SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"GIÚP HỌC SINH THỰC HIỆN TỐT TIẾT 44 - BÀI TẬP LỊCH SỬ
LỚP 8"
1
MỞ ĐẦU
…Để phát triển tư duy độc lập sáng tạo cho học sinh trong học tập Lịch Sử, điều quan
trọng trước hết là bồi dưỡng niềm hứng thú say mê tự giác trong học tập và nghiên cứu.
Ngành giáo dục nước ta đã và đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc đổi
mới. Không chỉ đổi mới phương pháp dạy học mà ngành còn chú trọng công tác quản lý,
kiểm tra, thi cử nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Từ năm học 2006 – 2007, Bộ giáo
dục phát động phong trào chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục,
chúng tôi cho rằng đây là một chủ trương đúng đắn và là một việc làm có ý nghĩa thực tế
để nền giáo dục nước nhà có bước phát triển vững chắc hơn. Muốn vậy thầy và trò ở các
cấp học cần phải có sự nỗ lực lớn: Thầy trăn trở tìm tòi những những phương pháp tối ưu
để hướng dẫn học sinh học tập tốt; trò phải say mê hào hứng học bài, làm bài đạt kết quả
cao. Học sinh học tập tiếp thu kiến thức có sôi nổi hay không là nhờ vào cách tổ chức
hướng dẫn của người thầy.
Với mong muốn được giúp cho các em ngày càng có nhiều tiết học hay hấp dẫn và
đạt hiệu quả cao, tôi dã chọn lọc nội dung và tìm tòi những phương pháp phù hợp nhất để
hướng dẫn các em thực hiện tôt một tiết bài tập trong chương trình Lịch sử Việt Nam Lớp 8.
A. NHẬN THỨC CŨ - TÌNH TRẠNG CŨ.
I. NHẬN THỨC CŨ:
Trước đây chúng ta quan niệm môn lịch sử chỉ là môn học thuộc lòng, không cần
phải tư duy, không có bài tập. Vì vậy, giáo viên giảng dạy theo lối thuyết trình chứ không
có các dạng bài tập đưa ra để củng cố kiến thức cho học sinh. Còn học sinh thì chỉ học
một cách hời hợt theo nội dung vở ghi, ít khi sử dụng SGK. Kết quả là khi kiểm tra, học
phục quan niệm lâu nay lịch sử không có bài tập. Tiến hành làm bài tập lịch sử giúp giáo
viên có sự say mê tìm tòi, đúc kết được những kinh nghiệm, tình huống trong giảng dạy.
Còn học sinh sẽ hiểu rõ và nhớ lâu hơn những kiến thức cơ bản, tự bồi dưỡng phương
pháp, phát triển tư duy năng lực nhận thức, kiểm tra sức nhớ của chính mình đối với kiến
thức cơ bản.
Thực tế qua mấy năm đổi mới phương pháp dạy học, tôi thấy học sinh rất thích tiết
bài tập. Bởi ở giờ học này các em được khám phá, được thể hiện năng lực nhận thức của
mình. Rất nhiều em muốn lên bảng làm bài, làm cho không khí lớp học sôi nổi hẳn lên.
Tiết bài tập đã trở thành một tiết học bổ ích, kích thích tinh thần học tập của các em và sự
năng động của giáo viên.
II. GIẢI PHÁP MỚI:
1. Phạm vi đề tài:
Có nhiều dạng bài tập khác nhau (trắc nghiệm, tự luận, học theo bản đồ, lập bảng
biểu tổng hợp, so sánh …) tùy vào trình độ của từng lớp mà giáo viên chọn các dạng bài
tập phù hợp để phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng thực hành. Trong đề tài này, tôi
thiết kế một tiết bài tập thuộc chương trình lớp 8 - Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1858
đến cuối thế kỷ XIX. Từ đó giúp học sinh hiểu rõ hơn về một thời kỳ đen tối trong Lịch
sử nước ta - thời kỳ bị thực dân Pháp đô hộ.
2. Mục tiêu của tiết học:
* Về kiến thức: Ghi nhớ được những sự kiện cơ bản của giai đoạn lịch sử từ khi
thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858) đến cuộc khởi nghĩa trong phong trào
Cần Vương chấm dứt và khởi nghĩa Yên Thế (cuối thế kỷ XIX).
*Về tư tưởng: Làm cho học sinh có thái độ căm thù quân xâm lược đã giày xéo
mảnh đất quê hương, từ đó nâng cao lòng yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm của
dân tộc.
*Rèn luyện kỹ năng: Đánh giá sự kiện, học theo bản đồ, nhận diện nhân vật lịh sử,
lập bảng tổng hợp, trình bày một vấn đề.
3. Phương pháp chính : Tổng hợp - So sánh - Minh họa - Tái hiện.
*Yêu cầu:
- Đối với dạng trắc nghiệm ghép đôi ( nối thời gian - sự kiện), học sinh ghi nhớ
được một số sự kiện cơ bản nhất của thời kỳ lịch sử từ 1858 đến cuối thế kỉ XIX và sắp
xếp hệ thống sự kiện theo trình tự thời gian diễn ra. Nội dung sự kiện phải được ghi đầy
đủ, đúng, gọn, rõ
- Đối với dạng trắc nghiệm điền đúng - sai, học sinh cần phải đọc kỹ bài tập và
nắm chắc nội dung vấn đề lịch sử để xác định đúng.
*Nội dung:
1.1.- Nối cột I (Thời gian) với cột II (nội dung sự kiện) sao cho phù hợp:
Cột I
Cột II
- 1- 9- 1858
Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc kỳ lần thứ
- 5 -6 -1862
nhất.
- 20 - 11- 1873
Triều đình ký với Pháp điều ước Nhâm tuất
- 25 - 04 - 1882
Thực dân Pháp xâm lược nước ta.
ghi vào vở.
Đối với lớp khá, thay cho việc nối sự kiện, tôi chỉ viết thời gian ở cột I và cho học
sinh lên bảng điền nội dung sự kiện vào cột II. Yêu cầu cao hơn ở chỗ học sinh phải nhớ
chính xác sự kiện mới điền đúng được.
Bài tập này, chúng ta cũng có thể ra dưới một dạng khác đó là trắc nghiệm kết hợp
với tự luận: Em hãy xác định nội dung các sự kiện lịch sử:
1- 9 - 1858; 5 - 8 - 1862; 20 - 11 - 1873; 25- 4 - 1882;
6 - 6 - 1884; 5 - 7 - 1885;
13 - 7 - 1885
Sau đó diễn đạt bằng một bài luận lịch sử thể hiện thái độ, hành động của nhân dân ta và
của triều đình phong kiến trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
Đối với bài tập 1.2: Sau khi các em làm, giáo viên chữa và giúp học sinh hiểu sâu
hơn về một vấn đề lịch sử.
Ví dụ ở câu a: Trong SGK lịch sử lớp 8 - Bài 24 viết" Sau nhiều lần khiêu khích,
lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta." Nếu giáo viên
không làm rõ nguyên nhân sâu xa của việc Pháp xâm lược Việt Nam mà chỉ nói theo
SGK thì khi học sinh làm bài tập này sẽ xác định đây là câu đúng. Như vậy khi chữa bài
giáo viên phải phân biệt cho học sinh rõ nguyên nhân sâu xa Pháp xâm lược Việt Nam là
do nhu cầu về thị trường, thuộc địa… Còn việc bảo vệ đạo Gia Tô chỉ là cái cớ để thúc
đẩy tiến trình xâm lược của Pháp nhanh hơn mà thôi.
Tương tự ở câu d, học sinh có thể sẽ nhầm tưởng do có chiếu Cần Vương nên mới nổ ra
phong trào Cần Vương mà không hiểu được rằng lòng yêu nước, ý thức chiến đấu dành
độc lập, là gốc của mọi phong trào yêu nước của nhân dân ta.
Bài tập 2: Xác định địa danh lịch sử
*Mục đích:
Học sinh nhớ các địa danh lịch sử
Địa danh có cuộc khởi nghĩa.
- Học sinh quan sát kỹ bản đồ, ký hiệu ở từng vùng trong 2 phút. Sau đó cho các
em lên bảng viết tên địa danh vào các ký hiệu (mỗi em viết 4 địa danh)
Bài tập 3: Nhận diện nhân vật Lịch sử:
* Yêu cầu: Học sinh nhớ tên các nhân vật lịch sử, hình ảnh đặc điểm nhận dạng
tính cách nhân vật và đóng góp của họ đối với đất nước.
* Nội dung:
Trong giới hạn bài tập tôi chỉ đưa ra các nhân vật đã có ảnh trong sách giáo khoa : Hoàng
Diệu, Vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng
Hoa Thám.
Còn một số nhân vật khác thì yêu cầu học sinh về nhà sưu tầm ảnh (Trương Định,
Nguyễn Trung Trực, Phan Thanh Giản, vua Tự Đức).
* Phương pháp:
- Giáo viên phóng to các ảnh chân dung các nhân vật lịch sử (NVLS) trong SGK
thuộc thời kỳ này và chuẩn bị một số nam châm nhỏ để đính ảnh vào tờ bìa lớn.
HOÀNG DIỆU ( 1829 - 1882)
HÀM NGHI (1872 - 1943)
TÔNTHẤT THUYẾT ( 1835 -1913)
NGUYỄN THIỆN THUẬT (1844 -1926)
HOÀNG HOA THÁM ( 1858 -1913)
PHAN ĐÌNH PHÙNG (1847 -1895)
Ảnh
NVLS
?
?
?
lên trình bày, còn NVLS nào nữa thì hướng dẫn
các em về nhà làm tiếp.
Giáo viên căn cứ vào phần trình bày của học sinh để bổ sung thêm hoặc kể chuyện
minh họa về nhân vật đó.
* Bài tập này cũng có thể chuyển sang dạng khác, đó là giáo viên đọc một vài
thông tin nổi bật giới thiệu về NVLS và yêu cầu học sinh cho biết "Ông là ai?".
Ví dụ: Về nhân vật Phan Đình Phùng.
* Thông tin chính:
- Quê ông ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thi đỗ tiến sỹ, làm quan.
- Ông có tính cương trực, khảng khái; bị cách chức đuổi về quê; ông đã hưởng ứng
phong trào Cần Vương, mộ quân khởi nghĩa và trở thành người lãnh đạo tối cao của khởi
nghĩa Hương Khê.
- Ông nổi tiếng là người nhân hậu với nghĩa quân và nhân đạo với quân giặc.
- Ông mất cuối năm 1895.
* Câu hỏi: Ông là ai?
Đáp án: Phan Đình Phùng
Tương tự như vậy với các nhân vật lịch sử khác, giáo viên cũng bằng cách cho các
nghĩa
gian
cứ
đạo
yếu
Ba Đình
……
……
……
……
Bãi Sậy
…..
…..
…..
…..
* Phương pháp: Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm để thảo luận:
+ Nhóm 1 + 3: làm câu 5.1
+ Nhóm 2 + 4: làm câu 5.2
Sau đó cho đại diện các nhóm đứng dậy trình bày, hoặc giáo viên thu phiếu và
chấm nhanh kết quả.
* Kiến thức cơ bản của bài tập này là:
5.1: - Việt Nam mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc.
- Triều đình Huế chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp.
- Mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm,
thực chất triều Huế chỉ là bù nhìn.
5.2: - Thành phần lãnh đạo là nông dân.
- Đánh giặc bằng nhiều cách: Du kích, vận động, hòa hoãn, bắt cóc con tin.
- Dựa vào dân, được dân ủng hộ.
* Dựa vào nội dung bài tập này, giáo viên bình ngắn: Từ một nước phong kiến độc
lập, do thái độ đầu hàng từng bước đi tới đầu hàng hoàn toàn của Triều Nguyễn mà nước
ta đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, bị thực dân Pháp đặt ách cai trị, đô
hộ. Tuy nhiên nhân dân ta đã kiên quyết đứng lên kháng chiến liên tục, bền bỉ, kéo dài để
bảo vệ quê hương đất nước, làm chậm quá trình xâm lược của thực dân Pháp. Các cuộc
khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương và phong trào nông dân Yên Thế đã chứng minh
điều đó.
Liên hệ lịch sử địa phương Diễn Châu: Thời kỳ này có tiến sỹ Nguyễn Xuân
Ôn quê ở Diễn Thái là nhà nho yêu nước đã hưởng ứng chiếu Cần Vương tập hợp lực
lượng kháng chiến lâu dài. Nghĩa quân đánh nhiều trận ở Yên Lý, Diễn Châu, Xã
Đoài…Bị giặc mua chuộc nhưng ông vẫn không chịu khuất phục…
Cuối cùng, giáo viên ra bài tập về nhà(...) và hướng dẫn chuẩn bị bài sau(...)
C. KẾT QUẢ SAU KHI ÁP DỤNG SKKN.
Với những cố gắng và sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên và tinh thần học tập của
học sinh, tôi thấy một tiết bài tập rất sôi nổi, hào hứng với các em. Các em vẫn muốn làm
7
8
5
6
< 5.
Tỉ lệ % Sốlượng
Tỷ
lệ Số
%
lượng
Tỷlệ %
Số
Tỷlệ
lượng
%
2
4,4
46,2
20
44
23
50,6
13
26,6
17
37,4
10
22
7
15,4
1
2,0
cao hơn, tránh những tiêu cực trong thi cử. Đó cũng là mục tiêu của cuộc vận động "2
không" của Bộ giáo dục đang phát động hiện nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn, và đón nhận những ý kiến đóng góp của các anh chị và
đồng nghiệp để giáo án, tiết dạy của mỗi chúng ta ngày càng hoàn chỉnh, có chất lượng
cao!
Diễn Trường, ngày 10 tháng 6 năm 2008
NGƯỜI VIẾT
Nguyễn Thị Oanh.