Sinh lý động vật - Chương 3 - Pdf 40


CHƯƠNG 3 : SINH LÝ HÔ HẤP

I.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA HÔ HẤP
II.
SỰ HÔ HẤP NGOÀI
III.
SỰ TRAO ĐỔI KHÍ
1.Ý nghĩa sinh học:

Hô hấp là sự trao đổi khí liên tục giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh. Trong cơ
thể luôn có sự oxyt hóa chất dinh dưỡng để sản xuất nhiệt, công, các sản phẩm mới..., nhờ O2
lấy trong môi trường. Sản phẩm cuối cùng của trao đổi chất là CO2 và H2O cùng một số hợp
chất khác, về sau sẽ bị thải ra ngoài cơ thể. Việc lấy O2 và thải CO2, H2O là một nhu cầu thiết
yếu của sự sống. Sinh vật càng cao, càng khó chịu đựng sự đói O2 và sự ứ đọng CO2, H2O .
Các động vật cao, nhất là người, nếu hô hấp gián đoạn chỉ vài phút sau là chết.
2.Tiến hóa của hệ hô hấp:

Trên cơ thể động vật, bộ phận để cho O2 từ môi trường ngoài khuếch
tán vào trong
tế bào và CO2 khuếch tán ra khỏi tế bào được gọi là -
Bề mặt hô hấp.

Ở động vật đơn bào và đa bào nhỏ như thủy tức, giun dẹp, đỉa phiến,
sự trao đổi khí
thực hiện trực tiếp qua màng tế bào và màng cơ thể. Ngay ở thú hô hấp qua da và một phầ
n qua
ống tiêu hóa vẫn còn chiếm 1-2% trao đổi khí.
Với các động vật có tổ chức cao, hệ hô hấp chuyên trách xuất hiện, chủ yếu gồm 3 kiểu:
Mang,khí quản và phổi.

n.
Lớp biểu mô bên trong các phế quản được bao phủ bởi các tiêm mao và 1 lớp màng nhầy
mỏng. Chất nhầy giữ bụi, hạt phấn và các chất bẩn khác, nhờ chuyển động của tiêm mao đẩy
chất nhầy xuống yết hầu, tại đây chúng được nuốt vào thực quản. Qúa trình này giúp làm sạch
đường hô hấp. Cuối cùng các phế quản nhỏ nhất đi vào các phế nang (Hình 3.1(.
Lớp biểu mô mỏng của hàng triệu phế nang trong phổi giữ vai trò như một bề mặt hô
hấp. O2 trong không khí sẽ được hòa tan trong lớp màng ẩm và khuếch tán qua biểu mô đi vào
lưới mao mạch xung quanh phế nang. CO2

khuếch tán từ các mao mạch qua biểu mô của phế
nang rồi đi vào không khí.Các cơ hô hấp như cơ liên sườn, cơ hoành tạo áp xuất âm giúp cho
sưü thông khí.
1. Ðộng tác thở:


Ðộng tác hít vào:

- Hít vào bình thường: Ðược thực hiện do các cơ hít vào co lại làm tăng kích thước của
lồng ngực theo cả 3 chiều: trước, sau và ngang.
Tăng chiều thẳng đứng: Ðáy của lồng ngực là cơ hoành, bình thường cơ hoành lồi lên
phía lồng ngực theo 2 vòm, khi cơ hoành co nó phẳng ra, hạ thấp xuống do đó làm tăng chiều
thẳng đứng của lồng ngực. Cơ hoành cứ hạ xuống 1cm thì thể tích lồng ngực tă
ng 250cm3. Khi
hít vào bình thường, cơ hoành hạ thấp khoảng 1,5 cm, hít vào cố gắng có thể hạ tới 7- 8cm. Khi
liệt cơ hoành hô hấp sẽ bị rối loạn nghiêm trọng.
Tăng chiều trước sau và chiều ngang: Ở tư thế nghỉ ngơi, các xương sườn chếch ra trước và
xuống dưới, khi các cơ hít vào co lại, xương sườn quay xung quanh 1 trục đi qua 2 điểm khớp
với đốt sống và chuyển từ tư thế chếch xuống sang tư thế ngang hơn, do đó tăng đường kính
trước sau và đường kính ngang của lồng ngực Hình 3.2


2..Nhịp hô hấp

4. Thể tích hô hấp Thể tích hô hấp là thể tích khí trao đổi khi hô hấp.

Dung tích sống là thể tích khí huy động được sau 1 lần hít vào gắng sức và thở ra gắ
ng
hết sức. Nó là thể tích tối đa có thể trao đổi trong 1 lần hô hấp,do đó phần nào biểu hiện thể lực.
Page 3 of 7Sinh ly ho hap
7/16/2007http://www.ctu.edu.vn/coursewares/supham/sinhlydongvat/chuong3.htm
Dung tích sống của người trưởng thành 2,5-3 lít ở nữ và 3,5- 4 lít ở nam
- Khí lưu thông:Thể tích khí hít vào và thở ra bình thường, ở Người khoảng 500ml
- Khí bổ sung: Hít gắng sức thêm, khoảng 1500ml

- Khí dự phòng: Thở ra gắng sức, khoảng 1500ml

Dung tích sống của ngựa: 26-30 lít, của chó 350-400ml.

Khi thở ra tận lực trong phổi vẫn còn 22,1% khí đọng lại ở các đường hô
hấp gọi l
à
khí cặn. 5. Sự điều tiết hô hấp 5.1. Cơ chế thần kinh:

hơi ra ngoài, lúc thanh quản đang khép (ho(.
Page 4 of 7Sinh ly ho hap
7/16/2007http://www.ctu.edu.vn/coursewares/supham/sinhlydongvat/chuong3.htm
5.2.Cơ chế hóa học điều hòa hô hấp:- Vai trò
CO
2 : Khi nồng độ co2 tăng (hoặc acíd carbonic(, làm cho hô hấp tăng

n, khi
tăng qúa nồng độ co2 gây trịêu chứng ngộ độc như nhức đầu, buồn nôn, rối loạn tuần hòan, mê...
Ở trẻ sơ sinh do tuần hoàn thai bị cắt, cơ thể không thải được co2 , đồng thời do trẻ cử độ
ng,
CO2 trong máu tăng kích thích trung tâm hít vào gây động tác hô hấp đầu tiên của đứa trẻ.
- Vai trò O2: Khi nồng độ O2 trong máu xuống thấp có tác dụng tăng thông khí, lúc đầu chỉ tă
ng
biên độ, sau tăng cả tần số.
Khi lượng khí CO2 tăng cao hay lượng O2 giảm thấp, tác động lên các thụ quan hóa học ở
xoang
động mạch cảnh sẽ truyền xung động về trung tâm hô hấp ở hành tủy, gây phản xạ tăng hô hấp. Ngược
lại, huyết áp tăng ở xoang động mạch cánh và quai động mạch làm giảm hô hấp.
Luồng thần kinh từ vỏ não làm cho ta có thể điều chỉnh cử động hô hấp theo ý muốn. Khi mộ
t
vùng của vỏ não đang hưng phấn mạnh, vùng này sẽ phát xung ức chế các vùng xung quanh, trong đó có
cả trung tâm hô hấp. Ví dụ hô hấp giảm khi tập trung làm toán. Ðau, cảm xúc, sợ hãi sẽ gây nên những
luồng thần kinh đi từ vỏ não, hệ viền, vùng dưới đồi làm thay đổi hô hấp (hình 3.4)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status