Giáo dục kĩ năng sống cho HSTH qua các môn học - Pdf 40

Giáo dục kĩ năng sống cho HSTH qua các môn học
Thứ tư - 25/02/2015 06:05





I. Một số vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống qua các môn học ở tiểu học.
1. Khái niệm về kỹ năng sống:
Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
2. Mục tiêu:
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp .
+ Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu
cực.
KNS giúp HS có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày.
+ KNS giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành.
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất,
trí tuệ, tinh thần và đạo đức
- Nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đồng thời có sự
thống nhất cao việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong toàn cấp học; trang bị
cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực
trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; giúp các em có khả năng làm chủ bản
thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước tình huống cuộc sống.
Giúp
GV
soạn

dạy
được
KNS

dựng
chương
trình
cụ
thể
cho
đơn
vị.
Tùy theo hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, từng trường để triển khai GDKNS cho thật hiệu quả.
Các trường cũng cần phải xây dựng được quy tắc ứng xử văn hóa. Thầy cô giáo, cán bộ, phụ huynh phải
gương mẫu. Bên cạnh đó, cần tạo được môi trường thân thiện, gia đình thân thiện, cộng đồng thân thiện.
Ngoài ra, việc đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” cũng là
giải pháp góp phần trang bị thêm nhiều kiến thức kỹ năng sống cho học sinh.
II. Nội dung và địa chỉ giáo dục kỹ năng sống qua một số môn học như Tiếng Việt, Đạo đức, TN &
XH:
1. Môn Tiếng Việt:
a/
Khả
năng
GD
KNS
qua
môn
Tiếng
Việt:
Môn TV là một trong những môn học ở cấp tiểu học có khả năng GD KNS khá cao, hầu hết các bài học
đều

thể
tích


nội
dung
sống
qua
môn
Tiếng
Việt:
- Giúp HS bước đầu hình thành và rèn luyện các KNS cần thiết, phù hợp lứa tuổi; nhận biết được những
giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận, đánh giá đúng về bản thân; biết ứng xử phù hợp trong
các mối quan hệ; biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
- Nội dung GD KNS được thể hiện ở tất cả các nội dung học tập của môn học.
- Những KNS chủ yếu đó là: KN giao tiếp; KN tự nhận thức; KN suy nghĩ sáng tạo; KN ra quyết định; KN
làm
chủ
bản
thân.
c/
Các
yêu
cầu
cần
thiết
phải
đưa
GD
KNS
váo
môn
Tiếng

phương
pháp
dạy
học
- Xuất phát từ thực tế dạy học Tiếng việt: cung cấp KT và KN sử dụng Tiếng việt thông qua thực hành
(
hành
dụng)


d/
Các
loại
KNS
:
*
KN

bản
:
gồm
kỹ
năng
đơn
lẻ

kỷ
năng
tổng
hợp

TV
:
KN
giao
tiếp
- KN nhận thức (gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định,...) là những KN mà môn
TV cũng có ưu thế vì đối tượng của môn học này là công cụ của tư duy.
- Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,... giữa các thành viên trong xã hội. Gồm các
hành vi giải mã (nhận thông tin), ký mã (phát thông tin) qua : nghe, nói và đọc, viết.
- Các KNS này của HS được hình thành, phát triển dần, từ những KN đơn lẻ đến những KN tổng hợp.
2. Môn Đạo đức:
+ Đạo đức GD cho HS bước đầu biết sống và ứng xử phù hợp với các chuẩn mực biến nhận thứcthành
hành vi chuẩn mựcthể hiện thông qua kĩ năng sống.
MỤC TIÊU GD KNS

CHO HS QUA MÔN ĐẠO ĐỨC

+ Bước đầu trang bị cho HS các KNS cần thiết, phù hợp với lứa tuổi.
+ Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu
cực.
+ Phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh.
+ Rèn cho học sinh biết cách tự phục vụ bản thân và vệ sinh cá nhân, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ
môi trường.
+ Rèn cho học sinh biết cách giao tiếp và ứng xử phù hợp và linh hoạt trong cuộc sống hằng ngày.
+ Hướng dẫn học sinh biết cách phối hợp công việc của từng cá nhân khi làm việc đồng đội.
+ KNS giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành
+ Biết sống tích cực, chủ động
+ Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể
chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Trong các chương trình giáo dục kĩ năng sống cho HSTH , người ta nhắc đến những nhóm kỹ



xung quanh, bản thân, gia đình và xã hội và môi trường tự nhiên. Chỉ khác hơn là GV viên cố gắng trong
phạm vi có thể khi soạn và giảng từng phần của bài học phải tạo một điểm nhấn cụ thể, rõ ràng, nhằm
khắc sâu những kĩ năng sống đã có sẵn trong từng bài học và những kĩ năng sống chúng ta lồng ghép
trong quá trình soạn –giảng.
c. Môn Khoa học:
3. Địa chỉ giáo dục kĩ năng sống trong môn khoa học:
a) Lớp 4:
+ Có 21 địa chỉ.
+ Trong đó có 5 địa chỉ đã soạn sẵn theo mẫu:
~ Bài 13: Phòng bệnh béo phì.
~ Bài 14: Phòng bệnh lây qua đường tiêu hóa
~ Bài 39-40: Không khí bị ô nhiễm. Bảo vệ bầu không khí trong sạch.
~ Bài 65: Quan hệ thức ăn trong tự nhiên.
~ Bài 66: Chuỗi thức ăn trong tự nhiên.
b) Lớp 5:
+ Có 26 địa chỉ.
+ Trong đó có 5 địa chỉ đã soạn sẵn theo mẫu:
~ Bài 9-10: Thực hành nói “không” với các chất gây nghiện
~ Bài 18: Phòng tránh bị xâm hại.
~ Bài 42-43: Sử dụng năng lượng chất đốt (2 tiết)
~ Bài 48: An toàn và tránh lãng phí khi sử dụng điện
~ Bài 66: Tác động của con người đến môi trường đất
4. Cách soạn và trình bày:
a) Bài soạn và cách thức:
- Ở khối Bốn soạn bài: “Nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm”
- Ở khối Năm soạn bài: “Phòng bệnh sốt xuất huyết”
- Nếu thấy hợp lý, có thể gộp 2 bài lại để soạn. Ví dụ: Ở lớp Bốn: Có thể gộp 2 bài để soạn như bài:
“Nước bị ô nhiễm. Nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm”

học
(VD:
Đạo
đức)
với
GDKNS:
Chương trình giáo dục môn Đạo đức ở cấp tiểu học có một số nội dung trùng hợp với nội dung của giáo
dục kỹ năng sống. Tuy nhiên, mục đích và phương pháp dạy các môn này không giống nhau hoàn toàn.
Ví dụ: Trong chương trình môn Đạo đức lớp 1, tuần 19 có bài: “Lễ phép, vâng lời thầy cô giáo”. Trong
dạy kỹ năng sống, không có khái niệm “vâng lời”, chỉ có khái niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”. Mục
tiêu của giáo dục kỹ năng sống là rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các
hoạt động và bài tập trải nghiệm, chứ không đặt mục đích “rèn nếp” hay “nghe lời”. Công dân toàn cầu là
người biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, quyết định có làm điều này hay điều
khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không tạo ra lớp công dân “chỉ biết nghe lời”.
Đây là sự khác biệt cơ bản của việc giáo dục kỹ năng sống với các môn học khác (như môn Đạo
đức).
2.
PPDH

Kỹ
thuật
dạy
học:
Cũng
như
các
môn
học
khác,
GDKNS

học:


.
Kỹ
thuật
chia
nhóm
.
Kỹ
thuật
đặt
câu
hỏi
.
Kỹ
thuật
khăn
trải
bàn
.
Kỹ
thuật
trình
bày
1
phút
. Kỹ thuật bản đồ tư duy
IV. MÔÔ T SỐ BIÊÔN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁC MÔN HỌC VÀ
HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP


GD&TĐ - Theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT Bắc Ninh, sinh hoạt chuyên môn về nội dung đổi mới sự
tham gia của phụ huynh và cộng đồng vào giáo dục có thể tổ chức dưới hình thức chuyên đề (đối
với cấp trường) hoặc tổ chức hội thảo (đổi với cấp cụm) thông qua 4 bước.
Xây dụng kế hoạch và chuẩn bị
Xây dựng kế hoạch cần tập trung vào nội dung, cụ thể mà giáo viên, cán bộ quản lý quan tâm, gặp vướng
mắc, khó khăn cần được chia sẻ, hỗ trợ về nội dung phụ huynh và cộng đồng tham gia vào giáo dục.
Trong kế hoạch cần nêu rõ: Lớp, trường được chọn để minh họa cho nội dung sinh hoạt chuyên môn
(SHCM), dự kiến giáo viên, cha mẹ học sinh, các đoàn thể, ban ngành sẽ tham gia giao lưu, chia sẻ trong
buổi SHCM.
Có thể lựa chọn nội dung để xây dựng kế hoạch SHCM như sau:
Cách tuyên truyền để cha mẹ học sinh và cộng đồng hiểu rõ và tích cực tham gia vào xây dựng Mô hình
trường học mới, tích cực tham gia siáo dục cùng nhà trường;
Cách phối hợp với cha mẹ học sinh và cộng đồng trong việc huy động trẻ đến trường;
Cách hướng dẫn cha mẹ học sinh vào lớp học hoặc tới trường để hỗ trợ con em mình học tập;
Cách hướng dẫn cha mẹ học sinh hỗ trợ con em mình học tập ở nhà (hoạt động ứng dụng);
Cách phối hợp với cha mẹ học sinh, cộng đồng tham gia xây dựng, bảo quản, sử dụng cơ sở vật chất và
tổ chức không gian trong lớp học;
Cách phối hợp với cha mẹ học sinh, cộng đồng xây dựng các nội dung học tập liên quan đến thực tiễn
của địa phương.
Phân công giáo viên, cán bộ quản lý cấp trường chuẩn bị thuyết minh nội dung về sự tham gia của cha
mẹ học sinh và cộng đồng trong chuyên đề.
Mời một số cha mẹ học sinh, đại diện cộng đồng tham gia chuyên đề hoặc hội thảo để trao đổi về cách
phối hợp với nhà trường đối với giáo dục.
Tổ chức sinh hoạt
Bước tiếp theo là tổ chức sinh hoạt chuyên môn về nội dung cha mẹ học sinh, cộng đồng tham gia vào
giáo dục, giao lưu với cha mẹ học sinh, đại diện cộng đồng.
Giáo viên, cán bộ quản lý được phân công thuyết minh nội dung đã chuẩn bị.



1.2. Hợp tác:
– Khi đã tiếp xúc được với phụ huynh của học sinh “chưa ngoan”, điều cần tránh là không nên gay gắt,
dồn dập việc báo cáo và phê bình con em họ, vì hơn ai hết họ đã từng nghe nhiều lời ca thán và đã biết rõ
con em mình. Điều đó sẽ không có tác dụng gì mà ngược lại làm mất đi ý nghĩa của sự hợp tác, phối hợp
giáo dục. Vì vậy, cần phải giao tiếp ở một góc độ cởi mở một cách hết sức tâm lý và tế nhị nhưng chân
tình, tạo cho phụ huynh học sinh một sự tin tưởng, một tình cảm gần gũi, thân mật, một thái độ tận tâm
hợp tác để giáo dục con em họ trở thành người tốt.
* Quy tắc 2H sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm hiểu và chia sẻ với gia đình những khó khăn trong việc dạy dỗ
các em, và ngược lại gia đình sẵn sàng hợp tác với giáo viên chủ nhiệm để giáo dục con em mình suốt
năm học. Vấn đề ở đây là các em cần phải được giáo dục để hiểu, nhận ra và chống lại tác động tiêu cực
của những con người và sự việc xấu bằng sự quan tâm của gia đình và của giáo viên chủ nhiệm.
2. Quy tắc 2Q (Quan tâm – Quan sát)
2.1. Quan tâm:
– Giáo viên chủ nhiệm quan tâm bằng cách trực tiếp hỏi thăm học sinh “chưa ngoan” về hoàn cảnh gia
đình để giúp các em dần dần ý thức về việc quan tâm đến gia đình mình kết hợp với quan tâm thăm hỏi
học sinh “chưa ngoan” về bạn bè thân thích thường hay chơi với nhau. Đồng thời thông qua phối hợp chặt
chẽ gia đình, giáo viên bộ môn để hiểu thêm về năng lực học tập cũng như thái độ và sự tôn trọng, lễ
phép của học sinh “chưa ngoan” và gián tiếp giúp đỡ, quan tâm, ân cần hơn đối với các em.
Phối hợp với các ban ngành, đoàn thể trong nhà trường để gắn các em vào những hoạt động mà các em
ưa thích, hoặc chia sẻ, giúp đỡ các em những khó khăn. Kêu gọi và yêu cầu các em khác trong lớp biết
quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn mình (là những học sinh “chưa ngoan”), không nên xem thường và cô lập
bạn, hoặc phê phán một cách thái quá hay gay gắt dẫn đến mâu thuẫn chỉ vì thi đua của lớp quá thấp.
Điều đó lại có thể thúc đẩy việc tìm kiếm bạn bên ngoài nhà trường (nhất là những nhóm thiếu niên hư
hỏng sẽ có khả năng dẫn đến những hậu quả đáng tiếc).
2.2 Quan sát:
– Quan sát, theo dõi học sinh “chưa ngoan” hằng ngày về việc thực hiện nội quy, quy chế trường lớp, về
thái độ học tập bằng nhiều hình thức khác nhau sẽ giúp cho giáo viên chủ nhiệm nắm vững và sẽ không
vội vàng kết luận mội vi phạm nào đó khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện cần quan sát nhằm tránh làm
tổn thương đến tâm lý và tình cảm của các em.
3. Quy tắc 2N (Nghiêm khắc – Ngọt dịu)

5. Quy tắc 2T (Tâm huyết – Trách nhiệm)
Chính tâm huyết và trách nhiệm sẽ giúp cho giáo viên chủ nhiệm có được năng lực “cảm hóa” học sinh
nói chung, học sinh “chưa ngoan” nói riêng. Đó là năng lực gây ảnh hưởng trực tiếp của mình đến với học
sinh về mặt tình cảm và ý chí. Tâm huyết và trách nhiệm nằm trong nhân cách của người thầy giáo. Giáo
viên chủ nhiệm phải dùng nhân cách của mình để tác động vào học sinh, giáo dục các em nên người. Đây
chính là dùng nhân cách để giáo dục nhân cách là vậy.
Có thể nói rằng chỉ có người giáo viên nào luôn ý thức sẽ cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đào
tạo và giáo dục thế hệ trẻ, lấy việc hy sinh phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đào tạo con người làm hạnh
phúc cao cả của đời mình thì mới có thể thực hiện được chức năng “người kỹ sư tâm hồn” một cách xứng
đáng.
Với những quy tắc đã nêu trên đây chúng ta hy vọng rằng công tác giáo dục học sinh “chưa ngoan” sẽ có
những bước chuyển biến mới. Tuy nhiên việc giáo dục nhân cách cho học sinh không thể thành công
trong một sớm một chiều, bởi giáo dục là cả một quá trình và không thể chỉ thực hiện bởi giáo viên chủ
nhiệm, BGH và các tổ chức đoàn thể trong trường. Chính vì vậy chỉ có sự gắn kết của các bậc phụ huynh,
các tổ chức xã hội cùng quan tâm ủng hộ nhà trường và tham gia công tác giáo dục học sinh “chưa
ngoan” mới có thể tin tưởng đạt được kết quả tích cực và bền vững.

Quan sát của giáo viên tiểu học sau một năm thực hiện TT 30




Thứ bảy - 23/05/2015 09:06

VietNamNet xin giới thiệu bài viết của nhà giáo Trần Trung Huy - Trường Tiểu học Lai Vu (Kim
Thành - Hải Dương.) Bài viết của thầy giáo đã nêu lên những ưu điểm và nội dung cần chỉnh sửa
qua thực tế vận dụng TT30 và mong muốn TT30 được điều chỉnh cho hợp lí.
Những ưu điểm
Không chấm điểm, giảm sức ép đè lên các em hàng ngày. Nhiều năm dạy học, tôi đã chứng kiến có
những bà mẹ quy định với con "chỉ được phép đạt điểm 9-10".Có lần, tôi chấm một bài điểm 7, em đó

- Em vẽ sơ đồ chưa đúng nên giải sai bài 4.
- Em nên so sánh khi tả ngoại hình thì bài văn sẽ hay hơn.
- Em nên viết thêm 1-2 câu kết bài thì bài làm của em sẽ hoàn hảo hơn.
- Bài văn này em đã viết đủ các ý, cô rất hài lòng. Mong em chấm hết câu rõ ràng để cô đọc dễ hơn.
Chỉ cần đọc lời nhận xét, biết cô giáo đã nhận xét bằng cả cái tâm và cô chấm thực. Tôi đã từng được đọc
lời nhận xét của một GV tiếng Anh:
- Em cần phân biệt đúng cách dùng there is/ there are….
- Em cần bật mạnh các âm cuôi chứa /p/, /t/, /k/…
- Cần viết đúng từ theo cách viết Tiếng Anh đối với chủ đề thời tiết
Đọc lời nhận xét này, người quản lí biết cô giáo “phê” khi đã quan sát kĩ bài làm của HS.
Rõ ràng, lời nhận xét của thầy giúp HS vui hơn, cố gắng hơn và thể hiện tính nhân văn cao cả.
Tuy nhiên, vẫn có những lời nhận xét trên trang vở nhưng cho thấy có những người thầy chưa có “Tâm”
hoặc non yếu về câu, từ. Ví như: Bài viết tốt. Diễn đạt chưa tốt. Nên tính toán nhiều. Dùng từ chưa đúng.
Cụm từ "Trình bày chưa khoa học" được những GV này dùng nhiều. Đọc cụm từ này, cha mẹ HS không
hiểu cái gì chưa khoa học…
TT 30 kéo cha mẹ HS tham gia vào quá trình giáo dục. Trước đây, cha mẹ đi làm về chỉ cần nghe con
đọc điểm số là "khen" hoặc "mắng". Cũng có thể xem vở của con nhưng cũng chỉ biết chỗ đó đúng, chỗ
đó sai theo nét bút của cô giáo (đ / s). Nay, cha mẹ phải đọc lời nhận xét của con mới hiểu được mà hiểu
rất cụ thể.
Trong thực tế, nhiều thầy cô còn thông báo về gia đình qua vở HS về cách ăn mặc, vệ sinh thân thể, sự
chuẩn bị sách vở đi học, … của HS. Điều này chỉ được nhân rộng sau khi TT 30 có hiệu lực.
Những hạn chế cần điều chỉnh
TT 30 đề ra ba nội dung đánh giá là nhiều. Ba nội dung đánh giá HS tiểu học của TT 30 gồm: Kết quả
các môn học và hoạt động giáo dục; mức độ hình thành và phát triển năng lực;mức độ hình thành và phát
triển phẩm chất. Nội dung đánh giá thứ nhất là nội dung quen thuộc ta không bàn. Theo Từ điển tiếng Việt
của Viện Ngôn ngữ học NXB Từ điển bách khoa 2007 do nhóm Ngọc-Xuân-Quỳnh biên soạn các từ “năng
lực” và “phẩm chất” được hiểu như sau;
- Năng lực: Sức làm ra, phát ra của con người, sự vật, máy móc, …
- Phẩm chất: Tính chất riêng tốt, xấu của một sự vật.
Còn theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992 do Hoàng Phê chủ biên thì:

Từ khi TT 30 ra đời, như trên đã nói, xã hội tốn nhiều giấy mực để bình luận. Tôi vui vì có nhiều người
quan tâm đến giáo dục. Song tôi buồn vì văn hóa viết phản hồi của nhiều người. Gặp phải bài có nội dung
đồng tình TT 30 thì họ cho rằng "bênh" thông tư. Gặp bài có nội dung không đồng tình TT 30 thì họ đưa ra
lời không đúng mực với cơ quan chủ quản giáo dục. Tôi thấy có nhiều người học hàm học vị cao, dẫn
chứng cả giáo dục nước ngoài nhưng bài viết của họ thì chưa nêu ra được điểm gì thuyết phục cho ý kiến
phản đối của mình.
Họ có suy nghĩ kiểu sòng phẳng người lớn: Có điểm thì mới có thi đua; điểm thấp thì phải chấp nhận chê
cười mà cố gắng; điểm cao thì nghiễm nhiên được khen ngợi, biểu dương;… Với HS THCS và THPT,
quan điểm đó đúng.
Trong chương trình "Chuyện đương thời" tối 24/10/2014 trên Đài truyền hình Việt Nam, có 76% số người
không đồng tình với TT 30. Chuyện đó dễ hiểu vì từ xưa tới nay, ai đi học cũng nghĩ đến chấm điểm. Nếu
chuyện TT 30 mà đem hỏi vào quần chúng nói chung thì có thể số người không đồng tình còn cao hơn.
Đa số chúng ta đều đứng quan sát TT 30 ở vị trí của phương pháp giáo dục HS lớn: sòng phẳng, cạnh
tranh thứ hạng trong lớp…Song, HS tiểu học thì khác… Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan.
Mong muốn điều chỉnh
Về lâu dài: Vì các mặt đánh giá "Mức độ hình thành và phát triển năng lực…" và "Mức độ hình thành và
phát triển phẩm chất…" nghe rất hàn lâm gây khó hiểu cho cha mẹ HS. Vậy nên, sau này,nếu có Thông tư
xyz gì đó, rất mong Bộ GD-ĐT chỉ nên đánh giá HS tiểu học hai mặt:
- Kết quả học tập các môn học.
- Thực hiện các nhiệm vụ của học sinh tiểu học.
Điều chỉnh trước mắt: TT 30/2014 chắc rằng không thể thay thế bằng một TT khác ngay được vì đã mất
nhiều kinh phí in sổ sách và học bạ của HS. Nội dung ba mặt đánh giá của TT 30 chắc cũng không thể
giảm đi.
Tuy nhiên, tôi rất mong, sang năm học tiếp theo, Bộ GD-ĐT điều chỉnh mạnh mẽ ở hai cuốn sổ theo dõi
chất lượng giáo dục HS (Sổ dành cho GV dạy môn và sổ dành cho GV chủ nhiệm lớp) theo hướng:
Một năm học, chỉ cần ghi nhận xét đánh giá định kì hai lần vào cuối học kì I và cuối năm học. (Vì hàng
ngày GV đã nhận xét thường xuyên bằng lời và ghi vở rồi).
GV dạy môn (Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, …) chỉ cần một sổ, trong sổ đó thiết kế chỗ ghi danh sách HS
nhiều lớp và sau đó là cột đánh tích, cột ghi nhận xét, đánh giá sau học kì I và cuối năm học. Trang ghi
nhận xét, đánh giá của GV dạy môn không cần đánh giá riệng về năng lực, phẩm chất mà chỉ cần đánh

hình để “đền tội”.
Trẻ tưởng tượng rất phong phú. Đó là lĩnh vực kỳ diệu trong tính cách trẻ chưa đi học. Cha mẹ cần phân
biệt cho trẻ biết thế nào là “nói dối đùa” để trẻ không lẫn lộn.
2. CÔNG BÌNH. Hãy khuyến khích trẻ “chuộc lỗi”, đó là dạy trẻ biết lẽ công bình. Bé An 4 tuổi và bé Sơn 3
tuổi cùng chơi giả làm ngựa. Sơn đẩy chị mạnh làm chị đau. Người cha bắt em xin lỗi chị. Như vậy
đủ chưa?


Để giúp trẻ hiểu đúng nghĩa của sự công bình, cha mẹ cần khuyến khích trẻ sửa lỗi. Người cha có thể đề
nghị bé Sơn đi lấy dầu gió xoa cho bé An để tỏ động thái hối lỗi, đồng thời vẫn cần có lời xin lỗi. Nhờ vậy
trẻ có thể nhận ra hậu quả của mình đã gây ra cho người khác. Đó là bước đầu tiên trẻ biết đến trách
nhiệm, biết phải cư xử đúng đắn với người khác.
Nếu cha mẹ la rầy hoặc có quyết định bất công, có thể trẻ sẽ không khâm phục. Cách cư xử công bình
của cha mẹ sẽ dạy trẻ nhiều hơn bất kỳ cách la rầy nào.
3. CẢM THÔNG. Hãy dạy trẻ nghĩ đến người khác. Trẻ dưới 5 tuổi rất ích kỷ. Chúng khó đặt mình vào vị
trí của người khác, nhưng như vậy không có nghĩa là không thể dạy trẻ biết nhận biết giá trị của sự cân
nhắc. Hãy tìm cơ hội để nói với trẻ về sự tử tế. Trẻ sẽ mau chóng tiếp thu các lời nói đẹp và các động thái
tốt, rồi trẻ sẽ biết áp dụng. Có nhiều cách phản ứng để khuyến khích trẻ biết cân nhắc và quan tâm người
khác.
Cha mẹ có thể nói chuyện về các cảm xúc và các động thái, rồi hỏi trẻ là đúng hay sai. Nếu trẻ nói “không
đúng” thì hỏi trẻ tại sao cảm thấy vậy. Với các cách ứng xử khác nhau, trẻ sẽ quen dần và thấm nhuần, vì
trẻ đang là trang giấy trắng, hãy “vẽ” lên đó những lời tốt và các hình đẹp.
4. TỰ TIN. Hãy nuôi dưỡng lòng tự tin ở trẻ. Bé Thành luôn muốn làm chiếc cầu hoặc xây nhà cao tầng.
Tư tưởng hay nhưng nó không sao xếp được với những lon nước ngọt và băng keo. Nó 4 tuổi nên còn
vụng về. Chị Liên nói: “Con sẽ làm được khi con lớn hơn”. Nhưng nó không chịu, chịđành để nó làm lại,
còn chị phụ dán băng keo. Xong “công trình”, khuôn mặt nó rạng rỡ hẳn.
Tin vào ý tưởng và khả năng của trẻ là điều quan yếu để xây dựng lòng tự tin ở trẻ. Trẻ sẽ sẵn sàng nỗ
lực, vì trẻ biết nếu thất bại thì cũng không bị chê trách. Nhờ tự tin mà trẻ có thể xử lý các thử thách gặp
phải trên đường đời. Nếu trẻ nhút nhát và lưỡng lự, hãy giúp trẻ loại bỏ ý nghĩ tiêu cực bằng cách nói:
“Không sao, thua keo này bày keo khác. Ba/mẹ biết con có thể làm được”. Đồng thời cho trẻ biết các



động viên thật nhiều. Bạn không thể nào bắt một đứa trẻ phải chạy trong khi bé chưa biết
đi, nhưng nếu bé muốn chạy, hãy hết lòng giúp đỡ bé.
2. Tạo cơ hội cho bé
Một trong những cách hay nhất và hiệu quả nhất để giúp trẻ phát huy năng khiếu là cho trẻ
làm theo sở thích. Nếu được quyền chọn lựa, trẻ sẽ nỗ lực hơn để thực hiện cái mà chúng
quyết định theo đuổi. Nhưng dù gì đi nữa, trẻ rất cần sự hỗ trợ của các vị phụ huynh.
Thông thường thì trẻ thích rất nhiều thứ nên cha mẹ phải có giải pháp thu hẹp lại, giúp con
phát hiện ra lĩnh vực con quan tâm nhất. Ðối với những đứa trẻ quá đặc biệt, nếu không
hướng trẻ vào khả năng nổi bật, trẻ sẽ mất dần sự tập trung vào năng khiếu của mình và
chỉ thích ngồi xem ti vi hoặc chơi đùa với bạn bè mà thôi.
3. Kiểm tra xem có gì gây khó khăn cho trẻ không
Ðiều này nghe có vẻ dễ dàng và hiển nhiên nhưng có bao giờ bạn hỏi con mình tại sao
không muốn đi cắm trại, không thích tham gia hướng đạo sinh hoặc tại sao không làm bài
tập về nhà chưa? Có nhiều nguyên nhân: có thể khi đi học con hay bị bạn bè chọc ghẹo,
có thể con không thích thầy phụ trách đội hay con thấy chán học môn toán nên không làm
bài về nhà...
Môi trường thích hợp cũng là yếu tố rất quan trọng. Một số trẻ chỉ có thể tập trung ý tưởng
trong những phòng tuyệt đối yên tĩnh nhưng những trẻ khác thì lại thích ngồi học ở sân
chơi náo nhiệt. Nếu con trai bạn nói không muốn ngồi học một mình trong phòng riêng thì
hãy dọn dẹp cho bé ngồi học trong nhà bếp. Nếu trẻ trở nên ham học, không cần đến sự
nhắc nhở của người khác thì chắc hẳn phải có một nguyên nhân tốt nào đó.
4.

Nói

chuyện

với

không ngốc gì mà tin mãi những câu "Giỏi lắm" hoặc "Tốt lắm". Nếu ngày nào con cũng
mang cho bạn xem những bài làm ở trường và nghe vẫn chừng ấy lời thì con sẽ hiểu rằng
bạn không quan tâm thực sự đến chuyện học hành của chúng.
Vậy bạn có thể nói những gì? Ðơn giản thôi, nhưng là rất cụ thể. Ví dụ: "Mẹ rất thích ý
tưởng này trong bài văn của con, nó rất sâu sắc và ấn tượng" hoặc "Con đàn bài ‘Trường
làng tôi’ hay lắm!".
6. Thưởng cho trẻ
Một số phụ huynh thường hứa sẽ thưởng cho con một chiếc xe đạp nếu con làm bài thi
thật tốt và tất nhiên nếu con thi rớt thì sẽ chẳng được gì cả. Cách đối xử như vậy không
hẳn là một phương pháp tốt vì chỉ làm cho trẻ căng thẳng trước kỳ thi, sợ thi điểm thấp thì
không được thưởng. Và nếu thi hỏng thật thì trẻ dễ rơi vào trạng thái chán nản.


Trên lý thuyết, kết quả thi tốt đã là phần thưởng cho trẻ nhưng trên thực tế, trẻ sẽ đạt được
kết quả tốt hơn nếu có quà thưởng để khích lệ chúng. Thay vì hứa hẹn tặng cho trẻ một
món quà thật lớn thì chỉ cần một món quà nhỏ cũng đủ khích lệ trẻ rồi. Phần thưởng sẽ
động viên trẻ cố gắng hơn và cũng không làm cho trẻ quá hối tiếc nếu vuột mất cơ hội
giành được phần thưởng đó.
7.

Thỉnh

thoảng

hãy

để

con



hiểu

tại

sao

bạn

muốn

trẻ

học

tập

thật

tốt

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn không muốn con bỏ lớp học piano vì bạn chắc chắn là trẻ có
năng khiếu về âm nhạc, đặc biệt là khả năng chơi đàn piano? Bạn phải làm gì?
Ðừng la mắng trẻ vì chỉ một lúc sau trẻ sẽ không để tâm đến việc bạn đang trách móc nữa.
Bạn hãy nói chuyện và giải thích cho bé hiểu tại sao bạn cho rằng trẻ nên tiếp tục học đàn
piano và mâu thuẫn giữa hai mẹ con sẽ được giải quyết ngay. Nếu trẻ vẫn không chịu vâng
lời, biết đâu sau này trẻ đang chuyển hướng sang đam mê thanh nhạc và thích tham gia
vào một nhóm tam ca, tứ ca nào đó... Dù trẻ đồng ý hay không đồng ý thì tất cả những gì
trẻ học được trước đây vẫn được lưu giữ an toàn trong "ngân hàng kinh nghiệm" và con sẽ
không bao giờ quên được.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status