LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), cho vay là
hoạt động chủ yếu, trong đó cho vay ngắn hạn chiếm tỉ trọng lớn nhất và
đem lại thu nhập chính cho ngân hàng. Trong những năm gần đây, các ngân
hàng thương mại đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, song cho vay ngắn
hạn vẫn luôn là hoạt động chủ đạo, đặc biệt là đối với thị trường ngân hàng –
tài chính Việt Nam.
Trong cho vay ngắn hạn, việc mở rộng quy mô cho vay không thể tách
rời việc nâng cao chất lượng cho vay. Do đó, nâng cao chất lượng cho vay là
yêu cầu cấp thiết đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM, là yêu cầu của
nền kinh tế.
Tại SGD I Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, cho vay ngắn hạn là
khoản mục cho vay có tỉ trọng lớn nhất. Trong những năm vừa qua, thực
hiện Đề án tái cơ cấu lại Ngân hàng Ngoại thương (NHNT), chất lượng cho
vay đã được cải thiện nhiều so với thời gian trước đây, tuy vậy vẫn có những
điểm chưa tốt. Mặc dù hoạt động cho vay ngắn hạn mang lại lợi nhuận cao,
và đem lại thu nhập chính cho SGD, đồng thời cũng làm phát sinh các khoản
nợ xấu, gây ảnh hưởng đến hoạt động của SGD.
Từ những vấn đề trên, em đã chọn đề tài:” Nâng cao chất lượng cho
vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại” làm luận văn tốt nghiệp cho
mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
1
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là làm rõ lí luận về chất lượng cho
vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại, bước đầu đưa lí luận kiểm nghiệm,
áp dụng trong thực tiễn để hiểu sâu sắc hơn vấn đề nghiên cứu.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hoạt động cho vay của NHTM về khía cạnh chất
lượng và chỉ giới hạn ở hình thức cho vay ngắn hạn.
Luận văn chọn điểm nghiên cứu thực tiễn tại Sở giao dịch I Ngân hàng
định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
3
1.1.2. Phân loại cho vay của NHTM
Cho vay có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức sao cho phù hợp
với tính chất, đặc điểm của nhu cầu vay và việc quản lý cho vay của ngân
hàng. Có một số cách chủ yếu để phân loại cho vay như sau:
1.1.2.1. Theo đối tượng khách hàng
Theo đối tượng khách hàng, cho vay được phân chia thành:
- Cho vay Chính phủ: Là hoạt động cho vay đối với Nhà nước để tài trợ
cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên. Cho vay Chính phủ thường thể hiện
bằng việc Ngân hàng mua trái phiếu do Kho bạc phát hành.
- Cho vay đơn vị kinh doanh: Là hoạt động cho vay đối với các đơn vị
kinh doanh nhằm tài trợ cho các nhu cầu vốn để kinh doanh. Cho vay đơn vị
kinh doanh được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau phù hợp với
từng nhu cầu vốn cụ thể.
- Cho vay các tổ chức tài chính khác (ngân hàng, công ty tài chính, quỹ
tín dụng…): Là hoạt động cho vay chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thanh
khoản hoặc thanh toán liên ngân hàng.
- Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá
nhân - người tiêu dùng với các mục đích mua sắm tìa sản ,tiêu dùng hoặc
kinh doanh.
1.1.2.2. Theo mục đích sử dụng vốn vay
Theo mục đích vốn vay được sử dụng, cho vay bao gồm:
- Cho vay kinh doanh: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng
cho mục đích kinh doanh. Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá
nhân hoặc là đơn vị kinh doanh, trong đó chủ yếu là các đơn vị kinh doanh.
4
- Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng
cho mục đích tiêu dùng. Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân
(vay để mua tài sản) và Chính phủ (vay cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên).
Ngân hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn cho vay căn cứ vào nhu
cầu vốn, chu kỳ sản xuất – kinh doanh của khách hàng, thời hạn thu hồi vốn
của dự án/phưong án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn
vay của ngân hàng.
Theo thời hạn, cho vay được phân loại thành:
- Cho vay không có thời hạn: Là hình thức cho vay mà việc vay – hoàn
trả của khách hàng là thường xuyên, theo kế hoạch luân chuyển hàng hoá và
kế hoạch doanh thu của khách hàng, không xác định cụ thể thời điểm trả nợ
trên hợp đồng tín dụng.
- Cho vay có thời hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn thu hồi nợ
được xác định cụ thẻ trong hợp đồng tín dụng. Cho vay có thời hạn được
phân chia thành:
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay dưới 12
tháng
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ trên
12 tháng đến dưới 60 tháng.
6
+ Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ 60
tháng trở lên.
Thông thường, hai hình thức cho vay trung hạn và dài hạn được ghép
thành cho vay trung và dài hạn.
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp chỉ giới hạn phạm
vi nghiên cứu là hình thức cho vay ngắn hạn.
1.1.2.5. Các căn cứ khác
Ngoài những căn cứ chính trên, cho vay còn có thể được phân loại dựa
vào một số tiêu thức khác như:
- Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
+ Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là việc cho vay mà ngân hàng yêu
cầu người vay phải có tài sản hợp pháp đảm bảo cho khoản vay. Tài sản này
chính là nguồn thu nợ cuối cùng của ngân hàng. Đó có thể là tài sản để thế
thấp hơn khoản cho vay trung và dài hạn, mức lãi suất cho vay ngắn hạn
thấp hơn mức lãi suất cho vay trung và dài hạn.
- Hình thức cho vay phong phú: Ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng
các loại hình thức cho vay ngắn hạn, như: cho vay ngắn hạn từng lần, cho
vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển… Điều này vừa để
đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng phân
tán rủi ro.
8
- Cho vay ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Đặc trưng cảu
ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, trong đó nhận tiền gửi ngắn
hạn là hoạt động huy động vốn chủ yếu. Cho nên, với sự phù hợp về lãi suất
và thời hạn, các ngân hàng chủ yếu cho vay ngắn hạn.
1.2.2. Lý do cho vay ngắn hạn
1.2.2.1. Xuất phát từ nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Trong sản xuất và kinh doanh, ngoài số vốn ban đầu khi thành lập,
doanh nghiệp còn luôn phải bổ sung, tăng vốn theo quy mô phát triển. Trong
các cách thức huy động vốn khác nhau, doanh nghiệp có thể huy động nợ
bằng việc vay NHTM. Mỗi doanh nghiệp, căn cứ vào nhu cầu vốn, cơ cấu
vốn và chi phí vốn của mình để chọn lựa cách thức huy động nợ phù hợp.
- Xét về cơ cấu vốn, doanh nghiệp vay ngắn hạn vì:
+ Doanh nghiệp thiếu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tình
trạng thiếu vốn lưu động thường xuyên đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm
kiếm các nguồn ngắn hạn. Trong khi các nguồn huy động khác gặp khó khăn
và hạn chế, thì nguồn vốn vay ngắn hạn từ ngân hàng lại tỏ ra dễ tiếp cận và
hiệu quả. Với chức năng huy động và cho vay, là nơi tập trung lượng vốn
lớn, là quỹ đầu tư quan trọngcủa nền kinh tế, NHTM là nơi doanh nghiệp có
thể tìm được nguồn tài trợ lớn, đáp ứng nhu cầu của mình.
+ Doanh nghiệp duy trì một cơ cấu vốn hợp lý. Vay ngắn hạn các
NHTM có thể nhằm duy trì cơ cấu vốn hợp lý của doanh nghiệp. Nói đến cơ
cấu vốn là nói đến tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng nguồn. Các nguồn vốn
vốn trung và dài hạn của ngân hàng do chi phí vốn thấp hơn, thủ tục đơn
giản hơn và khả năng được vay lớn hơn.
1.2.2.2. Là hoạt động đặc trưng của NHTM
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế, là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển
tiết kiệm thành đầu tư. Trong quá trình vận động của nền kinh tế, xảy ra mối
quan hệ giữa hai loại cá nhân và tổ chức:(1) các tổ chức và cá nhân tạm thời
thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập
và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức
thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi
tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại của
hai nhóm này hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ
chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy
thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm.
Quan hệ tín dụng trực tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) đã có từ lâu và tồn tại
cho đến ngày nay.
Tuy nhiên quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về
quy mô, thời gian, không gian Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển
và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính. Ngân hàng - một trung gian tài
chính điển hình này thực hiện việc chuyển tiết kiệm thành đầu tư một cách
hiệu quả nhất: cung cấp những dịch vụ có giá trị từ nhỏ nhất đến lớn nhất,
kinh doanh rủi ro tốt nhất và có khả năng thẩm định thông tin tốt nhất (do
mang tính chuyên môn hoá cao). Vì nguồn lợi lớn mang lại từ nghiệp vụ này
(ở các nước phát triển thì doanh thu từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng
70%, còn ở các nước đang phát triển thì tỷ lệ này còn cao hơn nhiều, chiếm
11
khoảng 80 – 90%) mà ngân hàng đã đứng ra đảm nhận vai trò trung gian tài
chính cho nền kinh tế.
1.2.3. Những trường hợp ngân hàng cho vay ngắn hạn
1.2.3.1. NHTM cho vay ngắn hạn để tài trợ tài sản lưu động
nhờ thu hộ. Ngân hàng này sẽ chuyển tiếp chứng từ đến ngân hàng cần giao
dịch với chỉ thị giao chứng từ sau khi đã thanh toán, hoặc chấp nhận thanh
toán. Trong quá trình thanh toán sẽ có một yếu tố rất quan trọng, đó là yếu tố
thời gian. Chính điều này nảy sinh nhu cầu vốn đối với nhà xuất khẩu. Ngân
hàng bên xuất khẩu hoặc bên nhập khẩu đều có thể thực hiện tài trợ ngắn
hạn cho nhà xuất khẩu.
+ Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu
Khi thoả thuận giữa các bên tham gia xuất nhập khẩu chấp nhận có hối
phiếu kỳ hạn không huỷ ngang, khi chưa đến hạn thanh toán nhà xuất khẩu
có thể mang hối phiếu này đến ngân hàng phục vụ mình xin chiết khấu.
+ Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ
Hình thức tín dụng của ngân hàng trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ
trước khi đến hạn thanh toán.
+ Tạm ứng cho nhà xuất khẩu
13
Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa ngân hàng và nhà xuất khẩu, khách
hàng có thể đề nghị được cung cấp tín dụng giữa chừng trong khuôn khổ
“clean payment” (thanh toán trơn).
+ Bao toàn bộ thanh toán xuất khẩu – Factoring
Đây là hình thức tài trợ xuất khẩu ngắn hạn. Bản chất Factoring là
nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải thu của nhà xuất khẩu. Ngân hàng
thưong mại lớn tiến hành lập các công ty chuyên môn để thực hiện các
nghiệp vụ này.
- NHTM cho vay ngắn hạn đối với mục đích tiêu dùng của cá nhân,
doanh nghiệp
Hình thức tín dụng này trở thành một trong những loại hình tín dụng
tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phảt triển. Loại nghiệp vụ
này giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cá nhân và giúp các doanh
nghiệp có các sản phẩm phục vụ quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh
nghiệp. Hình thức này cũng gồm nhiều loại. Ngân hàng có thể tài trợ cho
Như vậy có thể nói cho vay ngắn hạn không chỉ là phương thức tài trợ
chủ yếu đối với tài sản lưu động, mà còn là một giải pháp hiệu quả trong
việc tài trợ tài sản cố định.
1.2.4. Các phương thức cho vay ngắn hạn chủ yếu
1.2.4.1. Cho vay thấu chi
15
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội (vượt) trên số tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là
hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi
và thời hạn thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá
trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt
quá số dư tiền gửi để chi trả (trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có
tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về
thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự
đoán ngân quĩ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo
điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản.
phần lớn là không có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân
vài ngày trong tháng vài tháng trong năm dùng để chi lương, chi các khoản
phải nộp, mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các
khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
1.2.4.2. Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không
có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Các khách hàng này sử dụng
vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời
vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân
định hạn mức cuối kì. Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên
đến cuối kì, khách hàng phải trả nợ để giảm bớt dư nợ cuối kì không được
vượt quá hạn mức.
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay,
nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu
vay. Sau khi kỉêm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng
sẽ phát tiền cho khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi
khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí
ngân quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành
các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả của từng
lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đề khi khách hàng nộp báo
cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
1.2.4.4. Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể
cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm
hoặc quí, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách
hàng thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn
18
cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thoả
thuận trong 1 năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là
thời hạn ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định
cho vay nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng
như tình hình tài chính của khách hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự
đoán dòng ngân quĩ trong thời gian tới.
Ngân hàng thưong mại là một trung gian tài chính quan trọng, là nơi tập
trung, tích tụ và phân bố đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế. Cho vay là
một hoạt động mang tính chất đầu tư cho nền kinh tế của NTHM. Thị trường
chứng khoán, các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính là các tổ
chức tài chính chủ yếu cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Và trách nhiệm chính cung cấp vốn ngắn hạn cho nền kinh tế thuộc về ngân
hàng thương mại.
Quan hệ cho vay đã hình thành và phát triển trong nền kinh tế hàng hoá.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, cho vay ngày càng trở nên
quan trọng. Nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và đến lượt nền
kinh tế với nhu cầu vốn liên tục gia tăng lại đòi hỏi cho vay phải nâng cao
chất lượng. Nâng cao chất lượng cho vay mà ở đây đề cập đến chất lượng
cho vay ngắn hạn là cần thiết vì:
20
- Nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn để đưa hoạt động cho vay
thích nghi đối với nền kinh tế thị trường, đáp ứng được nhu cầu vốn gia tăng
không ngừng của nền kinh tế.
- Đảm bảo chất lượng cho vay ngắn hạn sẽ đảm bảo vòng quay vốn cho
vay ở mức tính toán đảm bảo nguồn vốn sẵn sàng cho vay tại ngân hàng,
tăng khả năng cho vay của ngân hàng đối với nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng cho vay làm đồng vốn cho vay thực hiện được
mục tiêu vay vốn của doanh nghiệp. Từ đó, thúc đẩy hoạt động đầu tư, tích
cực chuyển tiết kiệm thành đầu tư huy động tối đa vốn trong dân cư cho đầu
tư phát triển. Do đó sẽ giúp làm giảm lượng tiền thừa trong lưu thông, góp
phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ.
- Qua việc cho vay có hiệu quả vào các công trình thuộc nhiều ngành,
lĩnh vực, nền kinh tế đã có những thành tựu phát triển nhất định. Nước ta
ngày càng có uy tín trên trường quốc tế, cải thiện vị trí trong danh mục đầu
tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
- Nâng cao chất lượng cho vay để tăng khả năng cạnh tranh giữa các
dụng hiệu quả sẽ tạo ra hình ảnh tốt, tăng uy tín của ngân hàng, thu hút thêm
được nhiều khách hàng, huy động được nhiều hơn.
- Chất lượng cho vay ngắn hạn làm gia tăng khả năng sinh lợi của các
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, giảm được sự chậm chễ, giảm chi phí nghiệp
22
vụ, chi phí quản lí, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn. Từ đó,
cải thiện được tình hình tài chính, tăng thế cạnh tranh cho ngân hàng.
- Chất lượng cho vay tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng,
bởi vì chất lượng cho vay cho phép ngân hàng có những khách hàng trung
thành và đáng tin cậy. Khi khách hàng có mối quan hệ tốt với ngân hàng, họ
có xu hướng sử dụng nhiều hơn các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Họ
không chỉ gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích thanh toán mà có thể sử
dụng dịch vụ khác như bao thanh toán, quản lí ngân quỹ … điều này tạo ra
những khoản lợi không thể lượng hoá hết được. Và theo các số liệu thống kê
thì doanh thu từ các khách hàng thường xuyên chiếm một tỉ lệ lớn trong tổng
doanh thu của ngân hàng.
1.3. Chất lượng cho vay ngắn hạn
1.3.1. Quan niệm về chất lượng cho vay
Quan điểm về chất lượng cho vay trước đây chỉ được giới hạn trong
phạm vi an toàn cho vay, thể hiện tổn thất phát sinh từ những rủi ro cho vay.
Chất lượng cho vay được coi là cao khi các khoản vay không có tổn thất
hoặc có tổn thất nhưng chỉ trong giới hạn nhất định, và ngược lại khi tổn thất
là lớn thì chất lượng cho vay được coi là thấp. Chính vì thế, khi nói đến khía
cạnh nâng cao chất lượng cho vay thì người ta thường nghĩ ngay đến việc
giảm những tổn thất trong quá trình cho vay.
Tuy nhiên, những chủ thể tham gia vào trong một món vay phải gồm
hai bên: một bên là bản thân ngân hàng - phía cấp vốn, bên còn lại là khách
hàng vay vốn – phía sử dụng vốn. Ngoài ra còn có cơ quan quản lý Nhà
nước. Chính vì vậy, chất lượng cho vay phải được hiểu rộng hơn chứ không
chỉ bó hẹp trong phạm vi xem xét tổn thất từ phía ngân hàng.
pháp luật của Nhà nước, cao nhất là Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế
cho vay, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước và các
văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Trên cơ sở quy chế cho vay của NHTM, hoạt động cho vay có chất
lượng luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp vụ cho vay. Từ
những đặc điểm riêng có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và
đưa ra các quy chế cho vay phù hợp nhất. Cụ thể là các ngân hàng lập ra Sổ
tay tín dụng, trong đó đưa ra các khái niệm, quy định, các quy trình và các
hướng dẫn cụ thể dành cho các cán bộ ngân hàng. Các quy định trong quy
trình cho vay được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp xin vay ở mỗi
NHTM là nhằm thực hiện việc cho vay có chất lượng. Do vậy việc tuân thủ
những quy trình là tiền đề của chất lượng cho vay.
- Trên cơ sở hợp đồng cho vay, khi tiến hành hoạt động cho vay, ngân
hàng và khách hàng sẽ lập nên một hợp đồng tín dụng. Trong hợp đồng tín
dụng sẽ quy định chi tiết về các yếu tố quan trọng như thời hạn vay, mục
đích sử dụng, số tiền vay, phương thức trả nợ, trả lãi và được thể hiện ở
dạng những cam kết. Một khoản vay được coi là có chất lượng khi nó được
thực hiện đúng những cam kết đã kí trong hợp đồng tín dụng. Nếu một
khoản vay mà ngay từ mục đích vay vốn khách hàng đã không tuân thủ theo
đúng cam kết thì khoản vay đó không được coi là có chất lượng. Hoặc khoản
vay mà không được hoàn trả đúng thời hạn, khách hàng khất lần nhiều lần
thì cũng không đạt được chất lượng.
25