SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƢỜNG THPT NAM KHOÁI CHÂU
___________________________________
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG HỌC TOÁN CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG NAM KHOÁI CHÂU
Lĩnh Vực
:
Toán học
Tên nhóm tác giả : 1 Lê Thanh Tuấn-Hiệu trƣởng
: 2 Phan Quang Sơn-Tổ trƣởng chuyên môn
: 3 Nguyễn Tƣờng Linh-Giáo viên
Năm học 2015- 2016
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
PHẦN I : SƠ LƢỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Thanh Tuấn
- Ngày tháng năm sinh: 17/8/1965
- Chức vụ: Hiệu trưởng
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
- Trong quá trình công tác và giảng dạy tại trường THPT Nam Khoái Châu
chúng tôi nhận thấy: Trường THPT Nam Khoái Châu là trường khu vực nên
hàng năm chất lượng đầu vào của nhà trường không tốt bằng các trường trung
tâm, trường chuyên của tỉnh. Hầu hết học sinh đầu vào của nhà trường là học
sinh học trường THCS ở xã, số lượng học sinh học THCS chuyên của huyện về
trường rất ít, mỗi khóa chỉ được trên dưới 10 em do đó kiến thức toán cơ bản
của các em hầu như chưa tốt, hầu hết gia đình các em làm ruộng, một số làm ăn
xa nhà… Do đó thời gian quan tâm đến giáo dục con cái không bằng phụ huynh
các trường trong khu vực . Nhận thức được vấn đề, trong thời gian qua, chúng
tôi luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi từ những thầy cô thế hệ trước, nghiên cứu tham
khảo các tài liệu trên mạng internet, tích lũy kiến thức, chúng tôi không ngừng
đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn toán của nhà
trường, giúp các em học sinh cảm thấy hứng thú khi học môn toán, giúp các em
học sinh có nền tảng kiến thức toán chưa tốt tiếp cận kiện thức toán nhẹ nhàng,
suy nghĩ “ Mình (học sinh của mình) làm sao lấy được điểm 10” cho nên trong
quá trình giảng dạy cũng như học tập, một số thầy cô giáo cũng như một số học
sinh không dạy (học) phần kiến thức lấy điểm 9, điểm 10 trong đề thi.
- Các phương pháp giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức khó, nâng cao
tinh thần tự học và sáng tạo của học sinh ở trường trung học phổ thông Nam
Khoái Châu đối với việc học toán; tuyên truyền thay đổi nhận thức của một bộ
phận giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của việc thay đổi làm phong phú
thêm các phương pháp giải dạng toán và tìm tòi các hướng đi mới, hiệu quả là
một việc làm cần thiết, góp phần rèn luyện tư duy, kỹ năng và đặc biệt là thay
đổi thái độ của học sinh khi tiếp cận dạng toán trên, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục môn Toán THPT. Hơn nữa là khơi dậy lòng đam mê Toán học ở
các em từ đó hướng học sinh đến với chân trời mở rộng của Toán học.
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
3
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở
trường THPT Nam Khoái Châu.
- Khảo sát thực trạng học toán của học sinh ở trường THPT Nam Khoái
Châu trong thời gian qua.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng học toán cho học sinh
trường THPT Nam Khoái Châu.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
"Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT phải nhìn nhận vấn đề
một cách rộng rãi và linh hoạt theo ba hướng: phát triển năng lực nội sinh của
người học, đổi mới quan hệ thầy trò, đưa công nghệ hiện đại vào nhà trường."
Cần đặt ra cho HS nhiệm vụ tìm tòi mâu thuẫn, các hiện tượng, những vấn đề,
mối liên hệ mới cần phát hiện "tạo cho HS sự thành công" hiện nay GV không
chỉ dạy kiến thức mà còn phải dạy cho HS cách học. Thông qua đó các em
không chỉ biết tái hiện mà còn biết sáng tạo theo suy nghĩ của mình thông qua
kiến thức được tiếp nhận.
a) Về mặt lý luận
- Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, rèn luyện tính tích cực, tư duy sáng
tạo của người học đã trở thành chủ trương của Đảng và nhà nước. Đổi mới
phương pháp dạy học là vấn đề được quan tâm hàng đầu và cũng là một vấn đề
bức xúc đối với tất cả các cấp học, bậc học ở nước ta hiện nay.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 khẳng định quan điểm định hướng
cho việc phát triển giáo dục và yêu cầu: “Phát huy tính độc lập suy nghĩ và sáng
tạo của HS, sinh viên, để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay
nghề” . Từ những trích dẫn trên có thể khẳng định rằng quan điểm phát huy tính
tích cực, độc lập và sáng tạo là một nội dung trọng tâm của chính sách giáo dục
và quan điểm chỉ đạo giáo dục Việt Nam. Những quan điểm chỉ đạo này được
đặt ra cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông cũng như đào tạo đại học, xuất
phát từ những yêu cầu của xã hội, nhằm làm cho giáo dục đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của xã hội trong việc đào tạo con người. Để thực hiện được
những quan điểm chỉ đạo này cần vận dụng những tri thức khoa học giáo dục,
trước hết là những quan điểm và PPGD tích cực.
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
5
trình như : Cung cấp, trang bị, giới thiệu, hình thành, rèn luyện, nắm vững,
thấm nhuần…).
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
6
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
+ Giáo án đều được thiết kế theo nội dung (theo dàn bài trong giáo trình,
bài giảng, minh hoạ là chính)
+ Ít thể hiện sự tương tác giữa các thành tố của hệ thống dạy – học (hỏi đáp kiểu tìm tòi, phát hiện; thảo luận, nhận xét, cho HS tự đọc giáo trình và trả
lời câu hỏi hoặc tóm tắt nội dung theo hiểu biết của mình…)
+ Chưa kết hợp được sự đánh giá của GV với tự đánh giá của HS, đánh giá
của GV cũng mới chỉ thể hiện ở cuối bài (trong bước củng cố bài) chưa kết hợp
với đánh giá quá trình.
Nguyên nhân của tình trạng trên có thể có nhiều, trong đó một trong các
nguyên nhân khách quan là chương trình và nội dung bài dạy quá dài, GV sợ
cháy giáo án. Hơn nữa, nội dung này lại được trình bày khá đầy đủ, cặn kẽ và
tường minh trong giáo trình; các câu hỏi/ bài tập cũng chỉ ở mức đòi hỏi HS nhớ
lại nội dung đó là trả lời hoặc giải quyết được. Thành thử HS chưa cần cố gắng
và nghị lực cao trong hoạt động trí tuệ hoặc thể lực. Quá trình đó kéo dài làm
cho HS không có hứng thú học tập. Nghĩa là các em bị lâm vào trạng thái học
tập thụ động, thờ ơ với môn học.
1.2. Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học cũng được thể chế hoá trong
luật giáo dục 12/98 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
+ Trong các giờ học, GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức cho HS
thu nhận kiến thức, hình thành kỹ năng thông qua việc tổ chức giờ học dưới
nhiều hình thức tích cực như thảo luận theo nhóm, tổ; học trên lớp; học ngoài
thực tế, kết hợp học kiến thức với rèn kỹ năng, lý thuyết với thực hành thí
nghiệm, làm việc với sách giáo khoa… chú trọng hướng dẫn những vấn đề có
tính thực tế cao để HS có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học giải
quyết các vấn đề trong sản xuất hoặc trong cuộc sống hàng ngày.
Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp hiện nay là làm thế nào để phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập, chống lại thói quen
học tập thụ động đang tồn tại phổ biến hiện nay. Nói cách khác là phải tích cực
hoá hoạt động học tập của HS. Cơ sở pháp chế của định hướng trên là dựa vào
mục tiêu giáo dục phổ thông; yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ
thông trong luật giáo dục cũng như Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế, tăng
cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học v..v…
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
8
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
1.3. Tích cực hoá HS trong dạy học ở THPT
a) Một số khái niệm.
Trước hết, tích cực ở đây được hiểu theo nghĩa là hoạt động, chủ động; trái
nghĩa với thụ động chứ không hàm ý trái nghĩa với tiêu cực và tích cực ở đây là
nói đến tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với đối tượng nhận
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
b) Các tiêu chí đánh giá tính tích cực nhận thức của HS
- Sự tập trung chú ý vào nhiệm vụ học tập .
- Khả năng định hướng nhanh vào mục tiêu học tập.
- Có các biểu hiện của sự hứng thú học tập .
- Tự giác thực hiện nhiệm vụ học tập .
- Độc lập hành động .
- Hăng hái tham gia trao đổi, thảo luận; chủ động nêu vấn đề, câu hỏi và
sẵn sàng bày tỏ suy nghĩ, quan điểm của mình .
- Khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập .
- Suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo.
c) Cơ sở khoa học của tích cực hoá hoạt động của HS
Tính tích cực nhận thức là cơ sở cho tính độc lập và tính sáng tạo
Đó là mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học. Chính vì thế, từ xưa tới nay đã
có nhiều công trình nghiên cứu và công bố kết quả về vấn đề này.
Nội dung của các môn học bao giờ cũng liên quan đến các công việc/hành
động /thao tác kĩ thuật.
Do đó, trong thiết kế bài dạy cần phải quan tâm đến việc phân tích và vận
dụng cấu trúc của hoạt động .
Đặc điểm của hoạt động học tập
Từ các đặc điểm hoạt động, đòi hỏi mỗi chủ thể (HS) phải liên tiếp thực
hiện các hoạt động/thao tác kĩ thuật cụ thể (thao tác trí tuệ hoặc động tác vật
chất) theo một trình tự quy trình nào đó để đạt tới những mục tiêu nhiệm vụ xác
định. Do đó cần phải tính đến sự chuyển hoá giữa các yếu tố vật lý/bên ngoài
(hoạt động, hành động, thao tác) với các yếu tố tâm lí/bên trong (động cơ, mục
đích, phương tiện) của hoạt động .
Kiểu dạy học tập trung vào GV tác động cản trở tính tích cực học tập
a) Một số cơ sở khoa học
Để tích cực hoá HS cần có những điều kiện nhất định (mục tiêu, chương
trình, cơ sở vật chất, phương thức kiểm tra - đánh giá …. ). ở đây chỉ bàn đến
một yếu tố và ở mức độ vi mô ; đó là người dạy có thể / cần phải làm gì và làm
như thế nào để tích cực hoá HS trong dạy học.
Một trong những cơ sở của tích cực hoá HS là lý thuyết hoạt động trong
tâm lý dạy học – cho rằng con người phát triển trong hoạt động và thông qua
hoạt động. Do đó HS phải học trong hoạt động và bằng hoạt động. Luận điểm
khoa học là:
Mỗi một nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất
định (đó là những hoạt động đã được tiến hành trong quá trình hình thành và vận
dụng nội dung đó). Phát hiện được những hoạt động tiềm tàng trong một nội
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
11
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
dung là cụ thể hoá được mục tiêu dạy học nội dung đó, chỉ ra được cách kiểm tra
việc thực hiện những mục tiêu này; đồng thời vạch ra một con đường để HS tự
chiếm lĩnh nội dung đó và đạt được những mục tiêu dạy học khác. Cho nên điều
căn bản của PPGD là khai thác được những hoạt động tiềm tàng trong nội dung
để đạt được mục tiêu dạy học tương ứng với nội dung đó. Như vậy, về mặt
khách quan có thể phân tích nội dung dạy học theo quan điểm hoạt động làm cơ
sở cho việc xác định PPGD. Quan điểm hoạt động trong PPGD có thể được triển
khai theo các bước như sau:
Đặt vấn đề : Mục đích là gợi nhu cầu nhận thức và làm cho HS chấp nhận
một cách tự nhiên, lôgíc về nhu cầu thực tế cần có hoặc cần cải tiến đối tượng
công nghệ (định hướng khái quát vào bài học).
Cách làm :
- GV sưu tầm, thu thập các tư liệu lịch sử có liên quan đến nội dung bài học
(tiểu sử, chân dung các nhà khoa học ; lịch sử ra đời và phát triển của các phát
minh, sáng chế qua các thời kì,...). Chúng thường gắn với và mang dấu ấn của
con người, mốc thời gian, không gian, sự kiện cụ thể, ...
- Phân tích cụ thể các tư liệu trên để rút ra nhu cầu xuất hiện đối tượng có
liên quan đến nội dung bài học: cần có một máy móc, thiết bị mới, một phương
pháp mới, một quy trình mới... đáp ứng đòi hỏi (về vật chất hoặc tinh thần) của
thực tiễn.
- Cách phát biểu nhu cầu trên: có thể thông qua một câu chuyện về lịch sử
kĩ thuật, một thông tin về một vấn đề bức xúc của sản xuất và đời sống trong quá
khứ hoặc hiện tại, ...Tức là cá nhân hoá, hoàn cảnh hoá, thời gian hoá lại tri thức
khoa học trong bài dạy.
Bƣớc 2 : Giải quyết vấn đề và rút ra kết luận
Mục đích là làm cho HS tự giác, chủ động tham gia tìm tòi, “khám phá lại”
tri thức của bài học.
Cách làm -Tổ chức các hoạt động sau :
- GV hướng dẫn HS tổng kết các thông tin ở bước trên, bổ sung kiến thức
(theo nội dung bài học trong SGK).
- Hệ thống và khái quát hoá lại nội dung bài học dưới dạng các sơ đồ tóm
tắt để nêu bật được trọng tâm và lôgíc của bài học.
Bƣớc 3. Vận dụng.
Mục đích để củng cố kiến thức và hướng dẫn cho HS tự học.
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
13
điểm và cách gợi ý giúp đỡ cần thiết,...
- Nhận xét câu trả lời và động viên kịp thời những ý tưởng, đề xuất của HS
(cho dù chưa phải là câu trả lời, phương án đúng nhất).
- Tạo dựng, duy trì mối quan hệ hợp tác tích cực giữa thầy và trò trong quá
trình dạy học.
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
14
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
Trong quá trình dạy học phương tiện dạy học, TBDH là những phương
tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS, giúp HS lĩnh hội kiến thức và rèn
luyện kĩ năng (ví dụ như các vật thật, mô hình, hình vẽ mô phỏng đối tượng...).
Vì vậy GV cần khai thác triệt để thiết bị dạy học đã có và thiết bị dạy học mới
được trang bị để giờ dạy đạt hiệu quả.
Để đánh giá đúng kết quả học tập của HS, GV sử dụng các phương pháp
trắc nghiệm (trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan).
Tóm lại :
- Tích cực hoá hoạt động học tập của HS là một định hướng trung tâm, là
vấn đề cốt lõi của đổi mới PPGD hiện nay.
- Đổi mới dạy học theo hướng này đã có những cơ sở lí luận và cơ sở pháp
chế; đã bước đầu được triển khai trong việc xây dựng chương trình, SGK môn
học ở trường phổ thông, tạo tiền đề cho việc thực hiện.
- Đổi mới dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS còn
đang gặp một số khó khăn, trở ngại như cách nghĩ, cách làm của chúng ta hiện
không ít em sợ toán, coi việc học toán là một công việc nặng nhọc, căng thẳng...
Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên có thể do các em chưa nhận biết tầm quan
trọng và ý nghĩa của việc học toán, chưa được kích thích hành động tích cực,
sáng tạo trong quá trình giải toán...; cũng có thể do nội dung môn Toán khô
khan, phương pháp dạy của GV chưa thật sự hấp dẫn,... Mặt khác, trên thực tế
những nghiên cứu hình thành hứng thú học môn Toán cho HS phổ thông ở Việt
Nam còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đặc biệt đối với HS ở những
vùng nông thôn.
Để tìm hiểu về mức độ hứng thú học toán của học sinh trường THPT
Nam Khoái Châu, năm học 2010-2011 chúng tôi đã tiến hành khảo sát 300 học
sinh: 100 học sinh khối 10, 100 học sinh khối 11 và 100 học sinh khối 12. Ở mỗi
khối chúng tôi đều lựa chọn đồng đều học sinh các lớp.
Kết quả thu được như sau:
Với câu hỏi “Bạn có thích học môn toán không ?” chúng tôi nhận được kết quả:
Mức độ
Rất thích
thích
Chưa quan tâm
Lớp 10
11%
45%
44%
Lớp
Dưới 5 điểm
Từ 7,25
Từ 5 đến 7
đến 8,75
điểm
điểm
Từ 9 đến
Điểm 10
9,75 điểm
Lớp 10
41%
43%
16%
0%
Để tìm hiểu về chất lượng môn toán năm học 2010-2011 chúng tôi đã tiến
hành kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm cho toàn bộ học sinh của ba khối lớp
với tổng số 1243 học sinh, kết quả như sau
Điểm
Từ 7,25
Dưới 5
Từ 5 đến
điểm
7 điểm
10 (412 HS)
44%
41%
13%
2%
0%
11(409 HS)
56%
Chất lượng đầu vào thấp, nhiều em đã đậu vào lớp 10 nhưng điểm thi tuyển
dưới trung bình. HS thường mắc phải những sai sót rất cơ bản trong quá trình
học tập, chẳng hạn làm sai từ các phép biến đổi đơn giản, cách giải các phương
trình, bất phương trình cơ bản…Một số em học sinh lớp 11 do mải chơi, lơ là
trong học tập nên không theo kịp mức kiến thức căn bản, ngoài ra do đặc thù
kiến thức môn toán lớp 11 tương đối khó với phần đông học sinh, chính vì vậy
kết quả khảo sát của các lớp không cao, với khối lớp 12, mặc dù đa số các em đã
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
17
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
ý thức được sự cần thiết của việc học, một số đã có quyết tâm nhưng kiến thức
còn hổng chưa kịp bổ xung nên kết quả không cao. Đặc biệt với cả ba khối lớp,
mặc dù chúng tôi đã quán triệt tinh thần ra đề sao cho sát với sức học của các em
học sinh và phải bám sát cấu trúc của đề thi đại học, tuy nhiên qua khảo sát
không một học sinh nào làm được câu điểm 10, không học sinh nào đạt điểm
tuyệt đối.
Qua tiếp xúc với các em học sinh, chúng tôi nhận thấy hầu hết các em có
quá nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy HS dễ chán nản và không ham thích học
toán, ngoài ra một nguyên nhân quan trọng nữa là khả năng tiếp thu của HS còn
hạn chế và chưa linh động trong việc xử lý các tình huống toán học đơn giản nên
kết quả học tập còn rất hạn chế, bên cạnh đó, đa phần HS chưa xác định đúng
được động cơ và mục đích học tập, không thể hiện được ý thức phấn đấu, vươn
lên.
chung, hoạt động hướng nghiệp nói riêng.
Đội ngũ giáo viên của nhà trường ngày càng được trẻ hoá với ưu điểm là
năng động, nhiệt tình, tích cực, sáng tạo và khá thành thạo trong sử dụng công
nghệ thông tin, thường xuyên tích lũy, học hỏi các phương pháp dạy học mới.
Học sinh của trường là những học sinh được tuyển chọn từ những học sinh
của 6 xã khu nam huyện Khoái Châu. Đa số các em ngoan, nhanh nhẹn, năng động
và sáng tạo.
Mặc dù tuổi đời còn chưa nhiều, nhưng trường THPT Nam Khoái Châu đã có
bề dày thành tích, đó cũng chính là một trong những yếu tố giúp các em họ sinh có
nhiều động lực hơn để vươn lên trong học tập nói chung, học môn toán nói riêng.
Điểm yếu:
- Một số học sinh thiếu niềm đam mê học tập, còn mải chơi.
- Nhiều phụ huynh làm ăn xa, không có điều kiện thường xuyên bên cạnh
đôn đốc, nhắc nhở, động viên con em mình học tập.
- Một số ít GV còn hạn chế về PP dạy học, chưa quan tâm đúng mức đến
việc phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học,
chưa tạo ra bầu không khí tích cực trong quá trình học toán.
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
19
Trường THPT Nam Khoái Châu
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HỌC TOÁN CHO
HỌC SINH TRƢỜNG THPT NAM KHOÁI CHÂU
Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016
- Liên tục giao các bài tập về nhà cho học sinh làm và kiểm tra thường
xuyên, có hình thức động viên học sinh làm tốt, phê bình kỷ luật học sinh lười
làm bài tập, làm không nhiều.
- Nhằm khuyến khích các em tăng thời gian tự học, Kết hợp với phụ huynh
học sinh tôi thường xuyên động viên, kiểm tra việc tự học ở nhà của các em. Từ
chỗ có nhiều em khi mới bước chân vào cấp ba chưa quen với việc thức khuya
học bài, thường đi ngủ sớm, sau một thời gian được thầy cô động viên đã quen
dần với việc thức khuya học bài, chất lượng học nâng lên rõ rệt.
- Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, để tăng cường khả năng
tự học và sáng tạo của học sinh, giúp các em có thể củng cố khắc sâu thêm các
kiến thức khó và giúp các em chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức mới tôi
còn thường xuyên gợi mở cho các em các hướng sáng tạo ra các bài toán cho
riêng mình coi đó như là bài tập về nhà, sau một khoảng thời gian nhất định tôi
yêu cầu các em nộp tôi thẩm định và có hình thức tuyên dương những em sáng
tác ra nhiều bài toán hay, từ đó giúp các em có hứng thú hơn trong học tập
VD1: Khi học về phương trình đa thức, từ bài toán cơ bản: Tìm m để hai
phương trình x2 6 x 2 m 0 (1); và x2 x m 0 (2) không có nghiệm chung.
Bằng cách cho hai phương trình nhân với nhau ta có :
Bài toán: Tìm m để phương trình
x 4 5 x3 4 2m x 2 5m 2 x m2 2m 0 có bốn nghiệm phân biệt
Với ý tưởng như thế các em học sinh của tôi đã “sáng tác” ra nhiều bài
toán tương tự
Bài toán1 : Tìm m để phương trình
x 4 4 x3 5 2m x 2 4m 2 x m2 2m 0 có bốn nghiệm phân biệt
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh
2 x 2 x 6 2 x 2 2 2 x 4 2 x 3 2 x 2 6 x 2
Với ý tưởng từ hệ đối xứng suy ra phương trình vô tỷ, nhiều em đã
“sáng tác” ra các phương trình rất “đẹp” như
x2 2 x 2
5x 1
1
5
3
3
3
x 2 4 x 4 x3 8 2
Với ý tưởng từ phương pháp nhân liên hợp giải phương trình vô tỷ,
nhiều em đã “sáng tác” ra các phương trình rất “đẹp” như
4 4 3x 5 9 5x 7 x 9 x2 9 x 26
5 x 1 7 x 4 x 4 2 x 3 3x 2 2 x 3
2
toán mới
x2 y 2 1
Bài toán: giải hệ phương trình 3 1
1
1
3
2
x x y y y
2
2
2
Với ý tưởng tương tự các em đã “sáng tác” ra các hệ phương trình
2
2
x y 2 x 2 y 1
2
x y x y 2 4y 8y 2
x 2 y 2 6 x 6 y 17
1 x
1 x
2
2
1 x
1 x2
Từ bài toán: tan A tan B tan C 3 3 với mọi ABC nhọn Ta chuyển
được sang
0 x, y , z 1
Bài toán : Cho
Chứng minh rằng
xy yz zx 1
x
y
z
3 3
2
2
2
1 x 1 y 1 z
2
Từ bài toán:Trong mọi ABC ta đều có
: sin 2
A
1 x2 1 y 2 1 z 2
xyz
1 x 1 y 1 z
2
2
2
7
8
VD5 Khi học về tiếp tuyến, từ bài toán viết phương trình tiếp tuyến của đồ thị
hàm số f x
y
2 x2 1
x2 x 4
tại điểm x=1 ta được phương trình tiếp tuyến là
29 x 5
, từ tính chất của tiếp tuyến ta suy ra được f x
P 3 2a 2 6 3 2b 2 6 3 2c 2 6
Bài toán:Cho a, b, c > 0 Chứng minh rằng:
a 3 4b3
b3 4c3
c3 4a 3
5
a b c
2
2
2
2
2
2
3
a ab 2b
b bc 2c
c ca 2a
3.1.2. Tƣ tƣởng coi thƣờng phần kiến thức cơ bản
Để học sinh có thể đạt điểm tuyệt đối khi thi đại học theo tôi trước hết
chúng ta phải giúp các em học sinh làm tốt phần kiến thức cơ bản trong đề thi.
Một thực tế là càng những học sinh giỏi thì các em càng coi thường kiến thức dễ
và việc các em học sinh giỏi lấy được điểm ở câu khó, mất điểm ở câu dễ năm
nào cũng xảy ra, nguyên nhân chủ yếu là do các em chủ quan coi thường phần
Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh