Địa hình việt nam và một số bài tập liên quan đến địa hình - Pdf 40

TRƯỜNG THPT CHUYÊN BIÊN HÒA
Người viết: Nguyễn Thị Hà

BÀI THAM GIA HỘI THẢO CÁC
TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC
DUYÊN HẢI - ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
MÔN: ĐỊA LÝ

Đề tài: Địa hình Việt Nam và một số bài tập liên quan đến địa hình

PHẦN MỞ ĐẦU
Địa hình là thành phần cơ bản và bền vững nhất của cảnh quan. Đây cũng
là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người. Địa hình là yếu tố
đầu tiên con người phải tính đến trong quá trình tổ chức lãnh thổ của mình, từ thế
hệ này qua thế hệ khác. Để khai thác được kĩ càng nội dung này, ngoài việc nêu
những đặc điểm chung của địa hình, còn phải phân tích kĩ từng yếu của địa hình
cùng các nội dung liên quan, tác động thường xuyên đến địa hình. Khi khai thác,
tìm hiểu địa hình, trước hết phải nắm vững phần kiến thức cơ bản hay chính là
đặc điểm địa hình của nước ta. Sau đó, phân tích nó dưới nhiều góc độ, ở từng
khu vực khác nhau thông qua các dạng bài từ nhiều trang Atlat Địa lí Việt Nam.
Giáo viên nên đặt ra nhiều kiểu câu hỏi: phân tích, giải thích, chứng minh, so
sánh,…để khắc sâu kiến thức cho học sinh. Kết hợp giữa lí thuyết và vận dụng để
khai thác nhuần nhuyễn Atlat chính là yêu cầu không thể thiếu đối với học sinh
trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi.
Phần chuyên đề của chúng tôi dưới đây có những nội dung chính như sau:
- Chương 1: Đặc điểm chung của địa hình
- Chương 2: Các kiểu địa hình và các khu vực địa hình
- Chương 3: Ảnh hưởng của địa hình đến thiên nhiên và sự phát triển kinh
tế - xã hội
- Chương 4: Một số bài tập liên quan đến địa hình


chảy trên mặt đã cắt xẻ sâu vào bán bình nguyên cổ để tạo nên những khe sâu,
2


những sườn núi dốc đứng hiện nay. Đây là kết quả của sự cắt xẻ bề mặt bán bình
nguyên cổ theo nhiều bậc của ngoại lực.
Tác động của dòng nước, của gió, của nhiệt độ... thường xuyên đã làm biến
đổi bề mặt địa hình cổ. Khi các lớp đất đá trẻ nhưng vụn bở bị bóc đi làm lộ ra
các vỉa đá rắn, nếp núi cổ như đỉnh Phu Hoạt, Pu Xai Lai Leng, Rào Cỏ, Mẫu
Sơn. Khi các lớp trầm tích trẻ không phủ hết cấu trúc cũ cũng làm lộ ra các địa
hình già như các núi sót ở các đồng bằng tạo nên sự tương phản trên địa hình: núi
nổi cao giữa đồng bằng.
Kiến trúc cổ chi phối hướng địa hình hiện đại, quy luật này thể hiện qua
hướng vòng cung của các nếp núi bao quanh khối Vòm sông Chảy ở khu vực
Đông Bắc và Việt bắc, hướng tây bắc - đông nam ở vùng núi Tây Bắc, Trường
Sơn Bắc do các nhân đá kết tinh cổ song song và kéo dài theo hướng tây bắc đông nam và hướng vòng cung của dãy núi Động Ngài, Bạch Mã, Lang Biang
bao quanh khối nền cổ Inđôxini.
Hướng các dòng sông lớn trùng với hướng các đứt gãy cổ kiến tạo quyết
định như sông Hồng, sông Chảy, sông Cả, sông Gianh.
Giữa địa hình và nham thạch cấu tạo nên địa hình có mối quan hệ chặt chẽ,
vì thế nhìn địa hình có thể đoán biết nham thạch:
- Địa hình mềm mại, lượn sóng: Thường là của đá phiến, đá cát kết, đá sét
kết. Nhân dân quen gọi là "núi kết" hoặc bán sơn địa.
- Địa hình caxtơ hiểm trở, vách dựng đứng nhiều hang động ngầm đặc
trưng cho cấu tạo đá vôi.
- Địa hình cao, đỉnh nhọn là các đá phun trào riolit như Tam Đảo, Mẫu Sơn.
- Địa hình cao nguyên rộng lớn, đất đá sẫm là đá badan phun trào.
- Địa hình thấp, bằng phẳng là do nham thạch phù sa bở rời.
1.2.2 Địa hình có tính phân bậc rõ rệt và thấp dần từ tây bắc xuống đông nam
Địa hình nước ta được phân thành khá nhiều bậc, bao gồm các bậc địa hình

+ Hướng vòng cung thể hiện ở vùng núi Đông Bắc và khu vực Nam Trung
Bộ (Trường Sơn Nam).
1.3 Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
Biểu hiện ở xâm thực mạnh ở miền đồi núi, bồi tụ nhanh ở hạ lưu, lớp vỏ
phong hóa dày với nhiều hiện tượng đất trượt và sụt lở trên bề mặt địa hình.

4


1.3.1 Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
Nền nhiệt ẩm cao với một mùa mưa và một mùa khô xen kẽ thúc đẩy quá
trình xâm thực mạnh mẽ, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị bào mòn rửa trôi...
- Điều kiện nóng ẩm đẩy nhanh cường độ phong hóa, xâm thực, bào mòn,
rửa trôi đất đá trên sườn dốc. Biểu hiện của quá trình này là bề mặt địa hình bị cắt
xẻ, hẻm vực, khe sâu, đất bị bào mòn rửa trôi nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá, những
hiện tượng đất trượt, đá lở thành những nón phóng vật tích tụ ở dưới chân núi.
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đẩy nhanh tốc độ hòa tan và phá hủy đá
vôi, tạo thành các địa hình caxtơ với các hang động ngầm, suối cạn, thung khô,
các đồi đá vôi sót ở vùng núi đá vôi.
- Khí hậu đã làm sâu sắc hơn, rõ nết hơn tính chất trẻ của địa hình đồi núi
Việt Nam do Tân kiến tạo để lại. Có thể nói quá trình xâm thực bào mòn của do
tác động của dòng nước là quá trình địa mạo đóng vai trò chủ yếu tạo nên hình
thái của địa hình đồi núi nước ta hiện nay.
1.3.2 Bồi tụ nhanh ở hạ lưu
- Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn mạnh ở miền núi là sự bồi tụ,
mở mang nhanh các đồng bằng hạ lưu sông.
- Rìa phía đông nam của đồng bằng sông Hồng và rìa phía tây nam của
đồng bằng sông Cửu Long hàng năm lấn ra biển từ vài chục đến gần trăm mét.
1.3.3 Lớp vỏ phong hóa dày
Bị mưa nắng công phá, bề mặt địa hình bị thay đổi tạo nên lớp vỏ phong

thái của địa hình, có thể phân biệt địa hình nước ta thành các kiểu hình thái địa
hình như sau:
- Kiểu địa hình núi:
Kiểu địa hình núi với đặc điểm chung là độ cao tuyệt đối và tương đối khá
lớn. Về ngoại hình, thường là các khối núi hay dãy núi, có độ chia cắt sâu và
sườn dốc lớn.
+ Kiểu địa hình núi cao: có độ cao trên 2000m, chiếm tỉ lệ diện tích không
lớn lắm, tập trung ở biên giới phía bắc từ Hà Giang đến Lai Châu và biến giới
phía tây thuộc 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh như đỉnh Phu Hoạt, Pu Xai Lai Leng,
Rào Cỏ. Tiêu biểu là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Si Păng cao 3143m. Ở
khu vực phía nam dãy Trường Sơn cũng có một số đỉnh cao trên 2000m như
Ngọc Linh, Ngọc Kring, Vọng Phu...
+ Kiểu địa hình núi trung bình: có độ cao tuyệt đối từ 1000m đến dưới
2000m, chiếm diện tích không lớn nhưng cũng được phân bố khá rộng khắp từ biên
giới phía bắc đến phía nam dãy Trường Sơn. Kiểu địa hình này thường có thung
lũng hẹp, sườn dốc 25 - 30o, có dạng đỉnh núi, khối núi và dãy núi đơn độc tách biệt
với vùng núi cao như đỉnh Phia Ya, Mẫu Sơn, Nam Châu Lãnh, Tam Đảo... hoặc
gắn liền với các vùng núi cao ở Tây Bắc, bắc và nam dãy núi Trường Sơn.
+ Kiểu địa hình núi thấp: có độ cao trung bình từ 500m đến dưới 1000m,
thường liền kề với vùng núi trung bình và vùng đồi thành một dải liên tục với các
bậc địa hình cao thấp khác nhau, thậm chí kiểu địa hình này còn gặp ở ngay vùng
đồng bằng và vùng ven biển dưới dạng núi sót như núi Voi, núi Đồ Sơn, núi Bà
Đen, núi Thất Sơn và các đảo ven bờ. Kiểu địa hình này tập trung thành một khu
vực rộng lớn ở Nam Trung Bộ, thành khối núi rời rạc ở Việt Bắc, Đông Bắc và
dải hẹp ở biên giới Việt - Lào thuộc Bắc Trung Bộ.
- Kiểu địa hình cao nguyên:
7


+ Cao nguyên đá vôi điển hình ở phía bắc và tây bắc nước ta. Đặc điểm



- Kiểu địa hình đồng bằng: Thuộc bậc địa hình thấp nhất, phần lớn nằm ở
phái đông lãnh thổ tiếp giáp với biển Đông. Có đặc điểm chung là rất bằng
phẳng, tuyệt đại bộ phận có độ cao thấp, thường không vượt quá 15m, được bồi
đắp bằng trầm tích biển, trầm tích lục địa và phù sa các con sông lớn trên các
vùng trũng, sụt lún mạnh. Kiểu địa hình đồng bằng điển hình nhất ở nước ta là hai
vùng đồng bằng lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ, ngoài ra cũng
có một số nét riêng ở dải đồng bằng ven biển miền Trung.
- Các kiểu địa hình đặc biệt:
+ Kiểu địa hình caxtơ: thung - động caxtơ (rìa núi Bắc Sơn), núi caxtơ (Pu
Tha Ca - Hà Giang), sơn nguyên caxtơ (Quản Bạ - Đồng Văn), hang động caxtơ
(Phong Nha).
+ Thung lũng và lòng chảo miền núi: Điện Biên, Nghĩa lộ, An Khê.
+ Kiểu địa hình bờ biển: bờ biển bồi tụ (khu vực cửa sông Hồng, từ cửa
sông Sài Gòn đến Hà Tiên), bờ biển mài mòn (từ mũi Đại Lãnh đến Mũi Dinh),
bồi tụ - mài mòn (khu vực ven biển Quảng Ninh, miền Trung từ Thanh Hóa đến
mũi Dinh...)
+ Kiểu địa hình đảo: đảo núi đất, núi đá ven bờ; đảo san hô.
2.2 Các khu vực địa hình
2.2.1 Khu vực đồi núi
2.2.1.1 Vùng núi Đông Bắc
Vị trí nằm ở tả ngạn sông Hồng. Bao gồm một loạt các dãy núi chạy theo
hướng cánh cung uốn quanh khối núi đá kết tinh cổ thượng nguồn sông Chảy.
Các cánh cung này mở rộng về phía bắc và quy tụ ở núi Tam Đảo, bao gồm các
cánh cung Sông Gâm, cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung
Đông Triều.
Do ảnh hưởng của hoạt động Tân kiến tạo nên khu vực này được nâng lên
với cường độ trung bình và dốc từ tây bắc về đông nam. Đa số các núi thuộc loại
thấp, từ độ cao 2000m xuống còn 1500m - 500m và thấp dần ra biển. Khu vực

- đông nam khiến địa hình tăng thêm sự chia cắt sâu sắc.
2.2.1.3 Vùng núi Trường Sơn Bắc
Khu vực kéo dài từ phía nam sông Cả đến núi Bạch Mã. Núi Trường Sơn
được nâng lên với hai sườn không đối xứng. Sườn phía tây (trên lãnh thổ Lào)

10


rộng và thoải dần về thung lũng sông Mê Công, còn sườn phía đông (thuộc Việt
Nam) hẹp và dốc, núi lan ra sát biển.
Dãy núi Trường Sơn Bắc bao gồm một chuỗi các dãy núi cùng hướng tây
bắc - đông nam, có đường chia nước chạy dọc biên giới Việt - Lào, phân chia 2
lưu vực giữa sông Mê Công và các sông ven biển miền Trung. Ngoài ra còn có
hướng tây - đông (dãy Bạch Mã). Núi ở đây không cao lắm, chỉ trên dưới 1000m
song có một vài đỉnh cao trên 2000m nhu Pu Lai Leng (2771m), Rào Cỏ
(2235m).Các đỉnh núi nhô cao phần lớn là những khối nền cổ đá măcma xâm
nhập được Tân kiến tạo nâng lên mạnh. Nơi thấp nhất của các đường chia nước là
các đèo.
2.2.1.4 Vùng núi Trường Sơn Nam
Khu vực này nằm ở phía nam dãy Bạch Mã đến hết vùng núi cực Nam
Trung Bộ. Gồm các khối núi và cao nguyên cao hơn ở khu vực Trường Sơn Bắc
do được Tân kiến tạo nâng lên mạnh. Kèm theo sự nâng lên là sự phun trào mãnh
liệt đá badan tạo nên một vùng cao nguyên đá đỏ rộng lớn. Vùng núi hướng vòng
cung, dựng đứng ở phía đông và thoải dần về phía tây:
- Phía đông khối núi Kon Tum và cực Nam Trung Bộ có địa hình mở rộng,
nâng cao đồ sộ, địa hình xô về phía đông với nhiều đỉnh cao trên 2000m: Ngọc
Linh (2598m), Vọng Phu, Chư Yang Sin...
- Phía tây là các cao nguyên có bề mặt mở rộng khá bằng phẳng, có độ cao
trung bình 500 - 1000m và các bán bình nguyên xen đồi.
2.2.2 Địa hình bán bình nguyên và vùng đồi trung du

năm, vùng ven biển có diện tích nhỏ đất ngập mặn đang được cải tạo thành ruộng
cói, ruộng lúa hoặc nuôi thả tôm cua.
2.2.3.2 Đồng bằng sông Cửu Long
Là đồng bằng châu thổ được bồi tụ bởi phù sa hàng năm của hệ thống sông
Cửu Long (sông Tiền và sông Hậu). Đồng bằng có dạng tứ giác châu thổ, thấp
dần từ tây bắc xuống đông nam. Với diện tích khoảng 40000km 2, địa hình thấp và
bằng phẳng hơn so với địa hình đồng bằng sông Hồng. Trên bề mặt đồng bằng
không có đê nhưng có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, về mùa lũ
nước ngạp trên diện rộng, còn về mùa cạn, nước triều lấn mạnh làm cho gần 2/3
diện tích đồng bằng là đất phèn, đất mặn. Địa hình có xen kẽ những vùng trũng
lớn chưa được phù sa bồi tụ đầy như khu vực Đồng Tháp Mười, tứ giác Long
12


Xuyên, giữa bán đảo Cà Mau. Địa hình bở biển phẳng, thềm lục địa nông và mở
rộng hơn so với thềm lục địa của đồng bằng sông Hồng, vì vậy khả năng mở rộng
đồng bằng còn rất lớn, lớn hơn nhiều so với đồng bằng sông Hồng.
Về cơ cấu đất: Chủ yếu là đất phù sa được bồi đắp hàng năm, chia thành 3
loại: Đất phù sa ngọt phân bố chủ yếu dọc sông Tiền, sông Hậu, chiếm diện tích
lớn là đất bị nhiễm phèn và đất bị nhiễm mặn.
2.2.3.3 Đồng bằng duyên hải miền Trung
Đồng bằng có diện tích khảng 15000km2. Biển có vai trò quan trọng trong
việc hình thành đồng bằng này. Đồng bằng kéo dài, hẹp ngang và bị chia cắt
mạnh bởi các mạch núi ăn lan ra sát biển, chia đồng bằng thành nhiều đồng nhỏ,
trong đó lớn nhất là đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh.
Ở nhiều đồng bằng thường có sự phân chia thành ba dải: giáp biển, ở giữa
và trong cùng. Trong đó, dải giáp biển có nhiều cồn cát, đầm phá, thường xuyên
chịu tác động của biển. Ở giữa là vùng trũng thấp. Dải trong cùng được bồi tụ
thành đồng bằng. Địa hình bờ biển khúc khuỷu, thềm lục địa hẹp và sâu nên khả
năng mở rộng đồng bằng chậm.

tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta:
+ Do phần lớn là đồi núi thấp nên tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của khí hậu
nước ta được bảo toàn (dưới 600 - 700m ở miền Bắc, 900 - 1000m ở miền Nam)
+ Miền đồi núi có nhiều đai cao nhưng đai nhiệt đới chân núi chiếm diện
tích rộng nhất, quá trình feralit phát triển mạnh. Rừng nhiệt đới ẩm gió mùa phát
triển trên đất feralit chiếm ưu thế, thành phần loài nhiệt đới chủ yếu.
- Địa hình đồi núi cũng gây cho nước ta nhiều thiên tai: xói mòn, lũ quét, lũ
ống... ở miền núi, ngập lụt ở đồng bằng.
14


3.1.2 Ảnh hưởng của địa hình đến khí hậu
* Độ cao địa hình là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khí hậu, đặc biệt là
chế độ nhiệt
- Do phần lớn là đồi núi thấp nên tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của khí
hậu nước ta được bảo toàn ở vành đai chân núi (dưới 600 - 700m ở miền Bắc,
900 - 1000m ở miền Nam)
- Do địa hình nước ta 3/4 là đồi núi nên ngoài sự phân hóa theo chiều bắc nam, khí hậu có sự phân hóa theo độ cao khá rõ:
+ Địa hình ở độ cao dưới 600 - 700m ở miền Bắc, 900 - 1000m ở miền
Nam là đai nhiệt đới gió mùa. Khí hậu biểu hiện rõ rệt ở nền nhiệt độ cao, mùa hạ
nóng. Độ ẩm thay đổi tùy nơi từ khô hạn đến ẩm ướt.
+ Từ 600 - 700m đến 2600m ở miền Bắc và 900 - 1000m đến 2600m ở
miền Nam là đai cận nhiệt gió mùa trên núi, khí hậu mát mẻ, mùa hạ nhiệt độ
dưới 25oC, mưa nhiều độ ẩm tăng.
+ Trên 2600m, là đai ôn đới gió mùa trên núi (chỉ có ở Hoàng Liên Sơn)
khí hậu có nết giống với khí hậu ôn đới, nhiệt độ trung bình dưới 15 oC, nhiệt độ
tháng lạnh dưới 5oC.
- Theo quy luật đai cao, cư lên cao khoảng 100m thì nhiệt độ giảm khoảng
0,6oC. Vì vậy những vùng núi cao của nước ta có nhiệt độ thấp hơn so với nền
nhiệt độ trung bình của nước ta.

vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, vùng đồng bằng ven biển Quảng Ninh, duyên hải
Thừa Thiên - Huế là những nơi mưa nhiều nhất nước ta, trong khi những nơi
khuất gió như thung lũng sông Cả, sông Mã, sông Ba lượng mưa trung bình năm
rất thấp.
- Địa hình làm khí hậu nước ta phân hóa theo vùng miền, thành các kiểu
khí hậu khác nhau, làm tăng thêm tính thất thường của khí hậu.
3.1.3 Địa hình ảnh hưởng đến đặc điểm sông ngòi
- Hướng nghiêng của địa hình ảnh hưởng đến hướng chảy của sông. Địa
hình nước ta nghiêng hướng tây bắc - đông nam thấp dần ra biển nên hầu hết các
sông đều đổ ra biển Đông (trừ một số sông ở Tây Nguyên do địa hình nghiêng
đông - tây nên sông đổ sang Campuchia).
- Độ cao, độ dốc địa hình, sự phân bậc địa hình làm cho sông ngòi bị chia
cắt phức tạp, vận tốc chảy lớn. Ở vùng miền núi sông ngòi có độ dốc lớn, nhiều
16


thác ghềnh, lòng sông hẹp sâu và dốc. Còn sông ngòi ở khu vực đồng bằng, tốc
độ dòng chảy nhỏ hơn, giảm sự đào sâu lòng mà thay vào đố là mở rộng lòng
sông, sông có hiện tượng uốn khúc nhiều hơn so với sông ngòi miền núi.
- Hướng sơn văn của địa hình quy định hướng chảy của sông:
+ Hướng tây bắc - đông nam của vùng Tây Bắc và Trường Sơn Bắc làm
cho các sông của khu vực có hướng tây bắc - đông nam là chủ yếu: Sông Hồng,
sông Mã, sông Đà...
+ Hướng vòng cung của vùng núi Đông Bắc quy định hướng chảy của sông
Cầu, sông Thương, sông Lục Nam
- Địa hình ảnh hưởng đến cường độ lũ của sông: Địa hình đồi núi có sự
phân bậc, chia cắt phức tạp làm cho sông ngòi có cường độ lũ lớn, lên nhanh, rút
nhanh, nhất là miền Trung.
- Địa hình cũng góp phần tạo nên lượng phù sa lớn cho sông ngòi nước ta.
- Thông qua khí hậu, địa hình ảnh hưởng đến thủy chế sông ngòi.

- Từ độ cao dưới 600 - 700m ở miền Bắc và dưới 900 - 1000m ở miền
Nam: Chiếm ưu thế là kiểu hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa. Ở những vùng
núi thấp mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, mùa khô không rõ rệt, hình thành hệ sinh
thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh.
- Ở độ cao từ 600 - 700m đến 1600 - 1700m: đai rừng cận nhiệt đới gió
mùa trên núi với thành phần chủ yếu là các loài cây thuộc họ dẻ, re, hồ đào và
rừng á nhiệt lá đới lá kim như thông, sa mu, pơ mu.
- Từ trên 1600 - 1700m đến 2600m là phạm vi phân bố của rừng á nhiệt
đới mưa mù trên đất alit với các cây ôn đới như đỗ quyên, thiết sam, lãnh sam.
Trong rừng xuất hiện các loại chim thú á nhiệt đới phương bắc như gấu, sóc, cầy,
cáo có bộ lông dày.
- Trên 2600m chủ yếu là quần hệ thực vật núi cao, rừng phát triển kém,
cành lá cong queo.
3.2 Thế mạnh và hạn chế của thiên nhiên các khu vực địa hình đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội
3.2.1 Khu vực đồi núi, bình nguyên và vùng đồi trung du
- Thế mạnh
+ Vùng đồi núi có nhiều cao nguyên rộng lớn, khá bằng phẳng với nhiều
loại đất feralit khác nhau, đất xám phù sa cổ là điều kiện thuận lợi để hình thành và
phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp và cây ăn quả; có nhiều đồng cỏ rộng
18


lớn để phát triển chăn nuôi đại gia súc. Ngoài các cây trồng, vật nuôi nhiệt đới, các
vùng cao có thể trồng các loại cây và nuôi các loài vật cân nhiệt và ôn đới.
+ Địa hình bán bình nguyên và vùng đồi trung du thích hợp để trồng các
loại cây công nghiệp, cây ăn quả và cây lương thực.
+ Phần lớn diện tích rừng tập trung ở vùng đồi núi. Vì thế phát triển lâm
nghiệp là một thế mạnh lớn của vùng đồi núi.
+ Là nơi tập trung nhiều loại khoáng sản, đặc biệt là các mỏ khoáng sản


CHƯƠNG 4: MỘT SỐ BÀI TẬP LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA HÌNH
Bài tập 1: Dựa vào Atlat địa lí và kiến thức đã học hãy trình bày các
kiểu địa hình thuộc khu vực đồi núi nước ta?
Trả lời
Căn cứ vào các dấu hiệu bên ngoài, còn gọi là hình thái và trắc lượng hình
thái của địa hình, có thể phân biệt địa hình đồi núi nước ta thành các kiểu hình
thái địa hình như sau:
- Kiểu địa hình núi:
Kiểu địa hình núi với đặc điểm chung là độ cao tuyệt đối và tương đối khá
lớn. Về ngoại hình, thường là các khối núi hay dãy núi, có độ chia cắt sâu và
sườn dốc lớn.
+ Kiểu địa hình núi cao: có độ cao trên 2000m, chiếm tỉ lệ diện tích không
lớn lắm, tập trung ở biên giới phía bắc từ Hà Giang đến Lai Châu và biến giới
phía tây thuộc 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh như đỉnh Phu Hoạt, Pu Xai Lai Leng,
Rào Cỏ. Tiêu biểu là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Si Păng cao 3143m. Ở
khu vực phía nam dãy Trường Sơn cũng có một số đỉnh cao trên 2000m như
Ngọc Linh, Ngọc Kring, Vọng Phu...
+ Kiểu địa hình núi trung bình: có độ cao tuyệt đối từ 1000m đến dưới
2000m, chiếm diện tích không lớn nhưng cũng được phân bố khá rộng khắp từ
biên giới phía bắc đến phía nam dãy Trường Sơn. Kiểu địa hình này thường có
thung lũng hẹp, sườn dốc 25 - 30 o, có dạng đỉnh núi, khối núi và dãy núi đơn độc
tách biệt với vùng núi cao như đỉnh Phia Ya, Nam Châu Lãnh, Tam Đảo... hoặc
gắn liền với các vùng núi cao ở Tây Bắc, bắc và nam dãy núi Trường Sơn.
+ Kiểu địa hình núi thấp: có độ cao trung bình từ 500m đến dưới 1000m,
thường liền kề với vùng núi trung bình và vùng đồi thành một dải liên tục với các
bậc địa hình cao thấp khác nhau, thậm chí kiểu địa hình này còn gặp ở ngay vùng
đồng bằng và vùng ven biển dưới dạng núi sót như núi Voi, núi Đồ Sơn, núi Bà
Đen, núi Thất Sơn và các đảo ven bờ. Kiểu địa hình này tập trung thành một khu
vực rộng lớn ở Nam Trung Bộ, thành khối núi rời rạc ở Việt Bắc, Đông Bắc và

ở ranh giới giữa vùng nâng và vùng sụt, độ cao tuyệt đối 100 - 200m, độ dốc dưới
8o. Phân bố ở rìa các đồng bằng lớn (vùng trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Đông Nam Bộ) hoặc bên trong các đồng bằng duyên hải
(Móng Cái, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận).
21


- Các kiểu địa hình đặc biệt:
+ Kiểu địa hình caxtơ: thung - động caxtơ(rìa núi Bắc Sơn), núi caxtơ (Pu
Tha Ca - Hà Giang), sơn nguyên caxtơ (Quản Bạ - Đồng Văn), hang động caxtơ
(Phong Nha).
+ Thung lũng và lòng chảo miền núi: Điện Biên, Nghĩa Lộ, An Khê.
Bài tập 2: Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, trình bày và giải
thích đặc điểm địa hình miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ?
Trả lời
1. Khái quát vị trí
Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ có ranh giới phía tây và tây nam nằm ở
hữu ngạn sông Hồng và rìa phía tây và tây nam đồng bằng Bắc Bộ. Phía bắc giáp
Trung Quốc, phía đông và đông nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây và tây nam giáp
miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
2. Đặc điểm chung của địa hình
- Gồm 2 bộ phận chính là đồi núi và đồng bằng:
+ Bộ phận đồi núi chiếm 2/3 diện tích, tập trung ở phía bắc.
+ Bộ phận đồng bằng phân bố ở phía nam.
- Hướng nghiêng chung của địa hình là hướng tây bắc - đông nam do vào
thời kì Tân kiến tạo phần phía bắc, tây bắc được nâng lên cao, trong khi vùng
phía nam, đông nam lại là vùng sụt lún và được bồi tụ.
3. Đặc điểm từng dạng địa hình
a, Miền núi
- Đồi chiếm khoảng 2/3 diện tích toàn miền, phân bố chủ yếu ở phía bắc.

- Hướng mở rộng phát triển của đồng bằng: hàng năm vẫn tiến ra biển ở
phía đông nam với tốc độ khá nhanh (có nơi lên đến 100m) do lượng phù sa của
các con sông mang theo lớn.
Ngoài ra còn có bộ phận thềm lục địa rộng với đặc điểm: nông, rộng và
thoải.
Bài tập tương tự bài tập 2:
- Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, trình bày và giải thích đặc điểm
địa hình miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ?
- Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, trình bày và giải thích đặc điểm
địa hình miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ?
23


Bài tập 3: Dựa vào Atlat Địa lí và kiến thức đã học, chứng minh dạng
địa hình nước ta là địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa?
Trả lời
Địa hình Việt Nam tiêu biểu cho quang cảnh địa hình của vùng nhiệt đới
ẩm giáo mùa, biểu hiện ở:
1. Xâm thực mạnh ở miền đồi núi
Nền nhiệt ẩm cao với một mùa mưa và một mùa khô xen kẽ thúc đẩy quá
trình xâm thực mạnh mẽ, bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị bào mòn rửa trôi...
- Điều kiện nóng ẩm đẩy nhanh cường độ phong hóa, xâm thực, bào mòn,
rửa trôi đất đá trên sườn dốc. Biểu hiện của quá trình này là bề mặt địa hình bị cắt
xẻ, hẻm vực, khe sâu, đất bị bào mòn rửa trôi nhiều nơi chỉ còn trơ sỏi đá, những
hiện tượng đất trượt, đá lở thành những nón phóng vật tích tụ ở dưới chân núi.
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đẩy nhanh tốc độ hòa tan và phá hủy đá
vôi, tạo thành các địa hình caxtơ với các hang động ngầm, suối cạn, thung khô,
các đồi đá vôi sót ở vùng núi đá vôi.
- Khí hậu đã làm sâu sắc hơn, rõ nét hơn tính chất trẻ của địa hình đồi núi
Việt Nam do Tân kiến tạo để lại. Có thể nói quá trình xâm thực bào mòn của do

Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.
- Vùng núi Đông Bắc: Vị trí nằm ở tả ngạn sông Hồng. Bao gồm một loạt
các dãy núi chạy theo hướng cánh cung. Các cánh cung này mở rộng về phía bắc
và quy tụ ở núi Tam Đảo, bao gồm các cánh cung Sông Gâm, cánh cung Ngân
Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều. Hướng các dãy núi là hướng
vòng cung của các thung lũng sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam.
Địa hình thấp dần từ tây bắc về đông nam. Đa số các núi thuộc loại thấp, từ
độ cao 2000m xuống còn 1500m - 500m và thấp dần ra biển. Khu vực mang hình
thái của núi già được trẻ hóa: đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc và độ chia cắt yếu.
Ngoài cánh cung còn có những dải sơn nguyên đá vôi, độ cao trung bình
1000m và chạy dọc biên giới Việt - Trung từ Lào Cai đến Cao Bằng. Trên nền
các sơn nguyên đá vôi có các khối núi cao trên dưới 2000m. Trung tâm là vùng
đồi núi thấp 500 - 600m. Giữa vùng núi và đồng bằng là vùng đồi trung du thấp
dưới 100m.
- Vùng núi Tây Bắc: Khu vực núi nằm giữa sông Hồng và sông Cả, có
hướng nghiêng và hướng núi tây bắc - đông nam. Là khu vực cao và đồ sộ nhất
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status