SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN THUYẾT MINH CHO HỌC
SINH LỚP 10 THPT”
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn thứ hai của quá trình Công nghiệp hoá- hiện
đại hoá với mục tiêu phấn đấu là đến năm 2020, nước ta sẽ trở thành một nước Công
nghiệp. Để theo kịp xu thế chung của thế giới, chúng ta đã và đang chú trọng đầu tư cho
giáo dục với mục tiêu là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
tri thức, sức khoẻ, thẫm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(điều 2 chương I- Luật
giáo dục).
Để thực hiện những mục tiêu đó, ngành giáo dục đã và đang tiến hành những đổi
mới cải cách về nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục toàn diện cho học sinh nói
chung và cho học sinh THPT nói riêng. Và một trong những yêu cầu đặt ra đối với giáo
viên THPT trong thế kỉ mới là tổ chức các hoạt động dạy- học theo hướng tích cực hoá
hoạt động học tập của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm... Bộ môn Ngữ văn cũng
không nằm ngoài quy luật chung đó. Môn Ngữ văn hiện nay được xây dựng trên quan
điểm tích hợp: ba phân môn Văn học, Tiếng việt, Làm văn được kết hợp thành một bộ
môn có tên gọi là Ngữ văn.
Làm văn là một trong ba phân môn của Ngữ văn và nó đóng vai trò quan trọng
trong việc cung cấp các tri thức cơ bản về các kiểu văn bản. Bài làm văn là sản phẩm tinh
thần, kết tinh sự nhận thức, vốn sống, là bằng chứng thể hiện năng lực vận dụng kiến
thức, kĩ năng, tạo lập văn bản để bộc lộ xúc cảm, trí tuệ, tình cảm nhân văn của học sinh.
Nhiệm vụ chủ yếu của Làm văn trong nhà trường là rèn luyện các kĩ năng: tìm hiểu đề,
tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn…Thành thục các kĩ năng này học sinh sẽ viết được bài văn rõ
ràng, mạch lạc, đầy đủ ý, đúng yêu cầu.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1. Phân biệt văn thuyết minh với các kiểu văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị
luận:
Thuyết
minh
Kiểu văn bản cung cấp tri thức khách quan, xác thực, hữu
ích.
Tự sự
Trình bày chuỗi sự việc theo một trình tự, có nhân vật và
hành động, ngôn ngữ của nhân vật để thể hiện diễn biến sự
việc
Miêu tả
Tái hiện hình ảnh của người, vật, việc một cách sinh động để
người nghe, đọc như thấy nó đang ở ngay trước mắt.
Biểu cảm Bộc lộ tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, thái độ, đánh giá chủ
quan của người viết, truyền tải cảm xúc, tình cảm ấy tới
người đọc, người nghe.
Nghị
luận
Người viết, người nói xác lập tư tưởng, quan điểm và thuyết
phục người đọc, người nghe đồng tình với mình
Lá và hoa cúc có nhiều biến hoá nhiều vẻ. Phân loại theo hình dạng lá thì cúc có:
cúc lá tròn, cúc lá sen, cúc lá mỏng. Phân loại theo hình dạng hoa thì cúc có: cúc cánh
hoa bằng, cúc cánh hoa hình ống, cúc cánh hoa sợi. Màu hoa cúc, ngoài màu lam thì còn
có nhiều màu khác như đỏ, vàng, trắng, lục, tím, thôi thì đủ loại.
Giống cúc đã nhiều mà tên cũng lắm. Trải qua bao các nhà văn, các hoạ sĩ, các
nghệ nhân trồng tỉa quan sát, liên tưởng và bài viết thì tên gọi của nó cũng có nhiều cái
hay, nào là hạnh hoa, xuân vũ, thập trượng chu liêm, chu sa đỗ đơn, thu thuỷ phù dung,
xích long đằng huy, tuý Dương phi…Nghe tên mà ta có thể hình dung ra dáng vẻ kiều
diễm của hoa.
Vào cuối thu, khách dạo gót bên cánh hoa cúc, trước mắt là cảnh tượng muôn màu
khoe sắc. Những bông hoa cúc lạ mắt thướt tha, có bông như rồng bay hổ vờn, có bông
thì nõn nà đứng sát nhau, có bông thì lung linh trong suốt, có bông thì rực rỡ như mặt
trời hồng, có bông thì lại tinh khiết như ánh trăng, có bông lất phất như lông vũ, có bông
quý phái như mệnh phụ. Các bông cúc có bông tựa, bông nghiêng, bông hướng lên, bông
chúc xuống, như đang ca hát, đang nhảy múa, đang mỉm cười…khoe sắc, khoe dáng
khiến ta ngắm nhìn mãi không chán mắt”
b. Phải làm rõ mạch thuyết minh
Mạch lạc là yếu tố cần thiết cho mọi thể văn.Với văn bản thuyết minh thì yêu cầu
này càng cao. Bởi lẽ: mục đích chính của thuyết minh là đem đến cho người đọc một vốn
hiểu biết tương đối hoàn chỉnh về đối tượng (dù chỉ là hoàn chỉnh về một mặt, một
phương diện nào đó). Vậy nên, các tầng thứ trình bày càng rành mạch, rõ ràng, tuân theo
tính quy luật của đối tượng thì chắc chắn sự lĩnh hội ở người đọc sẽ dễ dàng và mang tính
khoa học cao.
Sự mạch lạc trong văn thuyết minh cũng sẽ hiển thị ở trình tự trình bày. Sự vật
khách quan muôn hình muôn vẻ, bởi vậy trình tự thuyết minh cũng phải hết sức linh hoạt.
Có thể thuyết minh theo trình tự: thời gian, không gian, phương diện, cấu trúc…miễn sao
hợp lí, lôgic, rõ ràng, dễ hiểu.
4. Các phƣơng pháp thuyết minh
minh càng có thêm tính khoa học chính là nhờ vào phương pháp này. Đoạn văn thuyết
minh về hoa quân tử lan là dùng phương pháp này.
“ Ta chỉ cần chăm sóc đúng cách, từ khi trồng đến khi đơm hoa chỉ khoảng 3 năm.
Năm nào cây giống đâm chồi lá thì năm sau sẽ được 5 đến 6 lá, hai năm sau là 8 đến 10
lá, ba năm sau là 15 đến 20 lá. Lúc này sẽ đơm hoa. Nếu ta chăm sóc không đúng cách
thì giống quý sẽ bị kém đi, không đơm hoa được”
g. Phương pháp phân loại phân tích
Đối với những loại sự vật đa dạng, sự vật có nhiều bộ phận cấu tạo, có nhiều mặt
người ta dùng phương pháp này. Đây là cách chia đối tượng ra từng loại, từng mặt để
thuyết minh
Chẳng hạn, muốn thuyết minh về một thành phố, có thể đi từng mặt: vị trí địa lí,
khí hậu, dân số, lịch sử, con người, sản vật…
h. Dùng hình thức tự thuật.
Một trong những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong văn thuyết minh là cho
sự vật tự thuật về mình .
Như vậy, khi làm một bài văn thuyết minh phải vận dụng nhiều phương pháp khác
nhau. Bởi vì văn bản thuyết minh do yêu cầu nội tại, đòi hỏi sự đa dạng của các phương
pháp trình bày. Đây là một đặc trưng quan trọng trong phương pháp viết bài văn thuyết
minh.
5. Quy trình làm bài văn thuyết minh.
Làm một bài văn thuyết minh cũng phải tiến hành qua 5 bước: Tìm hiểu đề , tìm ý,
lập dàn ý, viết văn bản, kiểm tra.
II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Thực tiễn trong quá trình dạy và học văn thuyết minh ở trường THPT, giáo viên và
học sinh gặp một số thuận lợi và khó khăn,
Trước hết, văn thuyết minh là kiểu loại văn bản mới mẻ nhưng cũng rất thông dụng
trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội nhất là đã học ở THCS. Vì vậy, người giáo viên có
điều kiện tìm được nhiều ví dụ quen thuộc trong đời sống hàng ngày để học sinh có thể
Đối với học sinh, thực tế việc viết văn thuyết minh cũng có những hạn chế. Để viết
tốt một bài văn thuyết minh, bên cạnh các kĩ năng làm bài văn, học sinh còn cần có các tri
thức về đặc điểm, tính chất, lai lịch, nguồn gốc của đối tượng cần thuyết minh. Tuy
nhiên, với một số sự vật, hiện tượng, học sinh rất khó tìm thấy tư liệu, đặc biệt là tư liệu
về nguồn gốc, lịch sử. Có nhiều nguồn để học sinh tìm tư liệu như qua sách báo,
internet…Nhưng không phải em nào cũng có điều kiện để tìm được tư liệu đủ và chính
xác. Điều này dẫn đến khâu tìm ý của học sinh gặp khó khăn. Bài làm của các em còn
chưa có nhiều ý phong phú, các ý tản mạn hay sự sắp xếp ý của các em cũng còn chưa
thực sự hợp lí, khoa học nên bài viết còn lan man.
Trong quá trình viết bài, học sinh cũng chưa thực sự đảm bảo về ngôn ngữ. Văn
thuyết minh đòi hỏi cách trình bày tri thức khoa học. Vì vậy học sinh cũng cần viết câu
văn mang phong cách khoa học, chính xác, ngược lại với cách viết văn biểu cảm…
Có thể nói, trên thực tế, việc hướng dẫn để học sinh viết tốt bài văn thuyết minh là
một công việc đòi hỏi nhiều sự nỗ lực của giáo viên. Và chính người học sinh cũng cần
có nhiều cố gắng trong quá trình học văn thuyết minh. Bởi lẽ, hiện nay, nhiều học sinh
xuất hiện tâm lí ngại khi phải làm bài văn thuyết minh. Điều đó dẫn đến việc một số học
sinh còn có thói quen ỷ lại vào văn mẫu để trả bài trên lớp. Nguyên nhân trên dẫn đến
chất lượng bài văn thuyết minh do học sinh tạo lập có chất lượng chưa cao…
Xuất phát từ thực tiễn dạy và học văn thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn 10
(những thuận lợi, khó khăn, những việc đã làm được, những hạn chế gặp phải), việc
hướng dẫn các kĩ năng làm văn gắn với kiểu văn bản thuyết minh cho học sinh là điều
cần thiết. Đặc biệt, văn thuyết minh là kiểu bài cung cấp tri thức khoa học nên vấn đề
phương pháp càng cần được quan tâm để giúp học sinh có chất liệu phong phú để viết bài
giúp các em tự tin hơn, cố gắng tạo ra được một bài văn thuyết minh tốt- một sản phẩm
mang tính cá nhân người viết.
III. GIẢI PHÁP VÀ CÁCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN VẤN ĐỀ
1.Phƣơng pháp dạy lý thuyết “Phƣơng pháp thuyết minh”:
Trong dạy học tập làm văn nói chung và trong dạy học văn thuyết minh nói riêng
thì phương pháp phân tích và dạy học theo mẫu, có thể nói là phương pháp tối ưu hơn cả.
Nhưng muốn sử dụng thành thạo và hiệu qủa phương pháp này thì người giáo viên phải
- Giáo viên lựa chọn, sửa chữa, nâng cao những bài, những đoạn viết phù hợp từ
những bài tập làm văn của học sinh.
* Phân tích mẫu:
- Vấn đề hệ thống câu hỏi phân tích - tổng hợp được tính toán kỹ lưỡng để tới mục
đích hình thành khái niệm lý thuyết.
- Vấn đề học sinh đọc mẫu, trả lời các câu hỏi và tự hình thành khái niệm lý thuyết
1.2. Minh hoạ: Minh hoạ cụ thể phương pháp dạy học theo mẫu trong dạy học
phương pháp thuyết minh trong văn thuyết minh:
a. Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích:
* Bước 1: Cung cấp mẫu:
Giáo viên cho học sinh đọc kĩ mẫu
BÁNH CỐM
Thuở ban đầu người làm bánh cốm chỉ suy nghĩ đơn giảnlà muốn làm loại bánh
gần giống như bánh chưng, nhưng khác với bánh chưnglà có ngọt. Bởi vậy nguyên liệu
làm bánh cốm cũng là gạo nếp và đậu xanh. Loại gạo nếp làm bánh cốm là gạo nếp non
được chế biến ra dạng cốm, dùng làm vỏ bánh. Nhân bánh được làm từ đậu xanh và dừa.
Cả nhân và vỏ bánh đều được xào lẫn với đường tạo cho bánh vị ngọt, thơm ngon.
Bánh cốm có ngon hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu chọn nguyên liệu.
Cốm làm bánh phải là cốm già, nếu non quá khi xào với đường sẽ bị nhão không dùng
làm vỏ bánh được. Nếu bánh được làm đúng vào mùa cốm, người ta thường pha thêm
cốm tươi để bánh dẻo và thơm mùi cốm mới. Trước khi xào đường, cốm được ủkhoảng
một giờ đồng hồ. Tiếp đến là làm nhân bánh. Đậu xanh thường dùng là loại đậu của
vùng Thái Bình, Sơn La, Bắc Ninh vì loại đậu này khi ngâm nước có độ nở vừa phải. Còn
đậu xanh của các vùng khác, đặc biệt là đậu trồng ở khu vực phía Nam, khi ngâm nước
nở nhiều, dễ bị thiu, không thể dùng làm nhân bánh được.
Những người chuyên làm bánh cho rằng chẳng có một công thức cụ thể nào để làm
bánh cốm. Bí quyết để có bánh ngon hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và thói quen của
mỗi người làm bánh. Ví dụ ở khâu ủ cốm, nhiều người cho rằng khi đặt tay lên bề mặt
Ví dụ:
(1) Ca dao-dân ca là loại tác phẩm trữ tình dân gian…(bài làm của học sinh)
(2) Văn Miếu Quốc Tử Giám là biểu tượng về truyền thống hiếu học của dân tộc
Việt.
(3) Hà Nội- thủ đô của nước Việt Nam, là một thủ đô văn hiến với bề dày văn hóalịch sử 1000 năm…(bài làm của học sinh)
* Bước 4: Giáo viên hướng dẫn học sinh tự kiểm tra, đánh giá lẫn nhau, rút kinh
nghiệm về câu vừa được tạo lập của học sinh (đối chiếu mẫu):
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát 3 bài làm của 3 học sinh để nhận xét.
Gợi ý trả lời:
- Mẫu 1: Định nghĩa quá rộng, chưa nêu rõ được đặc điểm riêng của ca dao- dân ca
- Mẫu 2: Giới thiệu được đối tượng thuyết minh là Văn Miếu Quốc Tử Giám nhưng
vẫn còn chung chung, trừu tượng.
- Mẫu 3: Đã nêu được đối tượng cụ thể để thuyết minh là Hà Nội và nêu khái quát
về vai trò, vị trí và giá trị của Hà Nội: thủ đô nước Việt Nam, thủ đô văn hiến, bề dày văn
hoá- lịch sử 1000 năm.
Kết luận về phương pháp nêu định nghĩa, giải thích cho bài văn thuyết minh:
-
Không nên nêu định nghĩa quá rộng, quá hẹp hay trùng lặp.
-
Không định nghĩa một cách quá trừu tượng, chung chung.
b. Phương pháp liệt kê:
* Bước 1: Giáo viên cung cấp mẫu văn:
“Ta đến Viện Nghiên cứu các bệnh tim mạch, bác sĩ viện trưởng cho biết: Chất nicô-tin của thuốc lá làm các động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng như
huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim. Có thấy một bệnh nhân bị tác động mạch
* Bước 1: Giáo viên cung cấp mẫu:
Ngày nay đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổi lên chiến dịch chống thuốc lá.
Người ta cấm hút thuốc lá ở tất cả các nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm (ở
Bỉ từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đôla, tái phạm phạt 500 đôla).
(Ôn dịch thuốc lá- Nguyễn Khắc Viện).
* Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích đặc điểm mẫu:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc mẫu và trả lời các câu hỏi:
(1) Chỉ ra các ví dụ được sử dụng trong đoạn văn trên và nêu tác dụng của nó trong
việc trình bày cách xử phạt những người hút thuốc lá nơi công cộng?
(2) Khi sử dụng phương pháp nêu ví dụ, cần chú ý những điều gì?
* Bước 3: Thực hành theo mẫu:
Giáo viên yêu cầu học sinh viết đoạn văn ngắn thuyết minh về đối tượng bất kỳ, có
sử dụng phương pháp nêu ví dụ:
Cây lúa đòi hỏi một lượng nước lớn hơn nhiều so với các cây trồng khác. Việc gieo
trồng lúa là một công việc chứa đựng các yếu tố mâu thuẫn tại một vài khu vực, chẳng
hạn tại Hoa Kỳ và Australia, là các khu vực mà việc gieo trồng lúa chiếm tới 7% tài
nguyên nước của các quốc gia này nhưng chỉ tạo ra 0,02% GDP.
* Bước 4: Nhận xét đánh giá:
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và đánh giá bài làm của bạn:
Gợi ý trả lời: Đối tượng thuyết minh là một loại cây- cây lúa. Đoạn văn sử dụng
phương pháp nêu ví dụ về việc gieo trồng lúa ở Hoa Kỳ và Ausstralia chiếm tới 7%
lượng nước của quốc gia nhưng chỉ tạo ra 0,02% GDP. Qua đó người viết cho thấy cây
lúa sử dụng rất nhiều nước.
d. Phương pháp dùng số liệu:
* Bước 1: Giáo viên cung cấp mẫu:
Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960
tới 600 triệu tấn vào năm 2004. Gạo đã xay xát chiếm khoảng 68% trọng lượng thóc ban
đầu. Năm 2004, ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc( 31% sản lượng
ăn dâu”.
( Ôn dịch thuốc lá- Nguyễn Khắc Viện)
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh quan sát và phân tích đặc điểm của mẫu.
Học sinh đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi:
(1)
Đoạn văn trên sử dụng phương pháp gì? Tác dụng của phương pháp đó?
(2)
Muốn sử dụng phương pháp này có hiệu quả phải lưu ý điều gì?
* Bước 3: Thực hành theo mẫu:
Yêu cầu học sinh viết đoạn thuyết minh về một đối tượng bất kỳ, có sử dụng
phương pháp so sánh:
Hàng ngàn hòn đảo ở Hạ Long với muôn dáng vẻ khác nhau như những viên ngọc
bích long lanh đính trên chiếc khăn voan xanh biếc. Từ trên cao nhìn xuống, Hạ Long
như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ, sống động với những tác phẩm tạo hình tuyệt mĩ
của tạo hoá
( Bài làm của học sinh)
* Bước 4: Nhận xét đánh giá:
Yêu cầu học sinh đọc đoạn bài làm của bạn và nhận xét
Gợi ý trả lời:
- Đoạn văn thuyết minh về vịnh Hạ Long
- Đoạn văn đã sử dụng phương pháp so sánh: so sánh hàng ngàn hòn đảo với những
viên ngọc bích đính trên chiếc khăn voan xanh biếc; so sánh Hạ Long với bức tranh thuỷ
mặc khổng lồ, sống động.
- Tác dụng: làm cho đối tượng thuyết minh trở nên thơ mộng, gần gũi với con
người, làm nổi bật vẻ đẹp của kỳ quan thiên nhiên thế giới- Hạ Long.
2. Phƣơng pháp dạy thực hành về “ Phƣơng pháp thuyết minh”
CẢNH BÁO TỪ NƯỚC NGỌT CÓ GAS
Một nghiên cứu mới đây trên báo Cancer Epidemiology đã kết luận, uống nhiều
nước ngọt có gas sẽ làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tuỵ. Nghiên cứu được thực hiện trên
648.387 người Trung Hoa cư trú ở Singapore, được theo dõi trong 14 năm, tất cả đều
tiêu thụ 2 lon nước ngọt có gas hoặc nhiều hơn mỗi tuần. Và hầu hết đã bị tăng 87%
nguy cơ ung thư tuyến tuỵ. Nước ngọt có gas có mật độ đường cao làm tăng mức insulin
trong cơ thể, điều này góp phần vào sự phát triển tế bào ung thư tuyến tuỵ.
Ngược lại, các nhà nghiên cứu đã không tìm thấy sự liên quan giữa việc uống
nước trái cây và các triệu chứng ung thư tuyến tuỵ. Bởi vì nước trái cây có ít chất đường,
nhiều chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, chúng ta lại ít dùng loại này so với nước ngọt có gas.
Ung thư tuyến tuỵ là nguyên nhân gây tử vong thứ 4 đối với cả nam lẫn nữ,
chiếm 6% các bệnh ung thư liên quan đến tử vong …
Để bảo vệ sức khoẻ, tránh uống nước ngọt có gas hoặc uống ít hơn 2 lon mỗi
tuần để ngăn ngừa nguy cơ phát triển bệnh ung thư tuyến tuỵ. Nên ăn nhiều trái cây và
cà chua. Uống vitamin C và E không có tác dụng giảm nguy cơ ung thư và có thể phản
tác dụng. Bác sĩ chỉ khuyên bệnh nhân dùng nước ngọt có gas sau khi phẫu thuật, do sự
tác động của khí carbonic trong nó lên lưỡi và thực quản giúp kích thích dạ dày, gây ra
động tác “ợ”.
( Báo Thanh Niên)
-
Văn bản trên có phải là văn bản thuyết minh không? Vì sao?
-
Văn bản trên đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?
-
-
Tập tính sinh trưởng của loài, quá trình tiến hoá.
-
Cách nuôi dưỡng, chăm sóc
-
Lợi ích, giá trị, ý nghĩa của loài vật đó trong đời sống con người.
Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của loài vật đó đối với con người
Sau khi tạo lập dàn ý chi tiết,học sinh viết các đoạn văn để tạo văn bản hoàn chỉnh
sao cho đúng yêu cầu đã nêu ra. Chú ý các em khi viết phải kết hợp nhiều phương pháp
thuyết minh.
Bài viết của học sinh:
Con trâu là con vật rất quen thuộc, thân thiết, gắn bó với nhân dân ta. Nó
giúp người nông dân Việt Nam trong lao động và sản xuất. Chính vì thế mà cha ông
xưa vẫn đánh giá nó là “đầu cơ nghiệp” đối với nhà nông.
Trâu thuộc lớp động vật nhai lạivà rất dễ nuôi. Nó mang lại cho nhân dân nhiều lợi
ích. Con trâu có bộ lông màu đen hoặc xam xám. Đôi khi cũng có con màu trắng nhưng
rất ít. Nó đi bằng bốn chân, nó thích nghi với cả môi trường nước và cạn. Đầu nó đặc
biệt với chiếc mồm nhô ra, hàm răng khoẻ như một chiếc máy nghiền. Đôi mắt to. Đặc
trưng nhất là đôi song dài cong cong, cứng cỏi, vừa hiên ngang vừa nặng nề, vướng víu.
Tuy nó sống trên cạn nhưng khi trời nắng, nó thường tới những nơi có nước để ngâm
mình.
Hai chân trước của nó ngắn hơn hai chân sau, mỗi chân gồm hai móng. Ở giữa là
2.3. Bước 3: Nhận xét, đánh giá:
a. Ưu điểm:
- Các vấn đề đưa ra tuân thủ theo mức độ từ dễ đến khó và phù hợp với nội dung lý
thuyết.
- Rèn được cho học sinh kỹ năng nhận diện, phát hiện và luyện viết văn thuyết
minh.
- Các em học sinh không bị nhầm lẫn giữa các phương pháp và vận dụng khá thành
thạo trong bài viết của mình.
- Ở kiểu bài nhận diện, phát hiện, đa số các em tìm và gọi tên đúng các phương
pháp thuyết minh và nêu được tác dụng của chúng.
- Ở kiểu bài vận dụng, các em biết vận dụng tổng hợp các kiến thức về văn thuyết
minh để làm bài như: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn…
- Cũng có nhiều bài làm của học sinh tương đối công phu trong việc tìm tòi tài liệu,
không bị nhầm sang các phương thức biểu đạt khác.
b. Hạn chế:
- Một số bài của học sinh còn chưa biết sắp xếp theo trình tự hợp lý nên bài thuyết
minh còn lan man, trùng lặp.
- Học sinh giỏi và học sinh xuất sắc chưa thực sự được phân loại.
IV. KIỂM NGHIỆM
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng bài làm của một số lớp khối 10- trường THPT
Bỉm Sơn- Thanh Hoá sau khi tổ chức thực hiện giải pháp vấn đề trên như sau:
Lớp
10C5
40HS
10C6
44HS
10C9
44HS
35
20
50
4
10
5
11,3
16
36,3
20
45,4
3
7
3
7
của mình. Từ đó có thể rút được kinh nghiệm quý báu trong quá trình giảng dạy văn
thuyết minh nói riêng và giảng dạy Tập làm văn nói chung.
Bên cạnh đó, trong thực tiễn, việc áp dụng phương pháp dạy học sinh cách nắm
bắt và vận dụng phương pháp thuyết minh trong văn thuyết minh là yêu cầu cần thiết
được đặt ra. Nếu người giáo viên hình thành được cho học sinhkĩ năng vận dụng phương
pháp thuyết minh hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho các em viết tốt bài tập làm văn thuyết
minh. Từ đó khắc phục được một trong những điểm còn hạn chế trong việc viết bài của
học sinh là viết lan man, thiếu ý hoặcn đối tượng thuyết minh chung chung, thiếu độ tin
cậy, khách quan…
Như vậy, để nâng cao chất lượng học tập làm vănnói chung và văn thuyết minh
noí riêng cho học sinh, người giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm ra
những cách dạy đổi mới, hiệu quả. Đặc biệt, đối với kiểu văn bản mới đưa vào chương
trình là văn thuyết minh thì người giáo viên càng cần học tập và nghiên cứu để rút ra
những điều cần thiết, bổ ích cho hoạt động dạy học của mình. Người giáo viên cần ý thức
được rằng, để học sinh có thể tạo được một bài văn thuyết minh thì người giáo viên cần
phải có sự chỉ đạo, hướng dẫn chứ không phải làm thay cho học sịnh. Chính vì vậy, cần
hình thành cho học sinh các kĩ năng cần thiết khi viết bài tập làm văn thuyết minh để đảm
bảo cho các em có thể vận dụng linh hoạt vào các dạng bài văn thuyết minh khác nhau.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, do điều kiện thời gian có hạn, mà vấn đề
khá phức tạp, bản thân chỉ giải quyết được một phần nào đó của vấn đề, đề tài đưa ra. Tôi
rất mong nhận được những lời đóng góp của bạn bè đồng nghiệp để cùng tiếp tục suy
nghĩ hoàn thiện với mục đích góp phần vào việc đưa chất lượng dạy học Làm văn ở
trường THPT đạt kết quả tốt hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.