MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ - Pdf 30

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
MỤC LỤC
Bảng 10: Vòng quay vốn ngắn hạn của ngân hàng.......................................................3
Bảng 10: Vòng quay vốn ngắn hạn của ngân hàng.....................................................62
CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG TỈNH PHÚ THỌ.......................................................................................74
Thứ hai, về xử lý những phát sinh..........................................................................85
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHCT: Ngân hàng Công thương
TSCĐ: Tài sản cố định
TSNH: Tài sản ngắn hạn
TSDH: Tài sản dài hạn
TSĐB: Tài sản đảm bảo
TG: Tiền gửi
TGTK: Tiền gửi tiết kiệm
TCKT: Tổ chức kinh tế
CV: Cho vay
DNQD: Doanh nghiệp quốc doanh
DNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
XLRR: Xử lý rủi ro
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TNHH NN: Trách nhiệm hữu hạn nhà nước

Bảng 10: Vòng quay vốn ngắn hạn của ngân hàng
Bảng 11: Dư nợ ngắn hạn quá hạn đối với doanh nghiệp từ 2006 – 2008
Bảng 12: Nợ xấu cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp năm 2006-2008
Bảng 13: Mức sinh lời của đồng vốn cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp
từ 2006 – 2008
Bảng 14: Tỷ lệ thu nhập tư cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp so với
tổng thu nhập của ngân hàng từ 2006 – 2008.
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), cho vay là
hoạt động chủ yếu. Trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại đã
mở rộng cho vay trung và dài hạn, song cho vay ngắn hạn vẫn luôn là hoạt
động chủ đạo, đặc biệt là đối với thị trường ngân hàng – tài chính Việt Nam.
Trong cho vay ngắn hạn, việc mở rộng quy mô cho vay không thể tách
rời việc nâng cao chất lượng cho vay. Do đó, nâng cao chất lượng cho vay là
yêu cầu cấp thiết đối với sự tồn tại và phát triển của NHTM, là yêu cầu của
nền kinh tế.
Tại chi nhánh ngân hàng công thương tỉnh Phú Thọ, do đặc trưng là ngân
hàng phục vụ cho công nghiệp và thương mại nên cho vay ngắn hạn nói
chung và cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp nói riêng là khoản mục cho
vay có tỉ trọng lớn nhất. Từ những vấn đề trên, em đã chọn đề tài: “Nâng cao
chất lượng cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng
công thương tỉnh Phú Thọ” làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề là làm rõ lí luận về chất lượng cho
vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của ngân hàng thương mại, bước đầu đưa

Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
CHƯƠNG I
CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong
việc khơi nguồn vốn đến những người vay tiền có các cơ hội đầu tư sinh lời,
đảm bảo cho nền kinh tế vận động nhịp nhàng hữu hiệu. Để hiểu được hoạt
động của ngân hàng trước hết cần xem xét “Bản quyết toán tài sản của ngân
hàng” –đó là bản kê các tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng và đặc trưng
của nó là:
“Tổng tài sản có =Tài sản nợ +Vốn”
Tài sản nợ bao gồm:
*Các khoản tiền gửi có thể phát séc: là loại tiền gửi có thể được thanh
toán theo yêu cầu.
*Các khoản tiền gửi phi giao dịch: bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi
kỳ hạn, đây có thể nói là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng, những
người sở hữu chúng không được quyền phát séc và cũng không được hưởng
nhiều dịch vụ như tiền gửi phát séc, nhưng được hưởng mức lãi suất cao hơn.
*Các khoản tiền ngân hàng đi vay từ NHNN, từ dân cư, từ các doanh
nghiệp, từ các tổ chức tín dụng khác, vay Chính phủ và vay nước ngoài…
Vốn của ngân hàng là của cải thực có của ngân hàng đó. Vốn hình thành
ban đầu của ngân hàng chính là vốn do NSNN cấp (đối với NNTM thuộc sở
hữu của Nhà nước); hoặc góp vốn cổ phần (đối với NHTM cổ phần)… Trong
quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn theo nhiều phương thức khác
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
3
Chuyên đề tốt nghiệp


GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
các tổ chức tài chính khách như các công ty chứng khoán, các công ty bảo
hiểm… Trong thời gian vừa qua, cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ mà bắt nguồn
từ sự sụp đổ của một số tổ chức tài chính lớn của Mỹ, câu hỏi được đặt ra cho
mỗi chúng ta là phải hiểu thế nào về hoạt động và chất lượng cho vay của các
NHTM.
1.1.1. Khái niệm cho vay
Theo quan điểm của Frederici S.Mishkin trong cuốn “Tiền tệ, ngân hàng
và thị trường tài chính”, các ngân hàng thu lợi nhuận bằng cách bán tài sản nợ
có một số đặc tính (một kết hợp riêng về tính lỏng, rủi ro và lợi tức) và dùng
tiền mua được để mua những tài sản có một số đặc tính khác, và trong hoạt
động cho vay, tài sản có này chính là tiền cho vay. Như vậy, các ngân hàng đã
cung cấp dịch vụ chuyển một loại tài sản thành một loại tài sản khác cho công
chúng, và cho vay là một trong những sản phẩm dịch vụ đó.
Theo các văn bản hiện hành liên quan tới hoạt động tín dụng của các
NHTM, cho vay là một nghiệp vụ tín dụng, theo đó, ngân hàng cho vay giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất
đình theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay là hoạt động thông qua sự thỏa thuận giữa bên đi vay và bên cho
vay dựa trên các phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án kinh doanh do
bên đi vay trình cho bên cho vay, bên cạnh đó các khoản vay còn được đảm
bảo bằng tài sản của bên đi vay. Các khoản vay này chứa đựng những rủi ro
vì chúng xuất hiện trước khi diễn ra các hành vi thương mại của bên đi vay, vì
thế chúng phải đảm bảo theo 3 nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.
Thứ hai, khoản vay phải được bên đi vay sử dụng đúng mục đích.
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
5
Chuyên đề tốt nghiệp

- Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá
nhân – người tiêu dùng với các mục đích mua sắm tài sản, tiêu dùng hoặc
kinh doanh.
1.1.2.2. Theo mục đích sử dụng vốn vay
Theo mục đích vốn vay được sử dụng, cho vay bao gồm:
- Cho vay kinh doanh: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng
cho mục đích kinh doanh. Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá
nhân, các hộ gia đình hoặc các tổ chức kinh tế, trong đó chủ yếu là các tổ
chức kinh tế.
- Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho
mục đích tiêu dùng. Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân (vay để
mua tài sản) và Chính phủ (vay cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên).
1.1.2.3. Theo phương thức cho vay
Về phương thức, cho vay có thể bao gồm các loại chính như sau:
- Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay đối với các khách hàng
không có nhu cầu vay thường xuyên, chỉ khi vào thời vụ kinh doanh hay mở
rộng sản xuất mới xin vay. Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng lại
thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân hàng
và khách hàng thoả thuận một hạn mức về số dư trong suốt kỳ hoặc số dư
cuối kỳ. Đây là hình thức cho vay phù hợp đối với khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh
doanh.
- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả
thuận tài trợ dựa trên kế hoạch lưu chuyển hàng hoá và ngân quỹ của khách
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
7
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển

- Cho vay có thời hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn thu hồi nợ được
xác định cụ thẻ trong hợp đồng tín dụng. Cho vay có thời hạn được phân chia
thành:
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay dưới 12
tháng
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ trên
12 tháng đến dưới 60 tháng.
+ Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ 60
tháng trở lên.
Thông thường, hai hình thức cho vay trung hạn và dài hạn được ghép
thành cho vay trung và dài hạn.
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp chỉ giới hạn phạm vi
nghiên cứu là hình thức cho vay ngắn hạn.
1.1.2.5. Các căn cứ khác
- Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
+ Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là việc cho vay mà ngân hàng yêu
cầu người vay phải có tài sản hợp pháp đảm bảo cho khoản vay. Tài sản này
chính là nguồn thu nợ cuối cùng của ngân hàng. Đó có thể là tài sản để thế
chấp hoặc cầm cố.
+ Cho vay không có tài sản đảm bảo: là việc cho vay mà ngân hàng
không yêu cầu người vay phải có tài sản làm vật đảm bảo. Đây chính là hình
thức cho vay đảm bảo bằng uy tín, chủ yếu chỉ áp dụng cho các khách hàng
có tình hình tài chính lành mạnh, làm ăn có lãi. Cũng có thể đó là các khoản
cho vay theo chỉ thị của Chính phủ, các khoản cho vay đối với các tổ chức tài
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
9
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
chính lớn, các công ty lớn trong thời hạn ngắn mà ngân hàng có thể giám sát

tiềm năng của vốn, để biến tiền thành vốn thì tiền phải đưa vào sản xuất kinh
doanh với mục đích sinh lời. Như vậy, vốn là lượng giá trị ứng trước của toàn
bộ tài sản mà doanh nghiệp kiểm soát để phục vụ trong hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Vốn trong họat
động sản xất kinh doanh được tồn tại dưới hai hình thức là vốn ngắn hạn và
vốn trung – dài hạn, hay còn gọi là vốn lưu động và vốn cố định.
“Vốn ngắn hạn” được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn
của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp chính là tài sản lưu
động và đầu tư ngắn hạn theo chuẩn mực kế toán cũ trước đây. Tài sản ngắn
hạn của doanh nghiệp thường gồm hai bộ phận là tài sản ngắn hạn trong sản
xuất và tài sản ngắn hạn trong lưu thông. Tài sản ngắn hạn trong quá trình sản
suất là những vật tư dự trữ nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu… và sản phẩm dở
dang trong quá trình sản xuất. Tài sản ngắn hạn trong lưu thông bao gồm sản
phẩm hàng hóa chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các
khoản phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Có thể phân biệt vốn ngắn hạn
theo hai tiêu chí:
*Theo hình thái biểu hiện, vốn ngắn hạn được chia thành 3 loại:
- Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán:
+ Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển, kim loại quý…
+ Vốn trong thanh toán là các khoản nợ phải thu của khách hàng, các
khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác…
- Vốn vật tư hàng hóa (hàng tồn kho) bao gồm nguyên, nhiên vật liệu,
phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động, sản phẩm dở dang và thành
phẩm.
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
11
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển

Tuy nhiên, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng chỉ dùng nguồn vốn
ngắn hạn để tài trợ cho TSNH cũng như chỉ dùng nguồn dài hạn tài trợ cho
TSDH. Xuất phát từ nhu cầu vốn của doanh nghiệp, các ngân hàng cho vay
đối với doanh nghiệp –đây là một trong những kênh huy động vốn hữu hiệu
của doanh nghiệp. Các NHTM cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp trong
các trường hợp sau:
*NHTM cho vay ngắn hạn để tài trợ tài sản lưu động:
Ngân hàng thương mại thường chia các khoản cho vay của mình thành
cho vay ngắn hạn và cho vay trung và dài hạn. Tùy thuộc vào nhu cầu và
nguyện vọng vay của khác hàng mà sẽ chọn thời hạn phù hợp nhất với mình.
Theo sự phân chia thời hạn thì những món vay dưới 1 năm được xếp vào món
vay ngắn hạn, nó phù hợp với trường hợp tài trợ cho tài sản lưu động của
doanh nghiệp. Các trường hợp cụ thể là:
- Nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn tăng thêm cho sản xuất và kinh doanh,
đối với doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, doanh nghiệp kinh doanh thương
mại, dịch vụ, vốn tăng thêm này chủ yếu để mua nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ, tăng dự trữ, đầu tư vào tài sản lưu động ròng.
- Nhằm tài trợ cho hoạt động xuất, nhập khẩu, tài trợ thanh toán quốc tế
đối với các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu.
Ngân hàng có thể tài trợ ngắn hạn cho nhà nhập khẩu thông qua nhiều
hình thức khi nhà nhập khẩu không có đủ khả năng thanh toán. Cụ thể, ngân
hàng cung cấp các nghiệp vụ sau:
+ Tín dụng cho người đặt hàng và hiệp định khung tài trợ nhập khẩu
+ Cho vay mở L/C
+ Tạm ứng cho nhà nhập khẩu
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
13
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển

Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa ngân hàng và nhà xuất khẩu, khách
hàng có thể đề nghị được cung cấp tín dụng giữa chừng trong khuôn khổ
“clean payment” (thanh toán trơn).
+ Bao toàn bộ thanh toán xuất khẩu – Factoring
Đây là hình thức tài trợ xuất khẩu ngắn hạn. Bản chất Factoring là nghiệp
vụ chiết khấu các khoản phải thu của nhà xuất khẩu. NHTM lớn tiến hành lập
các công ty chuyên môn để thực hiện các nghiệp vụ này.
- NHTM cho vay ngắn hạn đối với mục đích tiêu dùng của cá nhân,
doanh nghiệp.
Hình thức tín dụng này trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng
trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển. Loại nghiệp vụ này
giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cá nhân và giúp các doanh
nghiệp có các sản phẩm phục vụ quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh
nghiệp. Hình thức này cũng gồm nhiều loại. Ngân hàng có thể tài trợ cho khác
hàng bằng tiền mặt, đúng như một khoản cho vay. Ngân hàng cũng có thể cho
vay trả góp bằng cách thanh toán cho nhà cung cấp hàng hoá thay cho khách
hàng, và khách hàng trả nợ ngân hàng theo phương thức trả góp nhiều lần.
*NHTM cho vay ngắn hạn để tài trợ tài sản cố định
Các NHTM thường cho các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn để tài trợ
cho tài sản lưu động. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, đối tượng
tài trợ của cho vay ngắn hạn là tài sản cố định (máy móc, thiết bị, nhà xưởng).
Trong trường hợp này, không thể nói đến sự phù hợp giữa thời hạn của nguồn
huy động và tài sản mà chỉ xét đến lí do tại sao khách hàng lại vay vốn ngắn
hạn để tài trợ cho tài sản cố định. Những lí do mà khách hàng vay vốn là thiếu
vốn tạm thời, duy trì cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng đòn bẩy tài chính. Từ những
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
15
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển

Để được thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi
và thời hạn thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá
trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt
quá số dư tiền gửi để chi trả (trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền
nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời
gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán
ngân quĩ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện
thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản. phần
lớn là không có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài
ngày trong tháng vài tháng trong năm dùng để chi lương, chi các khoản phải
nộp, mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách
hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
1.2.2.2. Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có
điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Các khách hàng này sử dụng vốn
chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay
mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ
tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay,
xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và các
điều kiện bảo đảm nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ
khác nhau.
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
17
Chuyên đề tốt nghiệp


GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
vay. Sau khi kỉêm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ
phát tiền cho khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi
khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân
quỹ cho khách hàng. Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì
hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả của từng lần vay.
Ngân hàng chỉ có thể phát hiện ra vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài
chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
1.2.2.4. Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho
vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quí,
người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thoả
thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp
hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thoả thuận
trong 1 năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn
ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định cho vay nữa
hay không tuỳ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình hình
tài chính của khách hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán
dòng ngân quĩ trong thời gian tới.
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
19
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển

Tuy nhiên, những chủ thể tham gia vào trong một món vay phải gồm hai
bên: một bên là bản thân ngân hàng –bên cấp vốn, bên còn lại là khách hàng
vay vốn – bên sử dụng vốn, ngoài ra còn có cơ quan quản lý Nhà nước. Chính
vì vậy, chất lượng cho vay phải được hiểu rộng hơn chứ không chỉ bó hẹp
trong phạm vi xem xét tổn thất từ phía ngân hàng.
Một hoạt động cho vay được coi là có hiệu quả khi nó đáp ứng được các
mục tiêu của cho vay. Mục tiêu của ngân hàng khi cho vay là: một mặt, tài trợ
vốn cho khách hàng một cách có hiệu quả, giúp khách hàng có vốn để thành
lập, duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh; mặt khác, xét cho vay là hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, mục tiêu là thu hồi nợ và có lãi. Hoạt động
cho vay có chất lượng phải đáp ứng được cả hai yêu cầu trên.
Đối với các chủ thể khác nhau thì quan niệm về chất lượng cho vay sẽ
khác nhau. Đối với NHTM, chất lượng cho vay thể hiện qua quy mô cho vay,
việc đảm bảo các nguyên tắc an toàn trong cho vay, việc mang lại thu nhập
thông qua hoạt động cho vay… Còn đối với doanh nghiệp thì chất lượng cho
vay lại thể hiện qua khả năng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời và đầy đủ, chi phí
vốn hợp lý, hiệu quả mang lại từ việc sử dụng vốn vay. Đối với cơ quan quản
lý Nhà nước thì chất lượng cho vay được thể hiện trên hiệu quả của toàn bộ
nền kinh tế, tính ổn định của thị trường tài chính và hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp.
Chất lượng cho vay là một khái niệm vừa mang tính cụ thể vừa mang
tính trừu tượng. Chúng ta có thể sử dụng một số công thức và chỉ số để cụ thể
để lượng hoá chất lượng cho vay, tuy nhiên đối với những mặt không thể
lượng hoá được thì sẽ sử dụng các chỉ tiêu định tính.
Nguyễn Thị Nga Lớp TCDN 47A
21
Chuyên đề tốt nghiệp

GVHD: ThS. Nguyễn Đức Hiển
1.3.2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cho vay ngắn hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status