1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 2 VĂN BÀN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013 – 2014
TÊN SÁNG KIẾN:
HƢỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH LÀM
BÀI TẬP VÀ BÀI THỰC HÀNH VẼ BIỂU
ĐỒ NHANH TRONG CHƢƠNG TRÌNH
ĐỊA LÝ LỚP 12 TRƢỜNG
THPT SỐ 2 VĂN BÀN
Giáo viên: Bùi Hải Định
Tổ
: Sử - Địa - GDCD
Lào Cai tháng 5 nă m 2014
2
MỤC LỤC
Mục lục.....................................................................................................................1
Các từ viết tắt............................................................................................................2
Tài liệu tham khảo....................................................................................................3
A – PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................4
I. Lí do chọn đề tài....................................................................................................4
II. Mục đich nghiên cứu............................................................................................4
III. Nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu...............................................................4
4
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kĩ thuật biểu đồ - bản đồ ( trang 23 - luận án tiến sĩ, tác giả: Đỗ Vũ Sơn khoa địa lí
trƣờng ĐHSP Thái Nguyên, 2008)
2. Kĩ năng thực hiện các bài tập địa lí THPT ( trang 14, tác giả: Nguyễn Minh Tuệ,
ĐHSP I - Hà Nội, 2005)
3. Các đề thi tuyển sinh vào Đại học và Cao đẳng ( trang 117, 225, 246, 268, 271,
275, 278, Nxb Hà Nội, 2008)
5
A – PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài :
Trong chƣơng trình Địa lí THPT và các bài thực hành có vai trò rất quan trọng,
vừa mở rộng kiến thức vừa giúp các em rèn luyện các kỹ năng địa lí.
Thực hành trong học tập là một khâu hết sức quan trọng đối với quá trình dạy học trong nhà trƣờng. Nó có thể giúp HS nắm đƣợc kĩ năng cả về mặt lí thuyết cũng
nhƣ hành động. Có thể nói đây là hình thức dạy kĩ năng chủ yếu và quan trọng nhất.
Rõ ràng muốn vận dụng đƣợc tri thức vào hành động thì cần phải có kĩ năng, mà kĩ
năng xuất phát từ kiến thức, vì vậy muốn hình thành cho HS đƣợc kĩ năng, nhất thiết
phải làm cho HS vừa có kiến thức lí thuyết vừa có kiến thức hành động.
Thực hành là một loại bài học dạy về kĩ năng, trong đó có hai nhiệm vụ: Cung
cấp kiến thức lí thuyết làm cơ sở cho kĩ năng và cung cấp kiến thức hành động của kĩ
năng.
Trƣớc đây, trong chƣơng trình và SGK Địa lí thƣờng mới chỉ chú trọng đến các
bài dạy kiến thức, mà chƣa chú ý đến các bài thực hành, nên tỉ lệ các bài thực hành
thƣờng quá thấp. Nội dung các bài thực hành cũng tuỳ tiện, nhiều khi đơn điệu, thiếu
hệ thống và chƣa đƣợc sắp xếp theo một trình tự từ dễ đến khó, chƣa bao quát đƣợc
hết các loại kĩ năng cần thiết. Một quan niệm khá phổ biến, xuất phát từ phƣơng pháp
thi tốt nghiệp bộ môn. Đồng thời phát huy đƣợc khả năng vẽ biểu đồ nói chung và vẽ
biểu đồ địa lí nói riêng.
- Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu dựa và kết quả các bài thi học kì và thi tốt nghiệp
từ năm học 2011 – 2012 trở lại đây.
+ Đúc rút kinh nghiệm từ bản thân trong quá trình giảng dạy môn địa lý ở trƣờng
THPT.
+ Học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong và ngoài nhà trƣờng.
+ Tham khảo một số tài liệu nghiên cứu về đổi mới phƣơng pháp dạy học.
IV. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu
- Đề tài có thể áp dụng hoặc làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy địa lí nói
chung và hƣớng dẫn thực hành các kỹ năng xử lí số liệu, vẽ biểu đồ, phân tích, nhận
xét và giải thích trong chƣơng trình địa lí lớp 12 nói riêng ở trƣờng THPT Số 2 Văn
Bàn
- Làm tài liệu tham khảo học tập, ôn luyện thi tốt nghiệp THPT và thi ĐH - CĐ cho
học sinh 12.
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
- Trong các lớp tôi tiến hành thực nghiệm HS đã tích lũy đƣợc những kĩ năng cơ bản
về :
+ Xử lí số liệu
+ Xác định nhanh biểu đồ cần vẽ
+ Vẽ nhanh và đúng biểu đồ theo yêu cầu
7
B – NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận chung của vấn đề :
1. Cơ sở lí luận
Để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo học sinh thành những con ngƣời
năng động, độc lập và sáng tạo, tiếp thu đƣợc những tri thức khoa học, kỹ thuật hiện
Phần III: Địa lí kinh tế 1 tiết
Phần IV: Địa lí các ngành kinh tế 11 tiết
Phần V : Địa lí các vùng kinh tế 12 tiết + 2 tiết ôn tập kiểm tra
Phần VI: Địa lí địa phƣơng 2 tiết
3. Thời lượng, nội dung các bài tập và bài thực hành.
- Nội dung chƣơng trình chủ yếu là các bài lí thuyết, ở cuối mỗi bài thƣờng có từ 3 đến
4 câu hỏi bài tập. Trong đó có khoảng > 50% câu hỏi tái hiện và mở rộng kiến thức,
25% câu hỏi suy luận, < 25% là các dạng bài tập về kỹ năng (trong đó vẽ biểu đồ
khoảng 15%)
II. Thực trạng dạy và học các bài thực hành địa lí lớp 12 ở trường THPT số 2
Văn Bàn :
1. Thuận lợi
- Đa số các tiết thực hành HS đều có hứng thú tham gia học tập tốt, bởi những giờ học
này không nặng về kiến thức lý thuyết, mà chủ yếu rèn luyện kĩ năng thực hành. HS có
cơ hội thể hiện khả năng của mình nhƣ thuyết trình, nhận xét, phân tích , đánh giá...
các em không chỉ ghi nhớ , củng cố kiến thức lý thuyết đã học mà còn biết mô hình
hóa các kiến thức đó qua các bài tập vẽ biểu đồ.
- Một số em HS đã có kĩ năng cơ bản sau khi học song chƣơng trình lớp 10 và lớp 11.
- Bản thân GV khi thiết kế những bài tập thực hành cũng nhẹ nhàng hơn, bởi không
nặng nề về nội dung lý thuyết mà chủ yếu là đi sâu về các bƣớc tiến hành, dẫn dắt học
sinh các thao tác để các em hoàn thanh bài tập.
2. Khó khăn
- Phần lớn HS và một bộ phận phụ huynh coi môn Địa lý là môn phụ nên chƣa thực sự
coi trong, chƣa thực sự chú tâm học.
- HS còn xem nhẹ việc rèn luyện kĩ năng thực hành địa lý so với việc rèn luyện kĩ
năng các môn học khác nhƣ văn, toán, lý hóa, ngoại ngữ... nên rất yếu kỹ năng thực
hành địa lý.
- Nhiều HS chƣa chuẩn bị tốt các đồ dùng học tập cho bài thực hành nhƣ thƣớc kẻ, bút
chì, compa, mấy tính.. còn coi nhẹ yêu cầu các bài thực hành nên cũng ảnh hƣởng nhiều
tới kết quả : Vẽ biểu đồ chƣa đẹp, chƣa chính xác...
Điểm từ 7-
hiện cả cơ cấu và động thái phát triển của một đối tƣợng (1tổng thể) qua thời gian , chỉ
vẽ đƣợc ở giá trị tƣơng đối (%).
3. Cách chọn loại, dạng biểu đồ nhanh - đúng :
Các câu hỏi về kĩ năng vẽ biểu đồ thƣờng có ba phần: lời dẫn (đặt vấn đề), bảng số
liệu thống kê, lời kết (yêu cầu cần làm). Dựa vào những phần trên, HS xác định vẽ
biểu đồ nào thích hợp nhất.
- Phần lời dẫn (đặt vấn đề): Câu hỏi thƣờng có những dạng sau:
+ Dạng lời dẫn có chỉ định: Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu
sử dụng… năm… Từ thông tin này, HS có thể xác định đƣợc dạng biểu đồ cần thể hiện
+ Dạng lời dẫn kín: Cho bảng số liệu sau… hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất… thể
hiện… và cho nhận xét. Ở dạng này, muốn xác định đƣợc biểu đồ cần vẽ, HS cần
nghiên cứu kĩ các thành phần của câu hỏi, phần cuối trong câu kết thƣờng hàm chứa
những gợi ý nên vẽ biểu đồ gì
+ Dạng lời dẫn mở: Cho bảng số liệu sau… Hãy vẽ biểu đồ sản lượng công nghiệp
nước ta phân theo các vùng kinh tế năm… Nhƣ vậy, câu hỏi đã ngầm gợi ý là vẽ một
loại biểu đồ nhất định, với dạng “lời dẫn mở” này, HS cần chú ý vào một số từ gợi mở
trong câu hỏi nhƣ biểu đồ đường biểu diễn: Thƣờng có những từ gợi mở đi kèm nhƣ
“tăng trƣởng”, “biến động”, “phát triển”, “qua các năm từ… đến…”. VD: Tốc độ tăng
dân số của nước ta qua các năm…; Tình hình biến động về sản lượng lương thực…;
tốc độ phát triển của nền kinh tế…; Biểu đồ hình cột: Thƣờng có các từ gợi mở nhƣ
11
“khối lƣợng”, “sản lƣợng”, “diện tích”, “từ năm… đến năm…” hay “qua các thời
kì…”. VD: Khối lượng hàng hóa vận chuyển…, Sản lượng lương thực của…; Diện
tích trồng cây công nghiệp…; Biểu đồ cơ cấu: Thƣờng có các từ gợi mở nhƣ “cơ
cấu”, “phân theo”, “trong đó”, “bao gồm”, “chia ra”, “chia theo”… Nếu bảng số liệu
cho có từ ba mốc năm trở xuống thì vẽ biểu đồ tròn, trên bốn mốc năm thì vẽ biểu đồ
miền.
Đồ thị hay còn gọi là đƣờng biểu diễn hoặc biểu đồ dạng đƣờng, là dạng biểu
đồ dùng để thể hiện tiến trình phát triển, sự biến thiên của các đối tƣợng qua thời gian
*Các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ đường _đồ thị
- Bước 1: Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc (trục đứng thể hiện độ lớn của các đối tƣợng
nhƣ số ngƣời, sản lƣợng, tỉ lệ %.. còn trục nằm ngang thể hiện thời gian)
- Bước 2: Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả 2 trục (chú ý tƣơng quan giữa độ cao của trục
đứng và độ dài của trục nằm ngang sao cho biểu đồ đảm bảo đƣợc tính trực quan và mĩ
thuật)
- Bước 3: Căn cứ vào các số liệu của đề bài và tỉ lệ đã xác định đẻ tính toán và đánh
dấu tọa độ của các điểm mốc trên 2 trục. Khi đánh dấu các năm trên trục ngang cần
chú ý đến tỉ lệ (cần đúng tỉ lệ cho trƣớc). Thời điểm năm đầu tiên nằm trên trục đứng
- Bước 4: Nối các điểm đã xác định lại với nhau, ghi số liệu tƣơng ứng vào các điểm
- Bước 5 : Ghi tên cho biểu đồ và thiết kế chú giải:
+ Ghi tên dựa vào câu hỏi trong đề thi.
+ Thiết kế chú giải:
* Lưu ý :
+ Nếu vẽ 2 hoặc nhiều đƣờng biểu diễn có chung 1 đơn vị thì mỗi đƣờng cần dùng 1
kí hiệu riêng biệt và có chú giải kèm theo
+Nếu vẽ 2 đƣờng biểu diễn có đơn vị khác nhau thì vẽ 2 trục đứng ở 2 bên biểu đồ,
mỗi trục thể hiện 1 đơn vị
+Nếu phải vẽ nhiều đƣờng biểu diễn mà số liệu đã cho lại thuộc nhiều đơn vị khác
nhau thì phải tính toán để chuyển số liệu thô (số liệu tuyệt đối với các đơn vị khác
nhau) sang số liệu tinh (số liệu tƣơng đối, với cùng đơn vị thông nhất là đơn vị %). Ta
thƣờng lấy số liệu năm đầu tiên là ứng với 100%, số liệu của các năm tiếp theo là tỉ lệ
% so với năm đầu tiên. Sau đó ta sẽ vẽ đƣờng biểu diễn.
4.2. Biểu đồ hình cột
13
- Bước 2: Xác định bán kính của hình tròn
Lưu ý: Bán kính của hình tròn cần phù hợp với khổ giấy để đảm bảo tính trực quan và
mĩ thuật cho bản đồ. Trong trƣờng hợp phải vẽ biểu đồ bằng những hình tròn có bán
kính khác nhau thì ta phải tính toán bán kính cho các hình tròn
- Bước 3: Chia hình tròn thành những nan quạt theo đúng tỉ lệ và trật tự của các thành
phần có trong đề bài cho
14
Lƣu ý: toàn bộ hình tròn là 360 độ , tƣớng ứng với tỉ lệ 100% . Nhƣ vậy, tỉ lệ 1% ứng
với 3,6 độ trên hình tròn
+Khi vẽ các nan quạt nên bắt đầu từ tia 12 giờ và lần lƣợt vẽ theo chiều thuận với
chiều quaycủa kim đồng hồ. Thứ tự các thành phần của các biểu đồ phải giống nhau để
tiện cho việc so sánh
- Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ (ghi tỉ lệ của các thành phần lên biểu đồ, tiếp ta sẽ chọn
kí hiệu thể hiện trên biểu đồ)
- Bước 5 : Ghi tên cho biểu đồ và thiết kế chú giải
+ Ghi tên dựa vào câu hỏi trong đề thi.
+ Thiết kế chú giải:
* Một số dạng biểu đồ hình tròn
+Biểu đồ từng nửa hình tròn (thể hiện trên nửa hình tròn nên tỉ lệ 100% ứng với 180độ
và 1% ứng với 1,8 độ. Các nan quạt sẽ đƣợc sắp xếp trong 1 nửa hình tròn)
+Biểu đồ hình vành khăn
*Biểu đồ miền còn đƣợc gọi là biểu đồ diện. Loại biểu đồ này thể hiện đƣợc cả cơ cấu
và động thái phát triển của các đối tƣợng. Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ nhật (hoặc
hình vuông), trong đó đƣợc chia thành các miền khác nhau
Ví dụ: Biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu giá trị sản lƣợng của các ngành nông nghiệp
nhóm A và nhóm B (thời kì 1998 - 2007)
4.4. Biểu đồ miền
Ví dụ :
+
+
+
+
: biểu đồ đƣờng
: biểu đồ tròn.
: biểu đồ cột
: biểu đồ kết hợp ( cột + đƣờng ) .
+
: biểu đồ miền .
- Có bao nhiêu đại lƣợng thì có bấy nhiêu kí hiệu tƣơng ứng, các kí hiệu phải bằng
nhau về kích thƣớc, đƣợc sắp xếp thứ tự từ trên xuống dƣới thẳng hàng với nhau.
- Các kí hiệu luôn luôn có chữ viết đi kèm để làm rõ kí hiệu.
ví dụ :
+
+
: sản lƣợng lƣơng thực qua các năm .
: số dân qua các năm .
16
19
IV . Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
- Bắt đầu từ năm học 2011 – 2012, tôi đã mạnh dạn áp dụng thử nghiệm đối với khối
12 và các lớp tôi trực tiếp giảng dạy. Kết quả cho thấy hầu hết số HS các lớp tôi trực
tiếp giảng dạy và thử nghiệm SKKN, đã có sự chuyển biến về nhận thức và đã có sự
vận dụng sáng tạo các kĩ năng để thực hiện các bài tập.
- Với sự hƣớng dẫn của tôi các em đã nắm chắc và thành thạo các kỹ năng chọn, vẽ
các dạng biểu đồ:
+ HS đã biết xác định đúng dạng biểu đồ cần vẽ.
+ Các biểu đồ khi vẽ chính xác, chia tỉ lệ hợp lí.
+ Học sinh biế cách đặt tên và thiết kế chú giải phù hợp cho từng loại biểu đồ.
- Từ chỗ nắm đƣợc kĩ năng cơ bản, ý thức học của các em đƣợc nâng lên, các em hứng
thú với các bài thực hành. Giờ thực hành trở lên thiết thực vì các em có cơ hội luyện
tập nhiều hơn, đƣợc sửa chữa kịp thời nên điểm số ngày càng đƣợc cải thiện.
- Kết quả học tập bộ môn của khối 12 đƣợc cải thiện rõ rệt so với đầu năm học 2013 2014:
Tổng số HS
Học lực dƣới trung bình
Học lực từ trung bình trở lên
Điểm từ
Điểm từ
Điểm từ
Điểm từ 6,5-
227
- Trong kỳ thi thủ tốt nghiệp năm 2014 trong tổng số 220 em làm bài thi khảo sát duy
nhất một HS chƣa chú giải đúng cho bài làm, 07 HS chia tỉ lệ các phần của biểu đồ
chƣa chính xác .
- Tỉ lệ thi đỗ tốt nghiệp ngày càng đƣợc nâng lên năm 2012 tỉ lệ đỗ tốt nghiệp là 84,3
% , năm 2013 tỉ lệ đỗ tốt nghiệp là 89,5 %.
20
C. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Việc rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh là một việc làm rất cần thiết. Đó là một
quá trình lâu dài cần có sự hợp tác tích cực của cả giáo viên và học sinh, tuy nhiên việc
tận dụng thời gian trong một tiết học, một tiết thực hành trên lớp để bồi dƣỡng cho học
sinh những kĩ năng này là nhiệm vụ của giáo viên.Với mục đích đó và trong khuôn
khổ của đề tài này chắc chắn sẽ không thể đáp ứng đƣợc hết những yêu cầu, mong
muốn của quý thầy cô giáo và học sinh, tuy nhiên phần nào cũng mở ra những hƣớng,
những gợi ý cần thiết để chúng ta tiếp tục hoàn thiện thêm phần kĩ năng địa lí này.
Nội dung đề tài không lớn, phạm vi áp dụng không rộng, tuy nhiên nó đã đề cập
đến nhiều kĩ năng của việc hoàn thành vẽ các loại, dạng biểu đồ địa lí; từ đặc điểm,
cách chọn, cách thực hiện vẽ nhanh, phần hoàn thiện một biểu đồ, các ví dụ minh họa,
(có ví dụ của sách giáo khoa, có ví dụ chỉ mang tính chất minh họa), cho nên phần
hình vẽ minh họa chƣa thật hoàn chỉnh, nội dung bài viết có thể chƣa thật đầy đủ. Tất
cả những điều này mong quý thầy cô giáo cùng đóng góp ý kiến để đề tài hoàn chỉnh
hơn .
II. Kiến nghị
- Đối với các giáo viên giảng dạy khối lớp 12, cần tạo mọi điều kiện về thời gian ở trên