BÀI DỰ THI
Tìm hiểu lịch sử, truyền thống lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Kạn
“Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh đơn vị anh hùng”
Câu 1: Hãy cho biết hoàn cảnh ra đời và phát triển của của LLVT tỉnh Bắc
Kạn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN?
Trả lời:
70 năm qua kể từ ngày thành lập (13/4/1947), lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Kạn
đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành. Dù trong chiến đấu hay thời bình, mỗi
cán bộ, chiến sĩ của tỉnh luôn phát huy phẩm chất người lính “Bộ đội cụ Hồ”, là chỗ
dựa tin cậy của Đảng và nhân dân. Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp, Đảng ta đã chủ trương thành lập các tỉnh đội bộ dân quân ở các địa
phương, làm tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương tổ chức xây dựng
lực lượng, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Thực hiện chỉ đạo trên, ngày
13/4/1947 tại đồi Độc Lập (thị xã Bắc Kạn) Ban chỉ huy Tỉnh đội Bộ dân quân tỉnh
Bắc Kạn được thành lập. Đồng chí Nguyễn Hồng Kỳ - Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh được bổ nhiệm làm Tỉnh đội trưởng, kiêm Chính trị viên Tỉnh đội.
Sự ra đời của Tỉnh đội Bộ dân quân (nay là Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh) đánh dấu
bước ngoặt quan trọng đối với sự phát triển của lực lượng vũ trang Bắc Kạn. Từ đây,
tỉnh Bắc Kạn có cơ quan tham mưu phụ trách công tác quân sự địa phương, giúp cấp
uỷ, chính quyền củng cố và phát triển lực lượng, xây dựng các kế hoạch tác chiến,
làm nòng cốt trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện.
Ngay sau khi được thành lập, Tỉnh đội Bộ dân quân đã bắt tay ngay vào việc xây
dựng, củng cố và phát triển lực lượng. Ngày đầu thành lập dù gặp rất nhiều khó khăn,
nhưng khoảng 2 tháng sau, toàn tỉnh đã xây dựng được 17 đại đội dân quân, du kích
với 1.500 cán bộ, chiến sĩ, được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ, sẵn sàng chiến đấu
bảo vệ quê hương. Với việc phát triển nhanh về tổ chức và lực lượng đã giúp cho lực
lượng vũ trang Bắc Kạn có đủ sức mạnh cùng các địa phương khác bẻ gẫy “gọng
kìm” của thực dân Pháp tấn công lên Việt Bắc, làm nên chiến thắng Thu - Đông năm
1947. Sau chiến thắng này, lực lượng vũ trang tỉnh ta lớn mạnh không ngừng, tiếp tục
lập nhiều chiến công vang dội, trong đó có trận công đồn Phủ Thông… khiến thực
vinh dự, là động lực để lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục phấn đấu rèn luyện, chiến đấu
bảo vệ vững chắc an ninh – quốc phòng địa phương, tạo thuận lợi cho người dân yên
tâm lao động, sản xuất xây dựng quê hương./.
Câu 2: Địa bàn tỉnh Bắc Kạn có vị trí, ý nghĩa chiến lược như thế nào trong
kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc hiện nay?
Trả lời:
Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. phía bắc giáp tỉnh Cao
Bằng, phía đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía tây
giáp tỉnh Tuyên Quang. Diện tích đất tự nhiên 4.859 km2, dân số 313.084 người, gồm
7 dân tộc anh em (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa và Sán Chay) sinh sống, trong
đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%.
Bắc Kạn là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng
và an ninh của khu vực. Từ khi tái lập tỉnh đến nay, với những lợi thế sẵn có về tự
nhiên, xã hội cùng sự nỗ lực cần cù, sáng tạo của cấp ủy, chính quyền và nhân dân
trong tỉnh, đời sống đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể; trình độ dân trí
từng bước được nâng cao; quân sự, quốc phòng địa phương được củng cố; an ninh,
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững. Trong đó, lực lượng vũ
2
trang tỉnh (LLVT) đã thực sự phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt, góp phần thực
hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược xâydựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Bắc Kạn còn là một trong những địa bàn được coi là “miền quan yếu” ở phía
Bắc, có vị trí rất quan trọng về chính trị - quân sự. Chính vì vậy, trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc, nhân dân Bắc Kạn luôn sát cánh cùng nhân dân cả
nước đánh bại nhiều đạo quân xâm lược hung hãn. Trong các cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược phương Bắc từ Tần, Hán, đến Tống, Nguyên, Minh, Thanh… các thế
hệ đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạn luôn có mặt trong những đội quân chống xâm
lược.
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về củng cố khối đại đoàn
Với vai trò là căn cứ địa cách mạng, Bắc Kạn hết lòng cưu mang đùm bọc đồng
bào; giúp đỡ bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, kho tàng của Trung ương sơ tán; bảo vệ lãnh
tụ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước...
Khi chiến sự lan rộng đến địa phương, quân và dân Bắc Kạn đã tiến hành tiêu
thổ kháng chiến với chiến lược "vườn không, nhà trống", phá huỷ giao thông và tham
gia cùng bộ đội chủ lực đánh địch. Trong chiến dịch Việt Bắc (Thu - Đông năm
1947), suốt hai năm đánh địch trên mặt trận đường số 3 nổi tiếng cũng như quá trình
tiễu phỉ bảo vệ quê hương, nhiều gương chiến đấu hy sinh oanh liệt được cả nước biết
đến, nhiều tên núi, tên sông đã trở thành địa danh lịch sử, gắn với những chiến công
hiển hách như Phủ Thông, Đèo Giàng... Cuộc chiến đấu kiên cường của quân và dân
ta buộc thực dân Pháp phải rút chạy, Bắc Kạn trở thành tỉnh đầu tiên được giải phóng.
Sự kiện lịch sử vẻ vang này được Đảng đánh giá cao, được Bác Hồ gửi thư khen
ngợi. Trong thư, Bác đã khẳng định "Cuộc thắng lợi này sẽ làm đà cho những thắng
lợi khác to lớn hơn, vẻ vang hơn".
Sau ngày được giải phóng (tháng 8 năm 1949), nhân dân các dân tộc Bắc Kạn
hăng hái khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tích cực đóng góp sức
người, sức của cho kháng chiến. Một năm sau ngày giải phóng, Bắc Kạn trở thành địa
phương dẫn đầu trong phong trào thi đua kháng chiến kiến quốc. Năm 1950, Bắc Kạn
được Chính phủ tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, được vinh dự giữ Cờ luân
lưu "Đơn vị có phong trào thi đua khá nhất" do Hồ Chủ tịch trao tặng.
Với vai trò và nhiệm vụ là căn cứ địa cách mạng, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc
Kạn đã dồn sức chi viện cho tiền tuyến. Trong hơn tám năm kháng chiến, nhân dân
các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã đóng góp hơn 3 triệu ngày công trực tiếp phục vụ chiến
đấu. Các đoàn thể chính trị, nhất là Hội Phụ nữ đã thành công trong việc phát động
phong trào toàn dân xây dựng lực lượng vũ trang. Trong hai năm 1952 - 1953, phong
trào hũ gạo nuôi quân và mùa đông binh sĩ đã ủng hộ bộ đội hơn 2.000 tấn lương
thực, 2.633 chiếc chăn và áo ấm. Hàng nghìn thanh niên con em các dân tộc đã lên
đường nhập ngũ. Nhiều đơn vị bộ đội địa phương, du kích tập trung đã lập công xuất
sắc, được phong tặng nhiều huân chương, huy chương và danh hiệu cao quý, góp
phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm
Bắc Kạn đã bắt tay ngay vào việc củng cố, tổ chức xây dựng lực lượng, đến giữa
năm 1947 toàn tỉnh đã xây dựng được 17 đại đội dân quân, du kích với 1.500 cán bộ,
chiến sỹ, được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ, chuẩn bị tốt cho nhiệm vụ kháng
chiến, phối hợp chiến đấu cùng 01 Trung đoàn chủ lực(e72-Bắc Kạn) do cấp trên điều
về.
Chiến công nối tiếp chiến công, bằng sự mưu trí, sáng tạo, phát huy lợi thế vùng
núi non hiểm trở trên địa bàn, tỉnh đội bộ dân quân đã lãnh đạo, chỉ huy lực lượng
quân sự, du kích phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, tổ chức nhiều trận phục kích,
tập kích làm cho quân Pháp ăn không ngon, ngủ không yên, hành quân không đến
được địa điểm, gây tổn thất lớn cho quân địch như các trận phục kích ở Cao Kỳ, Cầu
ổ Gà, Yên Đĩnh- Chợ Mới, Nà Đinh, Nà Mày, huyện Chợ Đồn; đặc biệt là nhiều trận
phục kích trên Đèo Giàng… đã làm cho quân Pháp kinh hoàng, bạt vía. Cùng với các
trận phục kích là các trận quấy rối, cường tập, mật tập ở khắp các vị trí đóng quân
của thực dân Pháp với quy mô từ nhỏ đến lớn, từ quấy rối để trinh sát đến đánh công
kích bằng hoả lực; tiêu biểu là trận đánh tại đồn Phủ Thông, là lần đầu tiên Quân đội
ta sử dụng lực lượng cấp tiểu đoàn để đánh địch; một lần nữa chúng ta lại làm cho
quân Pháp khốn đốn buộc phải co cụm lại một số điểm và sau đó phải rút khỏi Bắc
Kạn ngày 9/8/1949. Đến ngày 24/8/1949, tại sân bay Cầu Phà, thị xã Bắc Kạn(nay là
5
thành phố Bắc Kạn), Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh tổ chức mít tinh
chào mừng tỉnh Bắc Kạn được giải phóng.
Sau khi được giải phóng LLVT tỉnh Bắc Kạn lại cùng đồng bào các dân tộc bắt
tay vào tiến hành củng cố địa phương, tiêu diệt thổ phỉ, bảo vệ an toàn Trung ương
Đảng, các địa danh tại huyện Chợ Đồn như: Đồi Nà Pậu, Bản Ca nơi Bác Hồ ở và
làm việc, Khuổi Lim, Nà Quân căn cứ của Trung ương Đảng, Bản Bẳng nơi làm việc
của các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái…hay đồi Khau
Mạ nơi làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng và văn phòng Chính Phủ, luôn được
an toàn tuyệt đối. Chính từ nơi đây nhiều chủ trương, đường lối của cuộc kháng chiến
thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà
nước, LLVT tỉnh Bắc Kạn luôn tỏ rõ sự vững vàng về chính trị, tuyệt đối trung thành
với Đảng, với tổ quốc và nhân dân; tập trung xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đaị, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện,
thị vững chắc, góp phần giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Nét truyền thống tiêu biểu “Đoàn kết - Kỷ luật - Tuyệt đối trung thành - Vượt
mọi khó khăn - Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao” được thể hiện trong suốt
chiều dài lịch sử của lực lượng vũ trang tỉnh Bắc Kạn. Trong cuộc kháng chiến của
dân tộc, Bắc Kạn đã không tiếc sức người, sức của. Đã có hơn 8.000 con em đồng
bào các dân tộc Bắc Kạn lên đường chiến đấu, hơn 2.000 người trong số đó đã hi sinh
vì độc lập, tự do và thống nhất của đất nước.
Bước qua 2 cuộc kháng chiến, Bắc Kạn cùng cả nước bắt tay vào xây dựng lại
giang sơn. Trong giai đoạn đầu đầy khó khăn ấy, bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc,
lực lượng vũ trang tỉnh còn tích cực tham gia lao động sản xuất, làm tốt công tác hậu
phương. Đất nước đổi mới, vai trò của lực lượng vũ trang trong việc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc ngày càng được khẳng định. Cho dù ở những thôn, bản vùng cao còn gặp
khó khăn, hay những nơi gian lao, nguy hiểm cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh
luôn nêu cao phẩm chất của người lính “Bộ đội cụ Hồ”, giúp dân làm đường, làm
nhà, cứu hộ cứu nạn, khắc phục hậu quả do thiên tai… tất cả những hình ảnh này đều
gần gũi, thân quen với người dân. Trong trận thiên tai lịch sử xảy ra với người dân
thôn Khên Lền, xã Công Bằng và thôn Nà Bẻ, xã Nhạn Môn (Pác Nặm) vào năm
2009, đã có hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh không quản gian
khó giúp người dân vượt qua thương đau, mất mát. Bên cạnh, những việc làm trên,
lực lượng vũ trang tỉnh còn tích cực hỗ trợ vốn, cây con giống… giúp đồng bào vùng
cao giảm nghèo. Bằng sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ, chiến sỹ, lực lượng vũ trang
tỉnh đã đạt nhiều thành tích đáng khích lệ, được Đảng, Nhà nước phong tặng danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ
Tổ quốc hạng 3, được Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu I tặng Cờ thi đua và
nhiều Bằng khen, giấy khen…
công tác phải được tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, trang bị vũ khí như một
binh chủng bán vũ trang, chủ yếu làm nhiệm vụ công binh và hậu cần phục vụ chiến
dịch, cùng bộ đội trực tiếp phục vụ chiến đấu đến ngày kháng chiến toàn thắng.
Người còn nhấn mạnh Đội TNXP công tác vừa trực tiếp phục vụ chiến đấu, vừa học
tập, rèn luyện để không ngừng tiến bộ, trưởng thành.
Thực hiện chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ, ngày 15/7/1950, Đội TNXP công tác
Trung ương (tiền thân của lực lượng TNXP) được thành lập tại Núi Hồng, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên, do đồng chí Vương Bích Vượng, Ủy viên Ban chấp hành
Trung ương Đoàn làm đội trưởng. Lúc này, toàn Đội chỉ gồm 225 đội viên, có tổ chức
Đảng và Đoàn thuộc Đảng bộ Tổng Cục cung cấp mặt trận, trực thuộc Tổng Cục
chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Quyết định này đã tạo ra một môi trường
thuận lợi để các thế hệ thanh niên có nhiều cơ hội thể hiện lòng yêu nước, rèn luyện
tinh thần chịu đựng gian khó, dũng cảm chiến đấu, hy sinh, cống hiến, sáng tạo, hoàn
thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.
Người cũng chỉ rõ, “nhiệm vụ của Đội TNXP là xung phong trong mọi việc, bất
kỳ việc khó, dễ và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công”. Thành phần của đội
TNXP khi đó gồm những thanh niên bần, cố và trung nông cùng những thanh niên trí
thức quen lao động. Đội TNXP cốt giáo dục cho thanh niên tinh thần quyết tâm xung
phong trong mọi việc, rèn luyện thành những thanh niên gương mẫu, những chiến sỹ
thi đua để trở nên cán bộ tốt sau này cho Đảng và Chính phủ. Trong công tác, đội
8
viên TNXP phải thực tế lao động, làm kiểu mẫu, phải chịu khó, chịu khổ, khắc phục
khó khăn, chấp hành mệnh lệnh, cố sức làm việc với tinh thần cung phong và thi đua.
Làm việc gì phải học tập chuyên môn việc ấy và phải thường xuyên tổ chức học tập
văn hóa. Qua từng thời gian công tác, sẽ luân chuyển về chỉnh huấn chính trị và khi
cần thiết thì đội TNXP tổ chức luyện tập quân sự. “Đó là một trường đào tạo thanh
niên bằng những việc làm thiết thực”.
Tháng 3/1951, khi đến thăm đơn vị TNXP 312 đang làm nhiệm vụ tại khu rừng
9
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là việc làm
thường xuyên, mà còn là động lực mạnh mẽ để cán bộ, chiến sĩ Phòng Kỹ thuật vượt
khó vươn lên, trở thành điển hình tiên tiến, lá cờ đầu trong phong trào Thi đua quyết
thắng của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.
Thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm của lực lượng vũ trang tỉnh là “bảo đảm
kỹ thuật, duy trì chất lượng hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có, bảo đảm cho
huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và bảo quản, cất giữ lâu dài, dự phòng khi có tình
huống xảy ra”, hàng năm, Phòng Kỹ thuật đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai xây dựng
kế hoạch, xác định mục tiêu cụ thể cho từng nhiệm vụ, từng giai đoạn gắn với phong
trào Thi đua quyết thắng, cùng với đó là đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Phòng Kỹ thuật được cơ cấu tổ chức gồm có đội ngũ lãnh đạo, hai ban là Ban
quân khí, Ban xe máy và hai đơn vị trực thuộc là Trạm bảo dưởng sửa chữa, Đại đội
Kho K97. Các đầu mối đóng quân phân tán do vậy việc triển khai và thực hiện nhiệm
vụ gặp không ít khó khăn. Song, với quyết tâm của lãnh đạo, sự đoàn kết, gắn bó của
tập thể, Phòng Kỹ thuật luôn quán triệt, triển khai nghiêm túc các Chỉ thị, Nghị quyết
lãnh đạo công tác quốc phòng quân sự địa phương của Đảng ủy Quân sự tỉnh; tích
cực quán triệt, triển khai có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhờ vậy mà cán bộ, đảng viên luôn giữ vững được bản
lĩnh chính trị, quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Phải yêu xe như con, quý xăng như máu, vượt
mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ”, cán bộ, chiến sĩ công tác tại Phòng đã tập trung
xung kích vào những nhiệm vụ có yêu cầu cao về an toàn như bảo đảm kịp vũ khí
trang bị kỹ thuật cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và hoạt động thường
xuyên của lực lượng vũ trang tỉnh. Trong điều kiện kinh phí, vật tư còn nhiều khó
khăn, đơn vị đã triệt để thực hành tiết kiệm trong quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ
biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông với nhiều hình thức, đa dạng
phong phú, thiết thực. Thông qua đó, ý thức trách nhiệm, ý thức chấp hành Luật lệ
giao thông của cán bộ, chiến sỹ được nâng cao.
Bên cạnh đó, đơn vị còn tập trung đẩy mạnh phát động phong trào thi đua xây
dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm
của cán bộ, chiến sĩ trong việc giữ gìn và quản lý tốt cơ sở vật chất, tạo ra môi trường
văn hóa trong sạch, lành mạnh.
Với những nỗ lực trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, Phòng Kỹ thuật, Bộ Chỉ
huy Quân sự tỉnh luôn là một đơn vị dẫn đầu trong phong trào Thi đua quyết thắng
của lực lượng vũ trang tỉnh từ 2010 đến nay, được Bộ Tư lệnh quân khu 1 tặng danh
hiệu “Đơn vị quyết thắng”. Ngoài ra còn được tặng nhiều bằng khen, giấy khen vì đã
có thành tích trong phong trào thi đua, trong hội thi, hội thao của ngành. Mới đây,
Phòng Kỹ thuật Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh là một trong 06 tập thể của tỉnh được Thủ
tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2015, góp phần vào sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc./.
Nguồn:
Câu 7: Trên cương vị công tác và vị trí xã hội của mình, đồng chí sẽ làm gì
để góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị truyền thống của LLVT tỉnh Bắc
Kạn trong giai đoạn hiện nay ?
Trả lời:
11
Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh CNH,HĐH và hội nhập quốc tế, phấn đấu đến
năm 2020, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Sự nghiệp xây
dựng và BVTQ đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đan xen không ít những
khó khăn, thách thức. Trên cương vị công tác của mình bản thân tôi luôn phấn đấu
hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, gương mẫu trong công tác cũng như
trong đời sống hàng ngày để xứng đáng với truyền thống cách mạng của quê hương