ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH TÂY NINH GIAI ĐOẠN 20132014 THÔNG QUA CHỈ SỐ WQI - Pdf 40

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT
LƯỢNG NƯỚC MẶT TỈNH TÂY
NINH GIAI ĐOẠN 2013/2014
THÔNG QUA CHỈ SỐ WQI

1


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu (Chị Hòa)
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có nhiều dạng WQI đang được sử dụng, trong đó đáng chú ý
là WQI của Canada (The Canadian Council of Ministers of the Environment- CCME,
2001). WQI-CCME được xây dựng dựa trên rất nhiều số liệu khác nhau sử dụng một
quy trình thống kê với tối thiểu 4 thông số và 3 hệ số chính (F1-phạm vi, F2-tần suất và
F3-biên độ của các kết quả không đáp ứng được các mục tiêu chất lượng nước - giới hạn
chuẩn). WQI-CCME là một công thức rất định lượng và việc sử dụng hết sức thuận tiện
với các thông số cùng các giá trị chuẩn (mục tiêu chất lượng nước) của chúng có thể dễ
dàng đưa vào WQI-CCME để tính tóan tự động. Tuy nhiên, trong WQI-CCME, vai trò
của các thông số chất lượng nước trong WQI được coi như nhau, mặc dù trong thực tế
các thành phần chất lượng nước có vai trò khác nhau đối với nguồn nước ví dụ như
thành phần chất rắn lơ lửng không có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng nước nguồn
nước như thành phần oxy hòa tan.
WQI của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation-NSF) là một
trong các bộ chỉ số chất lượng nước được dùng phổ biến. WQI-NSF được xây dựng
bằng cách sử dụng kỹ thuật Delphi của tập đoàn Rand, thu nhận và tổng hợp ý kiến của
một số đông các chuyên gia khắp nước Mỹ để lựa chọn các thông số chất lượng nước
quyết định sau đó xác lập phần trọng lượng đóng góp của từng thông số (vai trò quan
trọng của thông số - wi) và tiến hành xây dựng các đồ thị chuyển đổi từ các giá trị đo
được của thông số sang chỉ số phụ (qi). WQI-NSF được xây dựng rất khoa học dựa trên
ý kiến số đông các nhà khoa học về chất lượng nước, có tính đến vai trò (trọng số) của

- Thang đo giá trị WQI được chia thành các khoảng nhất định. Mỗi khoảng ứng với
1 mức đánh giá chất lượng nước nhất định.
 Quy trình tính toán và sử dụng WQI trong đánh giá chất lượng môi trường
nước mặt lục địa
- Bước 1: Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc từ trạm quan trắc môi trường nước mặt
lục địa (số liệu đã qua xử lý);
- Bước 2: Tính toán các giá trị WQI thông số theo công thức;
- Bước 3: Tính toán WQI;
- Bước 4: So sánh WQI với bảng các mức đánh giá chất lượng nước.
 Số liệu quan trắc được thu thập phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Số liệu quan trắc sử dụng để tính WQI là số liệu của quan trắc nước mặt lục địa theo
đợt đối với quan trắc định kỳ hoặc giá trị trung bình của thông số trong một khoảng
thời gian xác định đối với quan trắc liên tục;
- Các thông số được sử dụng để tính WQI thường bao gồm các thông số: DO, nhiệt
độ, BOD5, COD, N-NH4, P-PO4 , TSS, độ đục, Tổng Coliform, pH;
- Số liệu quan trắc được đưa vào tính toán đã qua xử lý, đảm bảo đã loại bỏ các giá
trị sai lệch, đạt yêu cầu đối với quy trình quy phạm về đảm bảo và kiểm soát chất
lượng số liệu.
-

1.2 Khu vực nghiên cứu (Mita)
Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam là tỉnh chuyển tiếp giữa
vùng núi và cao nguyên Trung bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long. Cách Thành phố
Hồ Chí Minh 99 km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 22 và cách Thủ đô Hà Nội 1.809 km
theo Quốc lộ số 1, Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Tp. Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm
Pênh (Vương quốc Campuchia) và là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam. Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam và
Đông Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, phía Bắc và Tây Bắc giáp 3
tỉnh Vương quốc Campuchia Svay Riêng, Pray Veng và Tbong Khmum.


nhiệt độ tương đương nhau. Vì thế nền lãnh thổ có nhiệt độ cao quanh năm, nhiệt độ
trung bình các tháng ít xuống dưới 26oC và hiếm khí vượt quá 29oC. Chỉ có khu vực núi
Bà Đen do ảnh hưởng của độ cao địa hình nên có những nhiệt độ xuống 20oC. Biên độ
giao động giữa các tháng không lớn chỉ 2 đến 3oC trong khi các biên độ giao động nhiệt
4


lại khá cao vào các tháng mùa khô có thể lên đến 10 đến 20oC. Lượng ánh sáng quanh
năm dồi dào. Mỗi ngày trung bình có tới 6h nắng, tối đa có thể lên tới 12h nắng.
Gió mùa mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ). Từ tháng 11 đến thang 2 do
ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực dưới phía Bắc hướng gió thịnh hành các tháng
này chủ yếu: Hướng Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc. Từ tháng 2 đến tháng 4 khối không khí
lạnh yếu dần và chịu ảnh hưởng của không khí Tây Thái Bình Dương và Biển tạo thời
tiết nóng ẩm, hướng gió: Đông Nam và Tây Nam.
Gió mùa làm nảy sinh chế độ mùa mưa, lượng mưa và và độ ẩm có mối quan hệ
chặt chẽ giữa các mùa trong năm.
-

Độ ẩm tương đối cả năm khá cao; khoảng 87,4 %. Độ ẩm không đều giữa các tháng:
Độ ẩm thấp nhất tháng 12 đến tháng 4 (mùa khô).
Lượng mưa trung bình cả năm khá cao; 1900 mm - 2300mm, số ngày mưa bình
quân cả năm khoảng 116 ngày. Lượng mưa phân bố không đông đều giữa các mùa
trong năm: 80 - 90 % tổng lượng mưa tập trung vào tháng 5 đến tháng 11 (mùa
mưa), mỗi tháng có 20 ngày mưa , lượng mưa bình quân từ 200 - 250 mm, thừa ẩm
trong những tháng này, tháng có mưa là cao nhất là tháng 9 (453 mm). Mùa khô (từ
tháng 12 đến tháng 4 năm sau) rất ít mưa, có năm 1998, 3 tháng liền (tháng 1,2,3)
không mưa gây hạn hán nghiêm trọng đã ảnh hưỏng tới sản xuất nông nghiệp và đời
sống của nhân dân. Mùa mưa có cường độ lớn gây sói mòn, rủa trôi mạnh nhất là
những nơi có thảm thức vật trơ trụi, độ dốc lớn.
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt:

Sông Vàm Cỏ Đông: bắt nguồn từ vùng đồi cao khoảng 150 m, ở trên đất Campuchia
chảy qua tỉnh Tây Ninh theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với nhiều con rạch lớn: Rạnh
Điền Đá, rạch Tây Ninh, rạch Trảng Bàng... các rạch đều có độ dốc nhỏ, rộng khả năng
tiêu nước hạn chế. Sông Vàm Cỏ Đông có chiều dài 202 km, có 151 km chảy qua tỉnh
Tây Ninh, diện tích lưu vực sông là 8500 km2 với lưu lượng trung bình khoảng 96 m2/s.
Sông Vàm Cỏ Đông đi qua huyện Tân Bình, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò
Cầu, Trảng Bàng.
Hạ lưu sông Sài Gòn và Sông Vàm Cỏ Đông chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ bán
nhật triều không đều với 2 đỉnh triều xấp xĩ bằng nhau, hai chân triều cách nhau tương
đối lớn. Về mùa khô chế độ thuỷ chiều ảnh hưởng tới tận Gò Dầu trên sông Vàm Cỏ
Đông và Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn.
 Ao, hồ, kênh, mương.
Tây Ninh có diện tích ao hồ đầm lầy là: 1,184 ha chủ yếu là ao, hồ nhỏ thả cá trong
các hộ gia đình, phân bố rải rác trong tỉnh. Diện tích đầm lầy 3,5 nghìn ha nằm ở vùng
trũng sông Vàm Cỏ Đông.
Ở thượng lưu sông Sài Gòn có hồ Dầu Tiếng được xây dựng với mục tiêu làm thuỷ
lợi. Là công trình hồ thuỷ lợi lớn nhất nước ta, dung tích hữu ích khoảng 14,5 tỉ m3, có
khả năng cấp nước tưới cho 175,000 ha đất canh tác, hồ Dầu Tiếng còn ảnh hưởng trực
tiếp lẫn gián tiếp đến nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường, sự phát triển ngư nghiệp
và du lịch của tỉnh.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 1800 ha, đã sử dụng nuôi trồng 490 ha.
Nước Ngầm: Tây Ninh có nguồn nước ngầm khá phong phú, phân bố riêng, chiều
dài tầng ổn định chất lượng nước tốt, độ sâu trung bình 4 đến 11 m. Tổng lưu lượng có
thể khai thác là 50 – 100 ngàn m3/giờ. Vào mùa khô, có thể khai thác nước ngầm đảm
bảo chất lượng cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
iv) Tài nguyên rừng
Tổng diện tích rừng Tây Ninh là 53,3 nghìn ha. Trong đó rừng tự nhiên là 46,2 nghìn
ha, rừng tổng 7,1 nghìn ha. So với năm 1993 diện tích rừng sau 10 năm đã tăng lên gần
10 nghìn ha. Đây là một cố gắng lớn nhất của tỉnh trong lĩnh vực phục hồi trồng rừng,
đặc biệt là rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ cho hai dòng sông Sài Gòn. và sông Vàm

1.2.3 Điều kiện kinh tế và xã hội
Tỉnh Tây Ninh được xem là một trong những cửa ngõ giao lưu về quốc tế quan trọng
giữa Việt Nam với Campuchia, Thái Lan…Đồng thời tỉnh có vị trí quan trọng trong mối
giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các tỉnh
thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Đến nay các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển không ngừng và ổn định, ngành nông
nghiệp đã quy hoạch các vùng cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày ổn định như:
vùng chuyên canh mía: 18.850 ha, vùng chuyên canh cây mì: 49.195 ha, vùng chuyên
canh cao su là: 70.706 ha, vùng chuyên canh cây đậu phộng: 21.276 ha điều này đã tạo
được nguồn nguyên liệu chủ động cho công nghiệp chế biến xuất khẩu. Đi đôi với phát
triển trồng trọt, ngành chăn nuôi có bước phát triển khá, đã tạo nhiều giống vật nuôi có
năng suất cao đưa vào sản xuất đại trà, từng bước đưa ngành chăn nuôi chiếm một tỷ lệ
tương xứng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Tây Ninh. Tuy nhiên, nhiều vùng
dân cư tiến hành chăn nuôi trên các khu vực kênh rạch, sông, hồ Dầu Tiếng gây suy
giảm chất lượng nước các khu vực này.
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Tây Ninh ngày càng phát triển vững
chắc đồng thời đã xây dựng được hệ thống các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng
chuyên canh như các nhà máy đường, các nhà máy chế biến bột củ mì, các nhà máy chế
biến mủ cao su, từng bước xây dựng các khu công nghiệp trong tỉnh. Tây Ninh có 9
7


KCN nằm trong danh mục KCN Việt Nam đến năm 2015 tầm nhìn 2020, với tổng quy
mô đất tự nhiên 4.485 ha. Đến nay, Tỉnh đã có 5 KCN được thành lập gồm: KCN Trảng
Bàng (190 ha), KCX và CN Linh Trung III (203 ha); KCN Bourbon An Hòa (760 ha),
KCN Phước Đông (2.190 ha), KCN Chà Là giai đoạn 1 (42 ha), với tổng quy mô đất tư
nhiên 3.385 ha, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê xây dựng nhà xưởng là 2.162
ha.
Trong lĩnh vực thương mại và du lịch, đã triển khai các dự án thuộc khu thương mại
trong nước và khu thương mại quốc tế tạo điều kiện cho cư dân biên giới hai nước trao

Bình Phước, tổng chiều dài: 280,0km. Sông Sài Gòn chảy dọc ở phía Đông huyện Tân
Châu. Đây cũng là ranh giới tự nhiên của tỉnh Tây Ninh với tỉnh Bình Dương và Bình
8


Phước. Ngoài ra còn có suối Ngô (suối Bà Chiêm), suối Đôi là phụ lưu, cung cấp nước
cho sông Sài Gòn.
Sông Sài Gòn ở khu vực thượng nguồn, đoạn từ chân cầu Sài Gòn thuộc xã Minh
Tâm, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, lên đến bến đò Cây Khế, huyện Tân Châu,
tỉnh Tây Ninh đã bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Tại sông Sài Gòn, chất lượng nước được đánh giá là ít bị ô nhiễm hơn sông Vàm
Cỏ Đông do thường xuyên được hồ Dầu Tiếng xả nước đẩy mặn. Nhưng trong những
năm gần đây, chất lượng nước sông Sài Gòn cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm với mức
độ ngày càng tăng. Nguyên nhân chính là do chất lượng nước tại đập chính hồ Dầu
Tiếng, cửa xả kênh Đông và kênh Tây không còn tốt như trước mà đã có dấu hiệu bị ô
nhiễm. Riêng chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh cũng đang có nguy cơ bị ảnh
hưởng, chủ yếu là bị ô nhiễm vi sinh và có giá trị pH thấp.
 Hồ Dầu Tiếng
Ngày 29/4/1981 khởi công xây dựng hệ thống công trình thủy lợi Hồ Dầu Tiếng
trên sông Sài Gòn và chính thức mở nước phục vụ sản xuất nông nghiệp từ ngày
10/01/1985. Đây là công trình thủy lợi lớn nhất cả nước với tổng dung tích chứa 1,58 tỷ
m3, dung tích hữu ích 1,10 tỷ m3. Sắp tới, hồ Dầu Tiếng còn được bổ sung nước từ hồ
Phước Hòa với lưu lượng bình quân 50 m3/giây sẽ đảm bảo chủ động cấp nước tốt hơn
cho các nhu cầu dùng nước, trong đó phần lớn nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
và nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Nằm ở thượng nguồn sông Sài Gòn, nằm chủ yếu trên địa phận huyện Dương Minh
Châu và một phần nhỏ trên địa phận huyện Tân Châu, thuộc tỉnh Tây Ninh. Đây là một
trong ba hồ thủy lợi lớn nhất Việt Nam, với diện tích mặt nước là 27.000 ha, dung tích
chứa khoảng 1,58 tỷ m³ nước, được khởi công xây dựng vào 1981 và hoàn thành vào
ngày 1985. Với hệ thống 3 kênh kênh và tổng chiều dài tuyến kênh nhánh khoảng 1.550

nên nguồn nước về hồ Dầu Tiếng mùa khô hầu như không còn. Trong 26 năm qua, chỉ
2 lần hồ Dầu Tiếng tích dư nước phải xả. Với nguồn nước còn lại này, việc cung cấp
nước tưới vừa cho sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt và hoạt động công nghiệp vừa
làm nhiệm vụ xả lũ đẩy mặn trên sông Sài Gòn cho Nhà máy Nước Tân Hiệp (Tp. HCM)
là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. trữ lươ ̣ng nước về các hồ đầ u nguồ n giảm ma ̣nh. Trong
đó, lươ ̣ng nước tích trữ của hệ thống hồ Dầ u Tiế ng – Phước Hòa trên thươ ̣ng nguồ n
sông Sài Gòn hiện chỉ đa ̣t khoảng 70%. Lưu lượng của hồ Tri ̣ An trên sông Đồ ng Nai
chỉ đa ̣t khoảng 80% so với trung bình hằ ng năm. Lưu lươ ̣ng nước sông về ha ̣ nguồ n
giảm kế t hơ ̣p với triề u cường đã dẫn tới xâm nhâ ̣p mă ̣n lấ n sâu về thươ ̣ng nguồ n sông
Sài Gòn. Đô ̣ mă ̣n từ cuố i tháng 1 đế n nay thường xuyên vượt ngưỡng 200 mg/lít nhiề u
giờ mỗi ngày. Đô ̣ mă ̣n vươ ̣t quy chuẩ n khá cao buộc nhà máy nước Tân Hiê ̣p, Bình An,
Thủ Đức…phải ngừng lấ y nước thô trong nhiều giờ.
Ngoài ra, Hồ Dầu Tiếng còn đối mặt với tình trạng khai thác cát bừa bãi. Điểm nóng
nhất là khu vực bến Bưng Bàng (xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng) và bến K7 (xã Phước
Minh, huyện Dương Minh Châu), ghe bơm hút cát thay nhau ra vào nườm nượp làm
nước mặt hồ đục ngầu. Theo người dân địa phương, tình trạng khai thác cát bừa bãi
trong lòng hồ Dầu Tiếng công khai một thời gian dài nhưng không được xử lý.

Hình 1. 4 Khai thác cát trái phép
Ngoài việc khai thác cát mất kiểm soát, hiện hồ Dầu Tiếng còn đứng trước nguy cơ
ngày càng bị thu hẹp do tình trạng lấn chiếm tràn lan, làm nguồn nước bị cạn kiệt, ô
nhiễm gia tăng. Tình trạng người dân thuê lao động đắp đê bao, cắm rào lấn chiếm hơn
đất nằm trong diện tích của hồ Dầu Tiếng để làm nơi chăn nuôi ngày càng phổ biến hoặc
được ngăn ra thành nhiều ao nhỏ để nuôi cá, toàn bộ chất thải đổ thẳng ra lòng hồ.

11


Hình 1. 5 Đắp đất, bờ bao lấn chiếm lòng hồ
Hiện ven hồ có rất nhiều nhà máy sơ chế mủ cao su, chế biến khoai mì xả nước thải

khoáng sản (cát); Đón nhận nguồn nước thải từ các hệ thống xử lý nước thải công nghiệp,
hệ thống xử lý nước thải bệnh viện, sinh hoạt… Điển hình là nước thải từ các khu công
nghiệp Trảng Bàng, Linh Trung, Thành Thành Công và hơn 40 nhà máy chế biến khoai
mì (sắn), 11 nhà máy chế biến cao su, hai nhà máy chế biến mía đường, 11 trung tâm y
tế, bệnh viện và trên 30 cơ sở sản xuất kinh doanh khác hoạt động theo kiểu làng nghề,
với tổng lưu lượng nước thải hàng trăm nghìn m3/ngày đêm đổ xuống con sông này.

Hình 1. 7 Nguyên nhân chính khiến lục bình phát triển với tốc độ chóng mặt là do
hàng chục cơ sở chế biến khoai mì, mủ cao su, đường, ven 2 bờ sông xả nước thải
chưa xử lý gây ô nhiễm nguồn nước
Sông Vàm Cỏ Đông còn tiếp nhận nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp,
nuôi thủy sản và nước thải đô thị của thành phố Tây Ninh, sáu thị trấn và cộng đồng dân

13


cư đang sinh sống ở ven sông bao gồm cả nước thải đã qua xử lý bởi hệ thống và cả
nước thải chưa qua xử lý, làm chất lượng nguồn nước con sông ngày càng xấu đi rõ rệt.
Chất lượng nước tại đập chính Hồ Dầu Tiếng - cống xả ở đầu kênh Đông và kênh
Tây (M1, M2, M3) không còn có chất lượng tốt như trước năm 2000 song vẫn đảm bảo
theo quy chuẩn Việt Nam.
Tóm lại, chất lượng nước Hồ Dầu Tiếng và sông Sài Gòn vẫn sử dụng khá tốt đối
với sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản, riêng nước uống dùng cho bò sữa, gà công
nghiệp, heo,… cần qua lắng lọc để loại bỏ một số ít chất ô nhiễm.
Chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông theo quan trắc - đánh giá của Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Tây Ninh năm 2010 khi so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT loại
B1 bởi nước này chủ yếu dùng cho cây trồng, cho thấy:
Chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông vẫn tiếp tục bị ô nhiễm, có 8/22 chỉ tiêu vượt
chuẩn cho phép ở một số vị trí quan trắc, trong đó chỉ tiêu DO, BOD 5 không đạt ở hầu
hết các vị trí quan trắc.

Các tài liệu, sách, giáo trình về kiến thức tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Nguồn tài liệu của các cơ quan, sở, ban ngành và các trung tâm.
Nguồn tài liệu từ các website có uy tín.

2.2.2 Phương pháp tính toán chỉ số WQI
Quy trình tính toán và sử dụng WQI trong đánh giá chất lượng môi trường nước bao
gồm các bước sau:
i)

Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc từ trạm quan trắc môi trường nước mặt lục địa
(số liệu đã qua xử lý);
Tính toán các giá trị WQI thông số theo công thức;
Tính toán WQI;
So sánh WQI với bảng các mức đánh giá chất lượng nước.
Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc
Số liệu quan trắc được thu thập phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Số liệu quan trắc sử dụng để tính WQI là số liệu của quan trắc nước mặt lục địa theo
đợt đối với quan trắc định kỳ hoặc giá trị trung bình của thông số trong một khoảng
thời gian xác định đối với quan trắc liên tục;
- Các thông số được sử dụng để tính WQI thường bao gồm các thông số: DO, nhiệt
độ, BOD5, COD, N-NH4, P-PO4 , TSS, độ đục, Tổng Coliform, pH;
- Số liệu quan trắc được đưa vào tính toán đã qua xử lý, đảm bảo đã loại bỏ các giá
trị sai lệch, đạt yêu cầu đối với quy trình quy phạm về đảm bảo và kiểm soát chất
lượng số liệu.
ii) Tính toán các giá trị WQI thông số theo công thức
-

WQI thông số (WQISI) được tính toán cho các thông số BOD5, COD, N-NH4, PPO4, TSS, độ đục, Tổng Coliform theo công thức như sau:
15

3
4

100
75
50
25

BOD5
(mg/l)
≤4
6
15
25

5

1

≥50

Giá trị BPi quy định đối với từng thông số
COD
N-NH4
P-PO4
Độ đục
TSS
(mg/l)
(mg/l)
(mg/l)

>100

Coliform
(MPN/100ml)
≤2500
5000
7500
10.000
>10.000

Ghi chú: Trường hợp giá trị Cp của thông số trùng với giá trị BPi đã cho trong bảng, thì xác định được
WQI của thông số chính bằng giá trị qi tương ứng.


Tính giá trị WQI đối với thông số DO (WQIDO):



Bước 1: Tính toán giá trị DO % bão hòa:
Giá trị DO bão hòa

DObaohoa  14.652  0.41022T  0.0079910T 2  0.000077774T 3
T: nhiệt độ môi trường nước tại thời điểm quan trắc (đơn vị: 0C)

Tính giá trị DO % bão hòa:

DO%bão hòa= (DOhòa tan / DObão hòa)*100
DOhòa tan: Giá trị DO quan trắc được (đơn vị: mg/l)



≤20
1

2
20
25

3
50
50

4
75
75

5
88
100

6
112
100

7
125
75

8
150
50

2
5.5
50

3
6
100

4
8.5
100

5
9
50

6
≥9
1

Nếu giá trị pH≤5.5 thì WQIpH bằng 1.
Nếu 5,5< giá trị pH

Ghi chú: Giá trị WQI sau khi tính toán sẽ được làm tròn thành số nguyên.
 So sánh chỉ số chất lượng nước đã được tính toán với bảng đánh giá
Sau khi tính toán được WQI, sử dụng bảng xác định giá trị WQI tương ứng với mức
đánh giá chất lượng nước để so sánh, đánh giá, cụ thể như sau:
Bảng 2. 4 Giá trị WQI tương ứng với các mức đánh giá chất lượng nước
Giá trị WQI

Mức đánh giá chất lượng nước

Màu

91 - 100

Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt

76 - 90

Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần
các biện pháp xử lý phù hợp

51 - 75

Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích
tương đương khác

26 - 50

Sử dụng cho giao thông thủy và các mục đích tương
đương khác

Cầu Gió, TP Tây Ninh

Rạch Tây Ninh

M2

Cầu Cần Đăng, huyện Tân Biên

Rạch Bến Đá

M3

Cầu Tha La, huyện Tân Châu

Thượng nguồn hồ Dầu
Tiếng

M4

Cảng kho xăng Bến Kéo, huyện Hòa Thành

Vàm Cỏ Đông

M5

Cầu Rạch Rễ Giữa, huyện Hòa Thành

Rạch Rễ

M6


M12

Cầu Đìa Xù, huyện Bến Cầu

Kênh tiêu thủy lợi

Cầu Gò Chai, huyện Châu
Thành
Điểm đầu nguồn giáp ranh
Campuchia (rạch Cái Bắc)

Vàm Cỏ Đông

M15

Cầu Bến Sỏi

Vàm Cỏ Đông

M16

Bến đò Lộc Giang

Vàm Cỏ Đông

M17

Cầu Vịnh, huyện Châu Thành


các cơ sở chế biến tinh bột khoai mì chưa qua xử lý xả trực tiếp ra rạch.
Giá trị WQI hệ thống kênh rạch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2013 - 2014
100
90
80

Giá trị WQI

70
60
50
40
30
20
10

M1

M2

M5

M10

04/2014

02/2014

12/2013


04/2014

02/2014

12/2013

10/2013

08/2013

06/2013

04/2014

02/2014

12/2013

10/2013

08/2013

06/2013

0

M12

Hình 3. 1 Giá trị WQI hệ thống kênh rạch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2013 – 2014
Bảng 3. 2 Giá trị WQI trung bình và chất lượng nước hệ thống kênh rạch


Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

4

M10

61

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

5

M12

40

Sử dụng cho mục đích giao thông thủy

Chất lượng nước tại các điểm quan trắc nước kênh, rạch qua các đợt quan trắc năm
2013/2014 chủ yếu sử dụng tốt cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương
khác. Tại một số điểm quan trắc có dấu hiệu bị ô nhiễm (theo chỉ số WQI) cần được
theo dõi diễn biến vào các đợt quan trắc tiếp theo để có biện pháp xử lý phù hợp.

20


3.3 Chỉ số WQI chất lượng nước mặt của sông Vàm Cỏ Đông
Sông Vàm Cỏ Đông là nơi tiếp nhận nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp,
nuôi thủy sản và nước thải đô thị của thành phố Tây Ninh, sáu thị trấn và cộng đồng dân

03/2014
06/2013
09/2013
12/2013
03/2014
06/2013
09/2013
12/2013
03/2014
06/2013
09/2013
12/2013
03/2014
06/2013
09/2013
12/2013
03/2014
06/2013
09/2013
12/2013
03/2014

0

M4

M11

M13


-

Bảng 3. 3 Giá trị WQI trung bình và chất lượng nước sông Vàm Cỏ Đông
Mục đích sử dụng nước

STT

Vị trí

Giá trị WQI

1

M4

75

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

2

M11

75

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

3

M13

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

7

M17

67

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

8

M18

67

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

9

M19

73

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

Chất lượng nước tại các điểm quan trắc nước sông Vàm Cỏ Đông năm 2013/2014
sử dụng tốt cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác. Tại một số điểm
quan trắc có dấu hiệu bị ô nhiễm (theo chỉ số WQI) cần được theo dõi diễn biến vào các
đợt quan trắc tiếp theo để có biện pháp xử lý phù hợp.

11/2013

10/2013

09/2013

08/2013

07/2013

06/2013

05/2014

04/2014

03/2014

02/2014

01/2014

12/2013

11/2013

10/2013

09/2013


STT

Vị trí

Giá trị WQI

1

M8

94

Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

2

M9

68

Sử dụng cho mục đích mục đích tưới tiêu, thủy lợi

Chất lượng nước tại các điểm quan trắc nước sông sông Sài Gòn 2013/2014 sử dụng
cho mục đích cấp nước sinh hoạt ở khu vực hồ Dầu Tiếng, các khu vực khác sử dụng
tốt cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác.
3.5 Chỉ số WQI chất lượng nước mặt của Hồ Dầu Tiếng

Giá trị WQI Hồ Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2013 - 2014
100
90

01/2014
02/2014
03/2014
04/2014
05/2014
06/2013
07/2013
08/2013
09/2013
10/2013
11/2013
12/2013
01/2014
02/2014
03/2014
04/2014
05/2014

0

M3

M6

M7

Hình 3. 4 Giá trị WQI hồ Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2013 - 2014
Dựa vào đồ thị Hình 3.4 ta thấy, nhìn chung Hồ Dầu Tiếng có chất lượng nước mặt
khá tốt. Tuy nhiên, một số vị trí có sự biến động:
-

1

M3

80

Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần
các biện pháp xử lý phù hợp

2

M6

92

Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

3

M7

94

Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

Chất lượng nước mặt tại các điểm quan trắc để đánh giá chất lượng nước Hồ Dầu
Tiếng qua các đợt quan trắc năm 2013/2014 sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh
hoạt. Chất lượng nước mặt tại cầu Tha La - Thượng nguồn Hồ Dầu Tiếng (M3) có dấu
hiệu suy giảm (theo chỉ số WQI) so với các khu vực khác.



-

Tăng cường công tác giáo dục và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường nói
chung, bảo vệ môi trường nước nói riêng cho nhân dân toàn tỉnh.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước, và tăng nhân lực có
chuyên môn trong bộ máy quản lý, đầu tư kinh phí trang thiết bị phục vụ cho công
tác quản lý. Hoàn thiện và hướng dẫn chi tiết việc thực hiện các văn bản luật có liên
quan. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra vàgiám sát. Có cơ chế khuyến khích
nhân dân và các doanh nghiệp tham gia vào công tác bảo vệ nguồn nước.
Tiếp tục cho triển khai và duy trì việc quan trắc định kỳ các thành phần nước trên
địa bàn tỉnh.
Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các tỉnh bạn thống nhất cơ sở dữ
liệu quan trắc môi trường và quản lý lưu vực sông trong khu vực. Tăng cường công
tác kiểm tra, cấp phép thăm dò, khai thác nước, xả nước thải vào nguồn nước theo
đúng quy định. Cần có giải pháp quản lý, xử lý nước thải sinh hoạt trong khu dân
cư quanh bờ sông, nghiêm cấm xả nước thải chưa xử lý vào sông. Áp dụng giải pháp
mạnh, cương quyết trong quản lý, giám sát, xử lý các nguồn thải nhằm giảm thiểu
ô nhiễm môi trư ờ ng tại một số sông lớn.
Hỗ trợ kinh phí, máy móc thiết bị quan trắc và phân tích môi trường .
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status