Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ MINH HỌA
Bảng 2.1. Cơ cấu tự do hóa thương mại do ASEAN FTA đề ra……………………14
Bảng 2.2. Lịch trình đưa mặt hàng gạo vào tham gia CEPT.
………………………
17
Bảng 2.3. Lịch trình đưa vào mặt hàng cà phê tham gia CEPT..…………………18
Bảng 2.4. Lịch trình đưa mặt hàng thủy sản vào tham gia CEPT………………... 19
Bảng 2.5. Lịch trình đưa mặt hang sợi, vải, may mặc vào tham gia CEPT……… 20
Bảng 2.6. Lịch trình đưa mặt hàng rau quả tươi và rau quả chế biến vào tham gia
CEPT…………………………………………………………………………………...22
Bảng 2.7. Lịch trình đưa một số mặt hàng trong ngành thực phẩm chế biến vào
tham gia CEPT………………………………………………………………………...22
Bảng
2.8.
Lịch
trình
đưa
mặt
hàng
giữa Việt Nam và ASEAN 6 tháng đầu năm 2008 – 2012 …………………………..30
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
XNK
IL
GEL
TEL
PIS
SL/ HSL
NTB
NHÓM 4
ENGLISH
Export-import
Inclusive list
TIẾNG VIỆT
xuất nhập khẩu
danh mục các sản phẩm
giảm thuế ngay
General Exclusion List
danh mục các sản phẩm
loại trừ hoàn toàn
Temporary Exclusion List danh mục các sản phẩm
tạm thời chưa giảm thuế
Priority Integration Sector những mặt hàng thuộc 11
lĩnh vực ưu tiên hội nhập
Sensitive List/ Highly danh mục hàng nhạy cảm
nguồn tài liệu điện tử khác thì nhóm tác giả viết nên bài tiểu luận với kết cấu
gồm ba phần chính:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về ASEAN và hai hiệp định CEPT và
ATIGA
Chương 2: Phân tích tiến trình thực hiện các cam kết về thương mại hàng
hoá của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
Chương 3: Giải pháp giúp Việt Nam thích ứng với hiệp định thương mại
hàng hóa-ATIGA
NHÓM 4
Trang 3
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
NỘI DUNG
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về ASEAN và hai hiệp định CEPT và
ATIGA
1.1.
Giới thiệu chung về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN)
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8
tháng 8 năm 1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc, với 5 nước thành viên ban đầu
là In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po và Thái Lan.
Sau 40 năm tồn tại và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN ngày nay
đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia
Đông Nam Á (thêm 5 nước là Brunei, Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam),
là một thực thể chính trị-kinh tế quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương và là đối
tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn và các trung tâm
ưu thế về địa - chính trị, địa-chiến lược và địa-kinh tế, giữ vai trò cân bằng và
điều hòa lợi ích của các nước lớn ở khu vực.
ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực mở, hướng nhiều ra ngoài; đến
nay hợp tác nội khối chưa phải là ưu tiên cao nhất của các nước thành viên, chỉ
đạt mức độ và hiệu quả nhất định.
1.2.
Quá trình Việt Nam tham gia vào ASEAN
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và
đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ
năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội
nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối
ngoại. Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế,
phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Việt Nam luôn thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách
đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên
nhiều lĩnh vực. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
Ngày 28/7/1995 đã ghi một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập khu vực
và thế giới của Việt Nam cũng như trong quá trình phát triển của Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN ).
Việt Nam chính thức trở thành viên thứ 7 của ASEAN trong buổi lễ kết nạp trang
trọng với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bầu trời Brunie Darussalam
( nước chủ tich hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm 1995).
- Sau 16 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, 19952011), mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng
phát triển toàn diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và
chính trị của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn
đàn hợp tác khu vực và thế giới. Đối với Việt Nam, ASEAN luôn là đối tác
thương mại và đầu tư lớn nhất (riêng năm 2009, ASEAN là nhà đầu tư lớn
thứ 2 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ).
ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung -1995), AFTA ( khu vực thương mại tự do
ASEAN), ACFTA ( Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện đã được ký
giữa ASEAN và Trung Quốc-2002), AJFTA ( Hiệp định khung về hợp tác kinh
tế toàn diện đã được ký giữa ASEAN và Nhật Bản-2008), AKFTA ( Hiệp định
khung về hợp tác kinh tế toàn diện đã được ký giữa ASEAN và Hàn Quốc-2005),
ATIGA ( Hiệp định Thương mại hàng hoá ASEAN -2010) và một số hiệp định
quan trọng khác nữa…Tuy nhiên, trong bài tiểu luận này chúng em xin đi sâu
nghiên cứu về các cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện các Hiệp định
CEPT và Hiệp định ATIGA.
• Hiệp định CEPT:
CEPT là hiệp định chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho
khu vực tự do hoá thương mại AFTA được kí kết ngày 15/12/1995. Theo đó qui
định việc cắt giảm thuế quan đối với việc mua bán giữa các nước thành viên
trong khu vực Đông Nam á cụ thể như giảm thuế nhập khẩu trên hầu hết hàng
hoá buôn bán giữa các nước trong khu vực ASEAN xuống mức tối thiểu từ 05%. Việc thực hiện giảm thuế quan theo Hiệp định CEPT được thực hiện theo
NHÓM 4
Trang 6
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
từng giai đoạn khác nhau như 2003-2006, 2008-2013 với nhiệm vụ khác nhau ở
mỗi giai đoạn.
Năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN và tham gia ký hiệp định CEPT.
Năm 1996, biểu thuế CEPT bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam. Danh mục hàng
hoá được áp dụng thuế suất theo biểu thuế CEPT được Chính phủ ban hành và bổ
sung định kỳ thông qua việc qui định các thuế suất nhập khẩu mới được bổ sung
các mặt hàng nhập khẩu mới.
Ngày 6/6/2001, Chính phủ ban hành Nghị định 28, qui định biểu thuế
CEPT áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước trong khối ASEAN.
Danh mục
Tỷ lệ giảm (%)
Thuế và thời hạn
Danh mục IL; việc xóa bỏ 98,6
0-5%(2006)
thuế, hạn chế định lượng và
0%(2015 hoặc 2018)
phi thuế. Có một danh mục
“miễn trừ tạm thời” tuy
nhiên tất cả những sản
phẩm này đã được chuyển
vào IL
Sản phẩm nhạy cảm và đặc 0
0% (01/01/2013)
biển nhạy cảm (sản phẩm
nông sản chưa qua chế biến
sẽ được đưa vào IL theo lộ
trình)
Danh
mục
loại
trừ Hạt anh túc, bột thuốc phiện, thuốc lá và lá thuốc lá, xăng
chung( GEL) danh mục dầu và sản phẩm chiết xuất từ xăng dầu, phế phẩm dược
những sản phẩm này được phẩm, chất nổ, pháo hoa, cạn chất thải hóa học, săm lốp đã
miễn trừ vĩnh viễn khỏi Lộ được xử lý, vũ khí, súng ngắn.
trình CEPT vì lý do an ninh
quốc gia, đạo đức và sức
trong năm đều nhau bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2000 đến ngày 1 tháng
năm 2006.
Căn cứ nghĩa vụ của mình theo Hiệp định CEPT, Việt Nam cam kết loại
bỏ tất cả thuế nhập khẩu các sản phẩm bao gồm trong IL (inclusive list) của Việt
Nam vào năm 2015, có thể linh hoạt cho đến năm 2018.
Ngoài ra, Việt Nam cam kết thực hiện từng bước theo Chương trình CEPT
"sản phẩm nhạy cảm"(PIS) của Việt Nam bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2004
nhưng không quá ngày 1 tháng 1 năm 2006 và sẽ hoàn tất lộ trình ngày 1 tháng 1
năm 2013. Liên quan đến sản phẩm đường, Việt Nam cam kết hoàn thành việc
loại bỏ dần trong ngày 1 tháng 1 năm 2010. Việc giảm dần thuế cho những "sản
phẩm nhạy cảm" về nguyên tắc phải được hoàn tất vào ngày 1 tháng 1 năm 2010.
Tuy nhiên, Việt Nam không bao gồm bất kỳ mục hàng nào trong HSL(high
sensitive list). Việt Nam phải loại bỏ tất cả hạn chế định lượng và các hàng rào
phi thuế quan khác về sản phẩm nhạy cảm vào ngày 1 tháng 1 năm 2013.
Việt Nam có 26 dòng thuế quan là "sản phẩm nhạy cảm" và chủ yếu bao
gồm trong các sản phẩm chưa qua chế biến nông nghiệp, bao gồm: thịt gia cầm
và sản phẩm thịt, một số hoa, trái cây cam quýt, gạo và đường.
Liên quan đến các "lĩnh vực ưu tiên", Việt Nam phải loại bỏ thuế quan
theo CEPT-AFTA vào ngày 1 tháng 1 năm 2012 (theo các trường hợp ngoại lệ áp
dụng cho các "lĩnh vực ưu tiên" riêng như đã nêu trong các Nghị định thư
ngành). Ngoài ra, Việt Nam đã cam kết loại bỏ các NTBs theo lịch trình nêu trên.
Việt Nam chuyển các mục hàng còn lại trong các TEL và SL vào ngày 1
tháng 1 năm 2006. Đến nay, Việt Nam không có nhiều sản phẩm hơn trong
TEL(danh mục sản phẩm loại trừ tạm thời)và SL.
Các nước AMSs đã gần như hoàn thành cam kết cắt giảm thuế quan của
họ với hơn 90% các dòng thuế trong IL của từng nước AMSs xuống khoảng 05%. Các dòng thuế trung bình theo CEPT trong năm 2007 là 2,7% ở ASEAN và
% 4,2% đối với Việt Nam, bằng khoảng một phần ba so với năm 1995. Mức thuế
trung bình của Việt Nam đã giảm từ 12,3% năm 1996 xuống còn 4,2% năm
2007.
2006
10%
10%
10%
5%
Mặt hàng gạo tuy là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam, đang cần được mở
rộng thị trường xuất khẩu nhưng được đưa vào thực hiện CEPT theo lịch trình
chậm nhất vì những lý do sau :
•
Lý do kinh tế:
-
Mặt hàng này sẽ vẫn còn cần Nhà nước quản lý chặt chẽ cung cầu và giá
cả trên thị trường trong nước vì là mặt hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến
đại bộ phận dân chúng, nhất là nông dân.
-
Việc bảo hộ cho nông dân cần được trực tiếp duy trì trong thời gian nhiều
năm nữa, tránh những bất ổn không lường trước được đối với mặt hàng
này trong cả khâu sản xuất lẫn tiêu thụ.
NHÓM 4
Cà phê:
Bảng 2.3. Lịch trình đưa mặt hàng cà phê vào tham gia CEPT
Năm
1998
Sơ chế
1999
200
2001
200
0
2
2003
15%
15%
15% 10%
10% 5%
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
-
Cà phê sơ chế là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam và đang được xuất
-
khẩu sang các nước ASEAN khác.
Cà phê thành phẩm có bước cắt giảm chậm hơn là vì khâu chế biến của ta
còn kém, cần có thêm thời gian để các doanh nghiệp tập trung đầu tư thích
đáng cho khâu này, đảm bảo tăng dần sức cạnh tranh với hàng của
ASEAN
• Lỗi kỹ thuật:
Theo quy định đối với danh mục cắt giảm các mặt hàng hiện có thuế suất từ
20% trở xuống phải đạt từ 0%-5% vào 2003: các mặt hàng hiện có thuế suất trên
20% phải hạ xuống tới 20% hoặc thấp hơn vào năm 2001.
•
Chè: Lịch trình cắt giảm giống cà phê.
b. Ngành thủy sản:
Xuất khẩu của khu vực địa phương ngày càng tăng chiếm tới 73% kim
ngạch xuất khẩu thủy sản (1996). Giá trị xuất khẩu hàng năm 21%. Năm 1996,
xuất khẩu đạt 550 triệu USD, trong đó ASEAN chiếm 12% kim ngạch xuất khẩu
hải sản. Việt Nam đứng 19 trên thế giới về tổng sản lượng thứ 30 về kim ngạch
xuất khẩu, thứ 5 về sản lượng tôm nuôi.
Từ năm 1991-1995 trung bình hàng năm tổng sản lượng tăng 6,4%, giá trị
xuất khẩu tăng 21%.
5%
•
Lý do kinh tế:
NHÓM 4
Trang 12
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
-
Tuy ASEAN không phải là thị trường chính nhưng thủy sản vẫn là thế
mạnh xuất khẩu trong khu vực của ta.
-
Tận dụng ưu đãi của các nước ASEAN theo CEPT cho hàng thủy sản
xuất khẩu của Việt Nam, nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
•
Lý do kỹ thuật:
-
Các nước đều đã đưa hàng thủy sản vào cắt giảm nên theo lịch trình
này thì theo lịch trình này thì hàng xuất khẩu của ta sẽ được hưởng
mức ưu đãi nhiều trong khi ta chỉ cắt giảm thuế nhập khẩu ở mức vừa
2000
2001
2002
2003
20%
20%
15%
15%
15%
10%
5%
NHÓM 4
Trang 13
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
2001
2002
2003
2004
2005
2006
50%
40%
35%
20%
20%
20%
15%
10%
5%
NHÓM 4
Trang 14
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
rất nhỏ, chỉ xấp xỉ 1/10 đến 1/17 sản lượng hàng năm của ta còn hạn chế về số
lượng, cơ cấu chủng loại sản phẩm và khách hàng truyền thống.
Năm 1998, ASEAN chiếm 17% kim ngạch xuất khẩu cao su trong đó
riêng Singapo chiếm 13%.
Các mặt hàng cao su sơ chế đến nay đã đưa vào thực hiện CEPT, với thuế
suất hiện hành rất thấp (1%) nên thực tế sẽ không phải cắt giảm thuế.
2.1.2.2. Lịch trình thực hiện cam kết giảm thuế cho các ngành hàng có thể cạnh
tranh với hàng nhập khẩu trong tương lai
Lịch trình giảm thuế nhìn chung sẽ được dự kiến với tiến trình chậm nhất
cho phần lớn các ngành hàng trong nhóm này để tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong nước có thể phát triển lên một mức độ nhất định trước khi phải đối
đầu với môi trường cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN. Khi các
mặt hàng này được đưa vào giảm thuế, các chính sách thương mại khác thông
qua tỷ giá và biện pháp bảo hộ phi thuế quan sẽ giữ một vai trò rất quan trọng
góp phần giảm thu cho ngân sách đồng thời tạo điều kiện trực tiếp bảo hộ cho
các doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Sau đây là lịch trình cụ thể của một số mặt hàng thuộc các ngành hàng có
thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu trong tương lai.
a. Ngành rau quả
Bảng 2.6. Lịch trình đưa mặt hàng rau quả tươi và rau quả chế biến vào
tham gia CEPT
Rau quả tươi
2003
2004
2005
2006
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
Củ
20%
20%
20%
Quả
15% 15%
15%
10%
10%
20%
15%
5%
b. Ngành thực phẩm chế biến
Bảng 2.7. Lịch trình đưa một số mặt hàng trong ngành thực phẩm chế
biến vào tham gia CEPT
Mỡ và dầu động vật loại chưa tinh chế, men, axít béo công nghiệp...
1998
1999
2000
2001
2002
2003
10%
10%
10%
10%
5%
c.
Ngành sữa
Bảng 2.8. Lịch trình đưa mặt hàng sữa vào tham gia CEPT
2003
NHÓM 4
2004
2005
Trang 16
2006
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
20%
15%
15%
10%
10%
5%
10%
10%
10%
10%
10%
10%
5%
Thiết bị công suất vừa và nhỏ, các thiết bị nghe nhìn đồ điện gia dụng...
Năm
2002
2003
2004
5%
Cát sét
Ti vi
60%
e. Ngành hàng cơ khí
Bảng 2.10. Lịch trình đưa một số mặt hàng ngành cơ khí vào tham gia
CEPT
Đa số máy móc công cụ, phức tạp, thiết bị kỹ thuật, phụ tùng, dụng cụ thô sơ...
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
20%
2004
2005
2006
40%
35%
25%
5%
20%
15%
15%
15%
Quạt các loại
50%
40%
30%
20%
Ngành tàu thuyền
Hầu như một mức thuế được áp dụng hiện nay là 0%, chỉ có một mức 5%
f.
nên việc đưa nhóm hàng này vào thực hiện không đòi hỏi phải giảm thuế.
g. Ngành hoá chất
•
Mặt hàng thuốc trừ sâu đã có thuế suất thấp (2-3%)
•
Mặt hàng phân bón hóa học đã có thuế suất thấp (0%) nhưng có thể nâng lên
vượt quá 5%.
Bảng 2.11. Lịch trình đưa một số mặt hàng cao su vào tham gia CEPT
Cao su tự nhiên và cao su tổng hợp, các sản phẩm cao su dùng trong công
nghiệp, xăm lốp của ôtô 20 tấn.
1998
1999
2000
2001
2004
2005
2006
30%
25%
20%
10%
5%
h. Ngành xi măng
Lịch trình thực hiện cam kết CEPT
Bảng 2.12. Lịch trình đưa mặt hàng xi măng vào tham gia CEPT
2003
2004
2005
2006
15%
2001
2002
2003
20%
15%
15%
15%
10%
10%
5%
Trang 19
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
15%
10%
10%
1998
1999
2000
2001
2002
2003
20%
15%
15%
15%
10%
10%
5%
Giấy in, giấy viết, giấy vệ sinh, giấy bao gói
1997 1998
10%
5%
c.
30%
Mặt hàng đường
Bảng 2.15. Lịch trình đưa mặt hàng đường vào tham gia CEPT
1997
2003
2004
2005
2006
25%
35%
30%
25%
5%
của Việt Nam sẽ có một lộ trình cắt giảm riêng. Còn đối với mặt hàng ô tô, xe
máy, chúng ta sẽ phải tuân thủ các quy định chung của Hiệp định ATIGA, tức là
tối đa đến năm 2018 sẽ phải đưa thuế xuất hai mặt hàng này về 0%.
Biểu thuế ATIGA: bao gồm toàn bộ các mặt hàng Việt Nam đã cam kết
cắt giảm trong ATIGA, gồm có 9.368 dòng thuế được phân loại theo cấp độ 8 số
và được xây dựng trên cơ sở phù hợp với Danh mục hàng hoá Việt Nam năm
2012. Thuế suất ATIGA được xây dựng trên nguyên tắc tuân thủ cam kết trong
ATIGA. Về cơ bản thuế suất năm 2012-2014 bằng với mức thuế suất đã công bố
theo Quyết định số 36/2008/QĐ-BTC ngày 12/6/2008 của Bộ Tài chính về ban
hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt CEPT/AFTA giai đoạn 2008-2013 và
chỉ bao gồm các sửa đổi, bổ sung sau:
•
Các mặt hàng thuộc các ngành đẩy nhanh hội nhập (PIS) có khoảng 1.600
dòng gồm các mặt hàng: thuỷ sản, cao su và sản phẩm cao su, dệt may, sản
phẩm công nghệ thông tin, thiết bị và sản phẩm y tế, gỗ và sản phẩm gỗ,
điện tử.... Theo quy định của Hiệp định ATIGA, các mặt hàng này sẽ giảm
thuế xuống mức 0% vào năm 2012 (trong Quyết định số 36/2008/QĐ-BTC
ngày 12/6/2008, thuế suất năm 2012 của các mặt hàng này là 5%).
NHÓM 4
Trang 21
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
•
Các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm tiếp tục cắt giảm thuế: có 44 dòng
thuế gồm các mặt hàng: thịt gà, chanh bưởi, thóc gạo, thịt hộp được cắt
định như trước đây, các quy định về chuyển đổi mã số thuế, quy tắc xuất xứ cụ
thể (PSR) được quy định linh hoạt hơn nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc cam
kết nội khối phải tương đương hoặc thuận lợi hơn so với cam kết dành cho các
nước đối tác trong các khu vực mậu dịch tự do ASEAN cộng. ATIGA cũng quy
NHÓM 4
Trang 22
Những cam kết về thương mại hàng hóa của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN
định về việc thành lập Tiểu ban về Quy tắc xuất xứ chịu trách nhiệm đám phán
và giám sát việc thực thi các cam kết về Quy tắc xuất xứ trong ATIGA.
a. Các nguyên tắc xác định chi phí đối với hàm lượng giá trị khu vực
1. Thực tế: tất cả các chi phí trong việc định giá, đánh giá và xác định xuất
xứ phải là chi phí thực tế.
2. Nhất quán: phương pháp phân bổ chi phí phải nhất quán trừ trường hợp
có thể chứng minh bằng thực tế thương mại.
3. Tin cậy: thông tin về chi phí phải đáng tin cậy và được xác nhận bằng
những thông tin phù hợp.
4. Có liên quan: chi phí phải được phân bổ dựa trên các dữ liệu khách
quan và có thể định lượng được.
5. Chính xác: phương pháp tính phải thể hiện chính xác yếu tố chi phí cần
xác định.
6. Việc áp dụng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung tại nước
thành viên xuất khẩu: thông tin về chi phí phải được chuẩn bị phù hợp với các
nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và bao gồm cả việc tránh tính trùng
các chi phí.
7. Cập nhật: những số liệu cập nhật từ các tài liệu chi phí và kế toán hiện
hàm lượng ASEAN
được
tính
như
sau:
Giá trị nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nớc không phải là thành viên ASEAN
+
Giá trị nguyên phụ liệu có xuất xứ không xác định đợc
x 100% /60%
Giá FOB
i. Về thủ tục hải quan
-Yêu cầu về thủ tục hải quan
+ Việt Nam đảm bảo rằng những thủ tục và thông lệ hải quan của mình có thể dự
đoán được, nhất quán, minh bạch và tạo thuận lợi cho thương mại thông qua việc
nhanh chóng thông quan hàng hóa
+ Thủ tục hải quan được đảm bảo phù hợp với các tiêu chuẩn và thực tiễn được
khuyến nghị của tổ chức hải quan thế giới và các tổ chức quốc tế khác liên quan
đến hải quan
+ Đơn giản hóa thủ tục hải quan đến mức cần thiết
NHÓM 4
Trang 24
2.2.3. Đặc điểm của thị trường ASEAN và hàng hóa Việt Nam.
a. Thị trường ASEAN
Các quốc gia ASEAN với dân số gần 600 triệu người (2008) là một thị có
dung lượng lớn, là thị trường gần, có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, tốc độ
tăng trưởng cao, chi phí quảng cáo thấp, thêm vào đó là yêu cầu của thị trường
này không cao và khá phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên một
NHÓM 4
Trang 25