NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 3
Tác giả: Lê Thị Thùy Trang
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học số 2 Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn
PHẦN 1 – ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết:
Trong chương trình môn Toán ở tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò
quan trọng. Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học.
Như các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học...đều có nguồn gốc
trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối
quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải
toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người
mới. Có thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm óc độc lập suy nghĩ, óc
sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ
năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ
dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy
để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót.
Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học là
một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học
toán cho học sinh.
Trong khi đó toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn
đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức
thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn.
1
Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển
tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương
Trong quá trình dạy toán nói chung và dạy học sinh giải toán có lời văn nói
riêng, mỗi giáo viên phải luôn cố gắng phấn đấu không ngừng tìm tòi nghiên cứu
tìm ra những phương pháp giảng dạy mới nhất, hiệu quả nhất. Hướng dẫn giảng
dạy như thế nào để phát huy được tính tích cực và linh hoạt của tất cả các đối tượng
học sinh, huy động thích hợp các kiến thức và khả năng để có vào các tình huống
khác nhau, khắc sâu được kiến thức cho các em, giúp các em hiểu được mình để tự
làm chủ kiến thức toán học, biến những kiến thức thầy cô dạy thành những kiến
thức của mình.
2.Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
- Giúp học sinh lập kế hoạch giải bài toán có lời văn một cách dễ dàng.
- Hình thành và rèn kĩ năng giải toán có lời văn
- Từng bước hình thành và phát triển tư duy toán cho học sinh.
- Làm cơ sở cho học sinh học toán ở các lớp trên.
- Giáo dục tính cẩn thận, ý thức vận dụng vào thực tế của học sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Chương trình toán lớp 3 hiện hành.
- Các tình huống cụ thể trong cuộc sống phù hợp với tâm sinh lý và thế giới
quan của học sinh lớp 3.
II.Phương pháp tiến hành :
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm
giải pháp của đề tài:
1.1. Cơ sở lý luận:
- Căn cứ vào chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (Quyết định số
16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
3
- Căn cứ vào chương trình chuẩn hiện nay do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành và chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt đối với môn toán lớp 3.
suy nghĩ tìm tòi cách giải khác của bài toán.
Học sinh đọc cho qua loa, không cần suy nghĩ giải như thế nào?
Đưa ra đề toán học sinh còn chưa được tập trung, không đọc kỹ đề để hiểu yêu
cầu bài tập làm gì?
Giải toán có lời văn học sinh chưa biết cách để thể hiện bài giải, khó nhận ra
đâu là đơn vị, lời giải của bài toán
Học sinh không cảm thụ được đề toán yêu cầu làm gì? và phải làm như thế nào?
Một số em khi gặp đề toán phức tạp hơn thì đã biết biến đổi dạng đã học để giải
bài toán một cách tốt hơn. Tuy nhiên số học sinh này trong lớp thì không nhiều chỉ
ở các em học sinh khá giỏi mới làm được.
Đa số khi gặp các dạng bài toán giải hơi khác một chút thì các em đã không biết
biến đổi đưa về dạng cơ bản hoặc tìm ra cách giải bằng các bước cơ bản đã học.
Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán cũng hạn chế,
chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các
dạng toán, lựa chọn phép tính cũng sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm
lời giải thích hợp với các phép tính. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi
nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán vì thế phải có phương
pháp khắc sâu kiến thức.
Mặt khác học sinh không tích cực tư duy sáng tạo để tìm nhiều cách giải khác
nhau, từ tìm ra con đường ngắn nhất, cách giải hay nhất.
Tóm lại học sinh không nhận ra được yêu cầu cốt lõi ở bài toán có lời văn và
nếu thể hiện thì còn nhiều yếu tố như: trình bày bài giải, cách thể hiện bài giải, cách
nhận ra phép tính cần làm để đáp ứng câu hỏi của bài, cách tìm ra đơn vị, đáp số
của bài… Từ đó học sinh không giải được hoặc giải không hoàn chỉnh được bài
toán có lời văn .
5
- Tình hình thực tế giải các bài toán có lời văn trong môn toán của một bộ
phận học sinh còn nhiều hạn chế.
II. Mô tả giải pháp của đề tài:
1. Thuyết minh tính mới:
- Giáo viên: Thực tế hiện nay còn có nhiều giáo viên khi dạy học thường áp
đặt các em qua nhận biết một số kiến thức về giải toán. Việc dạy học chủ yếu
thường dựa vào tài liệu có sẵn. Vì vậy giáo viên thường làm việc một cách máy
móc và thường ít quan tâm đến việc phát huy tính tích cực tự giác học tập của học
sinh nhất là với đối tượng học sinh trung bình, yếu.
-Học sinh: Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi
nhớ và làm theo mẫu. Do đó việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt
động học tập thường đơn điệu nghèo nàn, ít quan tâm đến phát triển năng lực cá
nhân của học sinh.
Việc dạy- học như vậy đang cản trở rất lớn đến khả năng phát triển năng lực toán
học ở học sinh, cản trở việc đào tạo những người lao động, năng động, tự tin, linh
hoạt, sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày.
Chính vì thế nên khi dạy giải toán có lời văn cần chuyển sang phương pháp
dạy học mới nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, tạo điều kiện cho
giáo viên và học sinh đều tham gia tích cực vào quá trình dạy học để khỏi mắc phải
những sai lầm trên.
Nắm rõ tầm quan trọng của việc “ Đổi mới phương pháp” tôi đã chọn và
nghiên cứu đề tài “ Nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3”
để đưa ra cách hướng dẫn học sinh các cách giải của một bài toán đúng và khắc
phục những hạn chế thường mắc phải trong quá trình giải toán góp phần nâng cao
chất lượng học toán hiện nay. Sau đây là kinh nghiệm “ Đổi mới phương pháp,
nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3” mà tôi áp dụng
trong quá trình giảng dạy bước đầu đạt được hiệu quả một cách rõ rệt góp phần
nâng cao chất lượng giải toán cho học sinh.
7
* Những biện pháp và giải pháp cụ thể áp dụng có hiệu quả để nâng cao
học, sáng tạo cho học sinh.
Để làm được như vậy, sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn giảng dạy cần
giúp Gv tổ chức các hoạt động học tập, thường xuyên tạo ra tình huống có vấn đề,
tìm các biện pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề bằng cách
hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ vấn đề đó, huy động các kiến thức và công cụ đã có
để tìm con đường hợp lí nhất giải đáp từng câu hỏi đặt ra trong quá trình giải quyết
vấn đề, diễn đạt và các bước đi trong cách giải, tự kiểm tra lại các kết quả đã đạt
được, cùng các bạn rút kinh nghiệm về phương pháp giải. Đó là những cơ hội để
rèn luyện ngôn ngữ toán học và tập dượt cho học sinh suy luận, hình thành phương
pháp học tập và làm việc khoa học, giúp học sinh tự pháp hiện và chiếm lĩnh tri
thức mới, tự kiểm tra và tự khẳng định những tiến bộ của mình.
1.2. Đổi mới phương pháp cách tổ chức dạy học về nội dung giải bài toán có lời
văn:
Dạy học toán có lời văn là một trong những con đường hình thành và phát triển
trình độ tư duy ở học sinh (phát hiện và tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh,
phân tích, tổng hợp rút ra qui tắc ở dạng khái quát nhất định...) Tuy nhiên để đạt
hiệu cao, người giáo viên phải biết tổ chức, hướng dẫn cho học sinh (cá nhân,
nhóm, cả lớp ...) hoạt động theo chủ đích với sự trợ giúp đúng mức của giáo viên,
của sách giáo khoa và của đồ dùng dạy học, để mỗi cá nhân học sinh “khám phá”
tự phát hiện và giải quyết bài toán thông qua việc biết thiết lập mối quan hệ giữa
kiến thức mới với kiến thức có liên quan đã học, với kinh nghiệm bản thân (đã học
được ở trường, trong đời sống …)
Với đặc trưng của mạch kiến thức này, cần lưu ý một số điểm mang tính
phương pháp, cách tổ chức dạy học. Cụ thể là:
Điều chủ yếu khi giải toán có lời văn là dạy học sinh biết cách giải bài toán
(phương pháp giải toán) Giáo viên không làm thay, không được áp đặt cách giải.
9
Cần phải tạo cho học sinh tự tìm ra cách giải bài toán (tập trung vào ba bước: Tóm
- ở lớp 3, học sinh cần nắm rõ thế nào là bài toán hợp, giải bằng hai phép tính,
giải bài hợp khác với bài toán đơn (giải bằng một phép tính ở lớp 1, lớp 2 như thế
nào? Trên cơ sở cách giải bài toán đơn mà chuyển sang hình thành các bước giải
của bài hợp (Bài toán đơn có một bước giải, bài toán hợp có hai bước giải mà trong
đó mỗi bước giải có câu lời giải và phép tính tương ứng) Giải bài toán hợp cần chú
ý:
+ Khi tóm tắt bài toán, giáo viên cho học sinh đọc kĩ bài toán. Điều này hết sức
cần thiết nhằm làm rõ giả thiết (bài toán cho gì ?) và kết luận (bài toán hỏi gì ? yều
cầu gì ?) Có thể tóm tắt bằng lời văn hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng. Từ đó học sinh
có thể tìm mối quan hệ giữa “cái đã biết và cái chưa biết” đó là cầu nối để tìm cách
giải quyết một cách hợp lí. Tuy nhiên không nhất thiết phải viết phần tóm tắt vào
phần trình bày lời giải.
+ Khi trình bày lời giải, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ quy trình phải làm:
Viết được câu lời giải và phép tính tương ứng. Cần kiên trì để học sinh tự diễn đạt
câu trả lời bằng lời trước khi viết câu lời giải. Có thể chấp nhận cách diễn đạt tuy
“vụng về” nhưng đúng, rồi giáo viên uốn nắn sửa dần. Cái “khó”của việc giải toán
có lời văn trong toán lớp 3 đối với học sinh chính là trinh bày (viết) bài giải. Điều
này đòi hỏi giáo viên không sốt ruột, vội vàng làm thay học sinh mà phải cho học
sinh tự luyện viết câu lời giải nhiều.
* Tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải:
- Tổ chức cho học sinh tìm hiểu nôi dung bài toán bằng các thao tác:
+ Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm- đọc bằng mắt).
+ Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để tìm hiểu nội dung, nắm bắt bài
toán cho biết cái gì, bài toán yêu cầu phải tìm cái gì ?
- Tìm cách giải bài toán bằng các thao tác:
11
+ Tóm tắt bài toán: Bước đầu học sinh mới giải toán, giáo viên làm mẩu và
hướng dẫn học sinh tóm tắt, các bài tập kế tiếp giáo viên chỉ định, hướng dẫn kiểm
tra học sinh tự tóm tắt (tóm tắt bằng lời, hoặc tóm tắt bằng hình vẽ).
+ Tóm tắt gắn gọn làm nổi bật yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm .
Cách 1: Thửa 1 : 127 kg cà chua.
Thửa 2 : Gấp 3 lần thửa 1 ? kg cà chua
Cách 2 : Thửa 1 :
Thửa 2 :
? kg cà chua
+ Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt (không nhìn đề toán mà nhìn
vào tóm tắt, học sinh tự nêu bài toán theo sự hiểu biết và ngôn ngữ của từng em).
+ Lập kế hoạch giải toán
- Xác định bài toán theo cách thông thường:
+ Tìm số cà chua ở hai thửa ruộng, cần biết những yếu gì? (Biết số cà chua ở
từng thửa ruộng là bao nhiêu kilôgam?).
+ Số kilôgam cà chua ở từng thửa ruộng đã biết chưa? (Biết số kilô gam cà
chua ở thửa thứ 1 là 127 kg, còn số kilôgam cà chua ở thửa ruộng thứ 2 chưa biết).
+ Vậy phải tìm số kilôgam cà chua ở thửa thứ 2.
- Tình tự giải:
+ Trước hết tìm số kilôgam cà chua ở thửa ruộng thứ hai.
+ Sau đó tìm tìm số cà chua ở hai thửa ruộng.
+ Xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố và tìm đúng phép tính thích hợp: Tìm
số cà chua ở thửa ruộng thứ 2 ?
+ Biết số cà chua ở thửa thứ 1 là 127 kg .
+ Biết số cà chua ở thửa thứ 2 nhiều gấp 3 lần số cà chua ở thửa thứ 1.
+ Vậy số kilôgam cà chua ở thửa thứ 2 bằng số kilôgam cà chua ở thửa thứ 1
nhân với 3.
- Bài toán hỏi gì? (Tức là bài toán đòi hỏi phải tìm gì?)
14
Giải bài toán:
- Thực hiện phép tính để tìm điều chưa biết nêu trong câu hỏi
- Trình bày bài giải:
+ Nêu câu lời giải
+ Phép tính để giải bài toán
+ Đáp số
2. Khả năng áp dụng:
2.1. Thời gian áp dụng hoặc thử nghiệm có hiệu quả:
Sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã vận dụng vào việc dạy học toán có lời văn cho
học sinh lớp 3 do mình phụ trách từ tháng 9/ 2012 đến nay. Qua một thời gian áp
dụng sáng kiến trên học sinh lớp 3A của tôi đã có tiến bộ rõ rệt trong giải toán có
lời văn nói riêng và trong môn toán nói chung. Các em không còn ngại khi gặp bài
toán có lời văn nữa mà còn ham thích giải toán có lời văn cũng như biết tìm ra
được nhiều cách giải khác nhau trong một bài toán có lời văn, học sinh nắm vững
cấu trúc và phương pháp của từng dạng toán đã học, biết trình bày lời giải một cách
chính xác, ngắn gọn.
2.2. Có khả năng thay thế giải pháp hiện có:
Những giải pháp trên có thể vận dụng trong các tiết học toán, đặc biệt là dạy
các bài toán có lời văn, giúp học sinh nắm chắc cách giải, tạo sự hứng thú, yêu
thích học toán, nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.
2.3 Khả năng áp dụng ở đơn vị hoặc trong ngành:
- Kết quả nắm bắt kiến thức của học sinh được nâng lên rõ rệt.
- Những giải pháp trên phát huy được tính tích cực, chủ động tìm hiểu kiến
thức của học sinh, các em có hứng thú thi đua học tập.
15
1. Những điều kiện kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp.
16
- Đi từ bài dễ đến bài khó để các em dễ nắm bắt kiến thức hơn.
- Chia loại toán có lời văn này thành các dạng toán nhỏ.
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm được phương pháp giải từng dạng
của bài toán có lời văn.
- Tìm các bài toán điển hình cho dạng đó để hướng dẫn các em tìm ra
phương pháp giải chung.
- Giáo viên giúp cho học sinh lập được kế hoạch giải các bài toán cụ thể.
- Tuỳ theo tình hình thực tế của lớp, giáo viên có thể thông qua việc dạy học
toán để khắc sâu kiến thức.
2. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp.
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm cần thiết,
theo hướng đổi mới hiện đại hoá hiện. Học sinh chủ động trong các hoạt động, giáo
viên chỉ hướng dẫn giúp đỡ các em. Đối với học sinh yếu giáo viên cần ân cần giúp
đỡ, nhắc nhở, khen ngợi kịp thời. Khi giảng dạy luôn theo hướng đổi mới lấy học
sinh làm trung tâm, học sinh học theo hướng tích cực. Với việc thực hiện chương
trình như hiện nay thì kinh nghiệm này có thể vận dụng rộng rãi ở tất cả các lớp và
các đối tượng học sinh.
3. Đề xuất kiến nghị.
Qua quá trình nghiên cứu và tổ chức thực hiện sáng kiến, để dạy giải toán có
lời văn ở lớp 3 nói riêng và giải toán có lời văn trong chương trình toán Tiểu học
nói chung đạt kết quả cao bản thân tôi có một số kiến nghị và đề xuất như sau:
3.1.Đối với Giáo viên:
Để việc dạy học có kết quả, cần đảm bảo tính khoa học, chính xác và tính sư
phạm, đòi hỏi mỗi giáo viên không ngừng tự học, tự bồi dưỡng, tìm hiểu, nghiên
cứu về nội dung, phương pháp dạy học toán, tự hoàn thiện và nâng cao những tri
thức cần thiết, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, biết phát huy năng lực tiếp
18
tốt”. Do đó người giáo viên cần nắm vững phương pháp giảng dạy. Chuẩn bị tốt
cho tiết dạy và áp dụng một cách nhuần nhuyễn linh hoạt. Giáo viên phải luôn quan
tâm giúp đỡ học sinh yếu, uốn nắn sửa sai kịp thời động viên khích lệ học sinh
“Vừa học vừa chơi, vừa chơi vừa học”. Bên cạnh cần có sự thống nhất trong tổ
chuyên môn, tích cực tham gia chuyên đề do tổ, trường tổ chức nhằm góp phần
nâng cao chất lượng.
Hoài Hảo, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Người viết
Lê Thị Thùy Trang
19