ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
------------
HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU SỰ TÁC ĐỘNG VỀ
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
Giảng viên: Nguyễn Duy Chinh
Học viên: Đặng Thị Thu Hằng
Lớp: K11 LT SP Anh
HUẾ, 2016
MỞ ĐẦU
• Lý do chọn đề tài
Từ thời kì sơ khai của Trái đất, nhân loại đã mất rất nhiều thời gian,
trí tuệ và tiền bạc, công sức để xây dựng lên một nền văn minh tiên tiến
như hiện nay. Nhưng cùng với sự phát triển luôn tồn tại những tác hại,
nhân loại phải đối mặt với những thiên tai mà vô tình qua thời gian con
người đã tạo ra... Các hoạt động của con người trong nhiều thập kỷ gần đây
đã làm tăng đáng kể những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính và làm trái đất
nóng dần lên, từ đó gây ra hàng loạt những thay đổi bất lợi và không thể
đảo ngược của môi trường tự nhiên. Nếu chúng ta không có những hành
động kịp thời nhằm hạn chế, giảm thiểu và thích nghi, hậu quả đem lại sẽ vô
cùng thảm khốc.
Biến đổi khí hậu gây nguy hại cho tất cả mọi sinh vật sống trên toàn
• Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các
vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
• Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các
vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơđe dọa sự sống của các
loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
• Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu
trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá
khác.
• Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và
thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
1.1.4. Hậu quả
Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra các hậu quả nghiêm trọng cho con
người như các hệ sinh thái bị phá hủy, sự mất đa dạng sinh học, chiến
tranh và xung đột, các tác hại đến kinh tế, dịch bệnh và hạn hán, bão
lụt, những đợt nắng nóng gay gắt, các núi băng và sông băng đang teo
nhỏ, mực nước biển đang dâng lên…
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM.
2.1 Thực trạng
Việt Nam đứng thứ 13 trong số 16 nước hàng đầu sẽ phải chịu tác động
mạnh của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu trong 30 năm tới – báo cáo
mới nhất của cơ quan phân tích rủi ro Maplecroft (Anh) nhận định.
Tác động tới yếu tố tự nhiên và môi trường
Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta
nóng lên, kết hợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô
hạn hơn. Hệ thống sinh thái cũng bị tác động tiêu cực.Tại hai vùng đồng
bằng sông Hồng và sông Cửu Long, các hệ sinh thái rừng và đất ven biển sẽ
chịu nhiều thiệt hại.
lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ).
- Tăng cường công tác dự báo thời tiết trên cơ sở hiện đại hoá ngành khí
tượng thủy văn (cả về con người và cơ sở vật chất).
- Tăng cường công tác thông tin thời tiết trên các phương tiện thông tin đại
chúng, đặc biệt là hệ thống phát thanh để đến được các vùng sâu, vùng xa,
ngư trường, hải đảo…
- Tăng cường cơ sở vật chất và mạng lưới cứu hộ thiên tai bão, lũ, đặc biệt là
vùng núi, ven biển, hải đảo và các ngư trường biển.
- Nhà nước có kế hoạch từng bước nâng cấp hệ thống đê biển, đê sông, trồng
cây chắn sóng, trồng rừng ngập mặn ngoài đê để hạn chế tác động của bão,
lũ và nước dâng.
Các giải pháp ứng phó với nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập
mặn, có thể áp dụng giải pháp trực tiếp và giải pháp hỗ trợ:
- Xây dựng các hệ thống đê bao và bờ ngăn chống lũ và xâm nhập mặn ở
đồng bằng sông Cửu Long, kiên cố hoá và nâng cao đê biển, đê chắn lũ ở
đồng bằng sông Hồng và đồng bằng Trung Bộ.
- Thúc đẩy ngư nghiệp thông qua ươm, nuôi, đa dạng hoá các mô hình thực
tiễn nuôi các loài thủy sản có khả năng chịu mặn ở các vùng ven biển đồng
bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và các vùng khác.
- Mở rộng diện tích rừng ngập mặn ở vùng ven biển, ven sông có sự tham
gia của cộng đồng địa phương.
- Xây dựng các trạm khai thác nước sạch và cung cấp nước sạch cho các
cộng đồng vùng ven biển với các phương án công nghệ: khai thác nước
ngầm tầng sâu ở vùng đồng bằng ven biển; xây dựng các hồ chứa nước ngọt
ở vùng cao liền kề; lọc nước mặn bằng công nghệ thẩm thấu ngược.
- Giảm thiểu hiện tượng nhiễm mặn đồng bằng thông qua chính sách quản lý
và bảo vệ lưu vực sông.
Trong đó, đặc biệt quan tâm đến hợp tác quốc tế trong quản lý lưu vực sông
Thiên Huế để giúp đỡ bà con, đồng thời tuyên truyền mọi người bảo vệ rừng,
thay đổi tập quán canh tác không bền vững gây bạc màu, xói mòn đất. Với
cương vị của mình, tôi cho rằng việc đầu tiên mỗi sinh viên chúng ta có thể
giúp giảm thiểu sự tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam đơn giản chính
là bảo vệ môi trường sống xung quanh chúng ta bằng những hành động nhỏ
nhưng thiết thực. Đó là một quá trình lâu dài cần sự cố gắng chung tay góp
sức của toàn thể mọi người trong xã hội.