế phát triển theo mô hình nền kinh tế chỉ huy.
- Quan điểm về tổ chức quản lý‎ nền sản xuất xã hội theo hướng kinh

nền tài chính và tiền tệ đúng, là cơ sở để xác lập mối quan hệ mới giữa giai
cấp công nhân và nông dân.
Cùng với phát triển kinh tế hàng hóa là việc chuyển đổi cơ chế quản lý‎
tập trung cao độ sang quản lý‎ dựa trên sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, sử
dụng các công cụ đòn bẩy kinh tế. Theo V.I.Lênin, việc phát triển quan hệ
hàng hóa - tiền tệ không thay thế cho kế hoạch mà chỉ thay đổi cách làm kế
hoạch. Chính điều này, V.I.Lênin đã xây dựng nên phương pháp luận cho
nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường và xây dựng thể chế kinh tế thị
24

V.I.Lênin Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1976.


13

trường trong quản lý‎ nền kinh tế thời kỳ quá độ lên CNXH.
V.I.Lênin cho rằng, có nhà nước công nông vững mạnh thì việc phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát triển kinh tế tư nhân chỉ có lợi
cho CNXH chứ không mất CNXH. Nội dung của cải cách bộ máy nhà nước là
xây dựng nhà nước pháp quyền từ lập pháp, hành pháp và tư pháp, đào tạo đội
ngũ cán bộ có phẩm chất và phương pháp công tác tốt, thành thạo, biết tổ
chức công việc và phải học tập và sử dụng những cái giá trị được nhân loại
tạo ra trong chủ nghĩa tư bản. V.I.Lênin kiên quyết phản đối việc đối lập tuyệt
đối giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, cần và có thể “lùi
một bước” và “thoả hiệp” với giai cấp tư sản bằng cách thu phục và trả lương
cao các chuyên gia tư sản là giải pháp tốt nhất xúc tiến CNXH. V.I.Lênin cho
rằng, không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học,
kỹ thuật và có kinh nghiệm tổ chức quản lý‎, thì không thể nào chuyển lên chủ
nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý‎ thức và có tính
chất quần chúng để đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất của chủ nghĩa

sản với nông dân để từ đó, mới có thể có sự phát triển kinh tế.
- Quan điểm về thực hiện chế độ phân phối theo lao động trong nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa.
V.I.Lênin khẳng định, trong chủ nghĩa xã hội ngoài việc chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất từng bước bị xoá bỏ, còn có sự thực hiện nguyên tắc làm
theo năng lực, hưởng theo lao động. Đó là thực hiện phân phối theo lao động
cho tiêu dùng cá nhân dưới chủ nghĩa xã hội; người nào có sức lao động mà
không làm thì không có ăn, số lượng lao động ngang nhau thì được hưởng số
lượng sản phẩm bằng nhau; những người lao động ở những điều kiện môi
trường khó khăn được hưởng phần thu nhập thích ứng. V.I.Lênin chủ trương:
“Phải thực hiện gấp rút, áp dụng trên thực tế và thí nghiệm chế độ trả lương
theo sản phẩm”26. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ hạch toán kinh tế nhằm
đánh giá đúng mức cống hiến, làm cơ sở bảo đảm mức hưởng thụ của người
lao động, lợi nhuận cho doanh nghiệp và thực hiện tăng năng suất lao động.
“Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất
cho thắng lợi của chế độ xã hội mới” 27. Đây là quan điểm có ý‎ nghĩa phương
pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở nước ta nhằm nâng cao hiệu quả và
hiệu lực quản lý‎ của nhà nước đối với nền kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ
26
27

V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2005, t.36, tr.231.
V.I.Lênin toàn tập, Nxb CTQG, H. 2005, t.39, tr.25.


15

nghĩa xã hội.
* Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng quan hệ sản xuất trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội

31 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.9, tr.588.
28
29


16

thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).
D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với
tư bản tư nhân để kinh doanh). Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo
và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ
nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản” 32. Đây là cơ sở phương
pháp luận quan trọng cho Đảng ta đề ra chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần có sự quản lý‎ của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo Hồ Chí Minh, bên cạnh xây dựng chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất,
cần thiết phải cải tạo quan hệ tổ chức quản lý‎. Bàn về vai trò cực kỳ quan
trọng của tổ chức quản lý‎, nếu làm không tốt thì kinh tế không thể phát triển
được, Người cho rằng: “Quản lý‎ một nước cũng như quản lý‎ một doanh
nghiệp: phải có lãi, cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ,
hoãn, huỷ bỏ, món gì đáng tiền, người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải
được tính toán cho cẩn thận''33. Quản lý‎ toàn diện cả đầu vào, đầu ra, ở mọi
khâu của quá trình lao động, ở tất cả các cấp từ trung ương đến cơ sở và tất cả
mọi thứ đều phải được tính toán cẩn thận... Song, muốn quản lý‎ tốt cần phát
huy nhân tố con người và vai trò của cán bộ quản lý‎ kinh tế. Thực hiện tốt ba
điều: Tất cả cán bộ lãnh đạo phải thật sự tham gia lao động chân tay. Tất cả
công nhân phải tham gia công việc quản lý‎ các tổ sản xuất, dưới sự lãnh đạo
của cán bộ các phân xưởng. Sửa đổi chế độ và qui tắc không hợp lý‎. Đội ngũ
cán bộ quản lý‎ kinh tế cần có đầy đủ các phẩm chất: Cần, kiệm, liêm, chính;
phải thật sự chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nâng cao cảnh giác bảo vệ xí
nghiệp; khéo đoàn kết và lãnh đạo công nhân… phải thật sự săn sóc đến đời

xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có ý‎ nghĩa phương pháp luận quan
trọng đối với hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực này ở nước ta. Một sự vận dụng
không đúng đắn phương pháp luận mác xít sẽ gây hậu quả lớn với sức tàn phá
khủng khiếp những thành quả cách mạng đã giành được.
2. Nội dung xây dựng quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta.
Xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ trọng yếu
của cách mạng nước ta. Đó là quan hệ sản xuất có bản chất tiến bộ trong lịch
sử, nó hơn hẳn quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa (với bản chất là bóc lột và ngày càng tỏ ra lỗi thời không phù hợp với
lịch sử). Nói cụ thể hơn, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa sẽ dần dần xóa bỏ
áp bức bóc lột và đưa mọi thành viên trong bộ máy sản xuất và cả xã hội đến
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.7, tr.244-245.
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.8, tr.545.
36 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.8, tr.341.
34

35


18

ấm no hạnh phúc. Đó chính là quan hệ sản xuất mà cả nhân loại phải mơ ước
và phấn đấu để đạt được. Tuy nhiên, để xây dựng được quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa còn phải trải qua nhiều giai đoạn khó khăn phức tạp. Nội dung
xây dựng quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện trên các vấn đề sau đây:
Một là, xây dựng quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất theo định
hướng XHCN với đầy đủ 3 chế độ cấu thành: chế độ sở hữu về tư liệu sản
xuất, chế độ tổ chức quản lý‎ sản xuất và chế độ phân phối sản phẩm xã hội.

đổi mới cơ chế quản lý‎ (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên)… thì
mới đẩy mạnh vai trò của sở hữu nhà nước, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh đặc biệt là chống thất thoát lãng phí của cải xã hội, đủ sức phát triển và
tham gia hội nhập quốc tế thành công.
Hình thức sở hữu tập thể ra đời là kết quả của quá trình tập thể hoá tư
liệu sản suất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.
Hình thức sở hữu tập thể với mô hình hợp tác xã giúp kết hợp hài hòa và làm
cho các quan hệ trong cơ chế thị trường không trở nên đối kháng nhau, loại
trừ nhau mà ngược lại hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Các hợp
tác xã được thành lập trên cơ sở tự nguyện, hợp tác, bình đẳng, đồng sở hữu,
tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên nhằm mang lại lợi ích cho thành viên
thông qua đáp ứng nhu cầu chung của thành viên về kinh tế, xã hội và văn
hóa. Đối tượng của sở hữu tập thể là phần tài sản (hiện vật hoặc giá trị) chung
do quá trình tích luỹ tạo nên, hoặc là phần tài sản được cho, biếu, tặng. Những
người góp phần tài sản của mình vào để hình thành tài sản chung vẫn giữ
quyền chủ sở hữu đối với phần tài sản riêng đã góp vào để hình thành tài sản
chung. Điều này đòi hỏi phải có cơ chế phù hợp để giải quyết hợp lý‎ mối
quan hệ lợi ích giữa từng thành viên với tập thể, nhằm huy động mọi nguồn
vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Sở hữu tập thể phải được xây dựng,
củng cố cả về quy mô, trình độ, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và được Nhà
nước cũng như các thành phần kinh tế khác hỗ trợ thông qua công ty cổ phần,
liên kết, liên doanh kinh tế.
Sở hữu tư nhân là cách gọi chung của các hình thức sở hữu, trong đó tư nhân
là chủ sở hữu tư liệu sản xuất. Đối tượng của sở hữu tư nhân là tài sản, vốn, tư liệu
sản xuất…của tư nhân đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong hình thức sở hữu
này, các quyền sở hữu và quyền sử dụng, quyền định đoạt…cơ bản thuộc về một
chủ thể. Sở hữu tư nhân gồm: sở hữu của tư bản tư nhân và sở hữu cá thể, tiểu chủ


20



21

Hai là, phát triển các thành phần kinh tế dùa trªn c¸c h×nh thøc së h÷u
kh¸c nhau trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, chúng ta thực hiện đa dạng các thành phần kinh tế. Các thành phần
kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền
kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh.
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế được xác lập trên cơ sở sự phát
triển cao của lực lượng sản xuất và hình thức sở hữu toàn dân. Kinh tế nhà
nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước; tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc
sở hữu toàn dân như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, ngân sách, các quỹ dự trữ
quốc gia, ngân hàng nhà nước, hệ thống bảo hiểm, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội; phần vốn nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
khác. Phát triển mạnh kinh tế nhà nước để nó thực sự giữ vai trò chủ đạo, “Có
vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và
phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; mở đường, thúc đẩy, tạo điều
kiện, tạo động lực cho phát triển mạnh các thành phần kinh tế khác.” Đồng thời
“Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật
chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng
nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

38

Từ thực tiễn khủng


tiểu chủ hoạt động dưới hình thức hộ gia đình mà cần thiết phải chú ý‎ khuyến
khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư phát triển theo quy định pháp luật, không hạn
chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn. Khuyến khích phát triển các
doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư nhân theo đúng luật
pháp và có lợi cho quốc kế dân sinh.
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, gồm những doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh có vốn của doanh nghiệp, cá nhân người nước ngoài
tham gia, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài. Tạo điều kiện thuận lợi để thành phần kinh tế này phát triển
trong các ngành hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm cho người
lao động.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status