Ẩm thực trong ngày tết nguyên đán của người Thái Đen ở xã Nghĩa An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái - Pdf 40

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt tiểu luận này lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn trân
thành tới Khoa Văn hóa dân tộc thiểu số cùng toàn thể các thầy cô giáo trong
Khoa đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành bài đúng kỳ hạn.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ bảo,
động viên tôi hoàn thành bài một cách tốt nhất.
Trong quá trình tìm hiểu nội dung và đi thực tế, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới
UBND xã Nghĩa An- huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái cùng toàn thể đồng bào dân
tộc Thái Đen sinh sống ở xã đã giúp đỡ và cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành
bài tiểu luận này.
Do bản thân ngƣời viết còn thiếu kinh nghiệm, kiến thức và tài liệu còn hạn
hẹp nên bài viết chắc chắn sẽ có nhiều thiếu xót. Vì vậy, kính mong các thầy cô
giáo chỉ bảo giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt bài tiểu luận này.
Xin chân thành cảm ơn!

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................. 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................. 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................ 7
6. Bố cục tiểu luận............................................................................................... 8
Chƣơng 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƢỜI THÁI
ĐEN Ở XÃ NGHĨA AN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI ...................... 9
1. 1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội, địa bàn cƣ trú ................................................ 9
1.1.1. Khái quát về xã Nghĩa An huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái .................. 9
1.1.2. Đặc điểm tự nhiên .............................................................................. 9

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 47
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 48

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“ Muốn ăn gạo trắng nƣớc trong
Vƣợt qua đèo Ách vào trong Mƣờng Lò”
Nói tới Mƣờng Lò là ngƣời ta luôn nhớ đến 1 vùng đất sơn thủy hữu tình,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa Thái.
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, ngƣời Thái đứng thứ 3 về dân
số sau ngƣời Kinh( Việt), và ngƣời Tày. Việc nghiên cứu văn hóa Thái đã trở
thành mối quan tâm lớn không chỉ đối với một quốc gia( nhƣ Việt Nam) mà còn
đƣợc các quốc gia trong khu vực và trên thế giới cùng quan tâm. Những cuộc
hội thảo quốc tế về ngƣời Thái là một ví dụ.
Những đặc trƣng về lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa của ngƣời Thái ở
Việt Nam đã đƣợc tái hiện khá phong phú trong những công trình ấy. Tuy nhiên,
phạm vi nghiên cứu thƣờng tập trung ở một số khu vực nhƣ Tây Bắc( Sơn La,
Lai Châu), Bắc Trung Bộ(Thanh Hóa, Nghệ An) mà ít chú ý đến nơi khác có
ngƣời Thái cƣ trú.
Do sớm có mặt ở Mƣờng Lò nói chung, xã Nghĩa An nói riêng, lại chiếm
tỷ lệ dân số khá đông, trong tiến trình phát triển của lịch sử, đồng bào Thái nơi
đây đã sớm xây dựng cho mình một nền văn hóa truyền thống phong phú và đa
dạng, góp phần xây dựng nên truyền thống văn hóa Việt Nam. Nhƣng bên cạnh
văn hóa truyền thống riêng vốn có của mình, ngƣời Thái luôn luôn tiếp thu và
giao lƣu văn hóa với các dân tộc anh em, trong đó có ẩm thực. Trong ẩm thực
của ngƣời Thái luôn có sự pha trộn và thống nhất giữa cái truyền thống của dân

phục Thái”. Hai tác giả Hoàng Nam và Lê Ngọc Thắng với “ nhà sàn Thái”.
Năm 2006, cuốn “ văn hóa vật chất của ngƣời Thái ở Thanh Hóa và Nghệ An”
của Vi Văn Biên đƣợc xuất bản, ông đã phân tích sự tƣơng đồng và khác biệt về
văn hóa vật chất của ngƣời Thái ở Bắc Trung Bộ và ngƣời Thái ở Tây Bắc.
Một loạt những công trình nghiên cứu về nghệ thuật ngôn từ của ngƣời
Thái cũng đƣợc ra đời. “ Truyện dân gian Thái” với ba tác giả Cầm Cƣờng, Cầm
Kỳ, Hà Thị Thiệc. Gần đây nhất là tác tác phẩm “ Tìm hiểu văn học dân tộc Thái

5


ở Việt Nam” của Cầm Cƣờng nói về nguồn gốc và thành tựu của văn học Thái,
vai trò của nó trong đời sống xã hội dân tộc Thái .
Ngoài những công trình nghiên cứu đồ sộ thì trên một số tờ báo và tạp chí
cũng xuất hiện những bài viết tản mạn về ngƣời Thái nhƣng khai thác ở một số
khía cạnh văn hóa, kinh tế, xã hội. Trên tạp chí dân tộc học số 2 năm 2006 có
bài viết “ Lễ hội truyền thống của ngƣời Thái Tây Bắc trong giai đoạn hiện
nay”. Cũng trên tạp chí Dân tộc học số 3 năm 2006 có bài viết “ Cƣ dân TàyThái cổ” trong đó nhấn mạnh những đặc điểm văn hóa riêng biệt của cả hai dân
tộc này.
Viết về Mƣờng Lò( trong đó có xã Nghĩa An) có công trình của Hội văn
nghệ dân gian Việt Nam “ Tìm hiểu một số tục cúng vía của ngƣời Thái Đen ở
Mƣờng Lò” của nhóm tác giả Hoàng Thị Hạnh- Lò Văn Biến- Nguyễn Mạnh
Hùng. Hai áng sử thi của ngƣời Thái là “ Quắm tố mƣơng” ( kể chuyện bản
mƣờng) và “ Táy pú xấc” ( dõi theo bƣớc đƣờng chinh chiến của cha ông) là hai
tác phẩm đã dựng nên quá trình di cƣ- tụ cƣ và sinh sống của ngƣời Thái Đen.
Trong đó Mƣờng Lò đƣợc nhắc đến là nơi Lò Lạng Chƣợng- ông tổ ngƣời Thái
Đen ở Tây Bắc Việt Nam bắt đầu sự nghiệp của mình. Đồng thời những sự kiện
đó cũng đƣợc thuật lại khá sinh động trong áng “ Mo khuôn” ( mo hồn) và “ lời
tang lễ dân tộc Thái” mới đƣợc xuất bản gần đây. Đặc biết nói về ẩm thực của
ngƣời Thái Đen ở Mƣờng Lò có cuốn “ Ẩm thực ngƣời Thái Đen ở Mƣờng Lò”

Ngƣời viết đã tìm tài liệu từ nhiều kênh thông tin khác nhau. Sau đó chọn
lựa và phân loại các tài liệu đó cho phù hợp với các yêu cầu của bài viết.
 Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp:
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để phân tích và xứ lý số liệu, tài liệu đã
điều tra, bao gồm các thông tin, số liệu đƣợc tổng hợp từ một số sách báo, băng
hình, Internet. Từ những nguồn tài liệu đã phân tích và tổng hợp lại rồi đƣa vào
bài viết một cách hợp lý.
 Phƣơng pháp liên ngành: địa lý học, dân tộc học.

7


6. Bố cục tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục ghi tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, phần nội dung của tiểu luận đƣợc trình bày trong ba chƣơng:
Chương 1: khái quát về người Thái Đen ở xã Nghĩa An huyện Văn Chấn
tỉnh Yên Bái
Chương 2: Ẩm thực trong ngày tết của người Thái Đen xã Nghĩa An
Chương 3: Những biến đổi về cách chế biến

8


Chƣơng 1
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƢỜI THÁI ĐEN
Ở XÃ NGHĨA AN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
1. 1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội, địa bàn cƣ trú
1.1.1. Khái quát về xã Nghĩa An huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái
Xã Nghĩa An trƣớc đây là xã thuộc huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái nằm
trong cánh đồng Mƣờng Lò cách trung tâm thị xã Nghĩa lộ 2km về phía tây với

5, 8; mƣa nhỏ, lƣợng mƣa không đáng kể tập trung vào tháng 11,12. Là khu vực
nằm sâu trong nội địa, độ ẩm thƣờng thấp hơn so với một số nơi trong tỉnh. Độ
ẩm tƣơng đối 84% rất thích hợp phát triển cây lƣơng thực, cây công nghiệp, cây
ăn quả.
Nguồn tài nguyên đất của xã mang đặc trƣng địa hình bồn địa, đƣợc kiến
tạo bồi đắp bằng vật liệu rửa trôi. Với tầng mùn tƣơng đối, tầng dày phong hóa
lớn, độ dốc thấp đã tạo nên một vùng trọng điểm cây lƣơng thực mà chủ yếu là
cây lúa. Khoáng sản trong vùng nghèo nàn. Hiện tại chƣa tìm thấy một điểm mỏ
nào tại địa phƣơng ngoài nhóm vật liệu xây dựng nhƣ đất pha sét để sản xuất
gạch và đá, sỏi đƣợc khai thác ở ven ngòi, ven suối.
Trên diện tích hẹp, song chế độ thủy văn ở đây khá phong phú. Bao quay
Ngòi Thia, Ngòi Nung, suối Đôi. Ngòi Thia là nguồn phụ lƣu cấp I lớn nhât của
sông Hồng, đƣợc bắt nguồn từ vùng núi Trạm Tấu với chiều dài 165km đoạn
chảy qua thị xã Nghĩa Lộ( trong đó có xã Nghĩa An) khoảng 5km. Độ cao bình
quân của lƣu vực Ngòi Thia tới 907km, độ chênh lệch lƣu lƣợng giữa mùa lũ và
mùa cạn lên tới 480 lần. Đây là yếu tố gây bất lợi cho khai thác tiềm năng nƣớc
mặt Ngòi Thia ở những nơi nó đi qua. Trong mùa mƣa lũ thƣờng gây thiệt hại
cho snr xuất, đời sống của nhân dân ven ngòi. Tuy nhiên cùng với hệ thống nƣớc
ngầm,hệ thống ngòi suối là nơi cung cấp nƣớc chủ yếu cho sản xuất và sinh
hoạt.
Các yếu tố về địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, thủy văn…đã tạo điều
kiện thuận lợi cho xã Nghĩa An nói riêng và Mƣờng Lò nói chung phát triển
kinh tế- xã hội. Tuy nhiên những mặt trái của nó cũng ảnh hƣởng bất lợi đến sản
xuất và đời sống sinh hoạt.
10


Thuộc cánh đồng Mƣờng Lò rộng 2.300ha bằng phẳng nằm lọt giữa đồi núi
trùng điệp và những cánh rừng nhiệt đới. Sự bồi đắp phù sa của các con suối lớn
nhƣ Ngòi, Nung, Ngòi Thia, suối Đôi, suối Cò Noong….chảy uốn lƣợn quay



giai đoạn mà họ gọi là” thời kỳ Tạo đi tìm Mƣờng” ( pang tao tó mƣớng). Theo
họ thì lúc đó” Mƣờng bản đã đầy ngập ngƣời” và do đó có yêu cầu phải tổ chức
những đợt thiên di đi tìm đất mới để khai khẩn ruộng đồng, mở mang địa vực cƣ
trú. Một trong những hƣớng thiên di của họ là theo sông Hồng về phía nam vì đó
là:” vùng đất còn hoang vu, vắng ngƣời”; “ …đất ấy tuy cũng đã có ngƣời Thái
ở từ xƣa rồi nhƣng vẫn còn ít”.
Vào khoảng TK XI, 2 anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần thuộc dòng dõi tạo
đất Tung Hoàng ngày xƣa đã dẫn dắt đoàn quân chinh chiến và các họ của ngƣời
Thái ra đi. Có lẽ phải trải qua nhiều năm với những chặng đƣờng đầy khó khăn
vất vả.
“ Đi đƣờng thuyền e sợ rơi
Đi đƣờng cạn e sợ chết
Nên phải đi theo đƣờng con đon
Luồn theo đƣờng con dím”
Đoàn ngƣời đặt chân đến Mƣờng Min( vùng Gia Hội- Văn Chấn- Nghĩa
Lộ) rồi vào Mƣờng Lò. Thủa ấy đất Mƣờng Lò còn là một vùng lòng chảo mênh
mông rừng hoang vắng tới nay, ngƣời Thái Đen đã cùng nhau khai phá thành
ruộng đồng, biến nơi hoang vu thành vùng giàu thóc lúa. Họ đã dựng lên ở đây
những đơn vị bản, mƣờng đầy thi vị. Từ đó cƣ dân Thái bƣớc vào cuộc sống ổn
định và 1 bài ca về đất Mƣờng Lò đã vang lên.
“ Tiếng đồn có ngƣời tới Mƣờng Lò
Một vùng rộng lớn, đất phì nhiêu
Có đồng Hốc, đồng Uôn quanh đất phủ
Một đồng bằng thả sức ngựa phi
Có đồng” da- coi-nang”
Ngồi không cũng đƣợc của
Có ao Hôm, ao Hang hàng cau trĩu buồng
Ngƣời Mƣờng Lò làm ruộng thu thóc lúa”

đồng bào nơi đây. Bên cạnh đó ngƣời Thái Đen còn săn bắt thú rừng, bắt cá ở
các con suối bằng các công cụ chài lƣới. Ở Mƣờng Lò có 1 loại cá có tên là cá
Thia, đây là loại cá đƣợc xem là loại ngon nhất vùng và chỉ có ở các huyện phía
tây của tỉnh Yên Bái. Cùng với đánh bắt, săn thú và hái lƣợm đã tạo tạo ra sự
phát triển kinh tế tự nhiên qua đó giúp đồng bào thoát khỏi những ngày giáp hạt

13


mất mùa…Các loại rau rừng nhƣ măng, các loại mộc nhĩ; nấm…phần nào đã
thay thế đƣợc rau nhà những lúc trái mùa.
Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đƣợc phát triển, trƣớc hết để phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình, sau đó dùng để trao đổi hàng hóa với các
dân tộc khác. Các nghề thủ công truyền thống khác nhau nhƣ đan lát, rèn, mộc
cũng đƣợc phát triển khá mạnh. Các sản phẩm của đồng bào tự làm ra có giá trị
khá cả về thẩm mỹ, văn hóa và giá trị sử dụng.
Trong những năm qua nhờ các chính sách của Đảng và nhà nƣớc xã Nghĩa
An nói riêng và Mƣờng Lò nói chung đời sống kinh tế của đồng bào nơi đây đã
đƣợc cải thiện rõ rệt. Theo báo cáo của xã Nghĩa An đến năm 2014:
Về kinh tế: trong sản xuất nông nghiệp đồng bào làm 2 vụ lúa với diện
tích 262,54ha; cơ cấu giống lúa chất lƣợng cao 70%, lúa khác 30% diện tích.
Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp cung ứng vật tƣ đảm bảo kịp thời. Năng suất lúa
đặt 12,6 tấn/ha, sản lƣợng đặt 1654 tấn; năng suất ngô đạt 3 tấn/ha, sản lƣợng
ƣớc đạt 186 tấn. Thả các xen lúa 25,5ha. Trong chăn nuôi nhà tuyên truyền, vận
động đồng bào thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, chống rét cho đàn
gia súc, tổ chức tiêm phòng định kỳ theo sự chỉ đạo của UBX không để xảy ra
tình trạng dịch bệnh trên địa bàn. Tổng đàn trâu bò hiện có là 798 con, đàn lợn
là 2078 con, đàn gia cầm là 11970 con. Hiện nay diện tích đất lâm nghiệp là
560,03ha trong đó rừng trồng là 547,88ha.
Trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thƣơng mại:

1.5.1. Văn hóa vật chất
Ngƣời Thái Đen xã Nghĩa An- Mƣờng Lò ở nhà sàn. Nhà sàn ở đây đƣợc
làm theo hình mu rùa, nhà rộng thì 3 gian 2 chái, nhà hẹp thì 1 gian hoặc 2 gian
2 chái, hƣớng nhà dọc theo dòng suối chảy, cầu thang để ở đầu hối phía thƣợng
nguồn và đƣợc sử dụng vật liệu chủ yếu là gỗ. Mái nhà cũng thƣờng đƣợc lợp
bằng gỗ tuy nhiên ngày nay đa số đồng bào đã thay thế cỏ gianh, gỗ thông bằng
ngói hoặc tấm lợp phi- brô- xi măng. Một bản ngƣời Thái thƣờng có khoảng 2030 nóc nhà, giữa các nhà có hàng rào ngăn cách. Bản làng thƣờng nằm xen kẽ
với các con suối hay con mƣơng nhỏ vừa thuận tiện cho việc đánh bắt cá, đồng
thời có nguồn nƣớc để phát triển nông nghiệp. Nhìn chung đồng bào Thái là cƣ
dân nông nghiệp, chính vì thế mà địa bàn cƣ trú của các bản làng ngƣời Thái
không thể tách xa nguồn nƣớc.
Trang phục của ngƣời Thái Đen nơi đây rất đặc sắc. Đồng bào cho rằng, bộ
váy áo vừa kín đáo nhƣng đồng thời vẫn biểu lộ đƣợc các đƣờng cong cơ thể
thiếu nữ. Trƣớc đây váy áo thƣờng đƣợc dệt bằng sợi bông nhuộm chàm bởi vậy
áo váy chủ yếu là màu xanh đen. Cho đến ngày nay, những cụ già ngƣời Thái
15


Đen vẫn thƣờng xuyên sử dụng loại trang phục truyền thống trong sinh hoạt
hàng ngày. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội mà áo váy của ngƣời Thái ở
Mƣờng Lò cũng có sự thay đổi. Màu áo đƣợc làm bằng nhiều loại màu khác
nhau: trắng, xanh, vàng, đỏ..tay áo đƣợc xếp bồng( đây là nét sáng tạo về sau
này), có nhiều chất liệu khác nhau đƣợc dùng để may áo. Áo váy phụ nữ Thái
bao gồm áo” xửa cóm” may bó sát cơ thể, gấu áo chấm cạp váy, cổ áo đƣợc may
cao tròn chạy từ cổ áo xuống hết gấu áo, thắt lƣng( xai yêu), Xỏi ngẫn( Xà tích)
hay dây đeo dụng cụ, đồ trang sức. Khăn piêu cùng hệ thống đồ trang sức đã làm
nên tổng thể trang phục truyền thống của ngƣời phụ nữ Thái, tạo ra những điểm
nhấn, điểm xuyết rất riêng của các thiếu nữ Thái Mƣờng Lò.
Y phục nam giới xƣa mặc quần đen không có túi, không dải rút mà dùng
thắt lƣng. Mặc áo ngắn xẻ ngực gọi là xửa tọng té( áo mở ngực). Màu sắc

biến. Lễ cƣới của ngƣời Thái Đen đƣợc diễn ra theo 3 bƣớc đó là: ăn hỏi, lễ
cƣới- lễ này thƣờng đƣợc tổ chức 2 ngày, ngày t2 gọi là( Ngài hua) và lễ lại mặt.
Tuy nhiên, trƣớc lễ cƣới còn một số thủ tục khác, nghi thức khác nhƣ xem tuổi,
dạm ngõ. Ví dụ nhƣ lễ ˝ tằng cẩu˝ là một nét độc đáo trong lễ cƣới của ngƣời
Thái Đen ở vùng Mƣờng Lò. Từ hôm đó, ngƣời phụ nữ khi ở nhà cũng nhƣ ra
đƣờng đều phải búi tóc. Đây là điểm khác biệt đối với phụ nữ đã có chồng với
ngƣời chƣa có chồng. Nếu không may,ngƣời chồng chết trƣớc thì ngƣời phụ nữ
không búi tóc nữa.
Tang ma của ngƣời Thái Đen đƣợc tổ chức với nhiều nghi thức, nghi lễ
hơn so với ngƣời Thái Trắng. Trong đó tục thiêu xóc là một trong những hình
thức an tang đặc biệt so với các dân tộc khác trong vùng Mƣờng lò và chỉ có
ngƣời Thái Đen mới có. Quan tài đƣợc đặt chân ngƣời chết hƣớng theo Đông
Quái Ha- Nặm Tốc Tát để ngƣời chết đi theo hƣớng đó lên trời. Với quan niệm
ngƣời chết là sang thế giới khác, về mƣờng trời, với tổ tiên. Trƣớc đây ngƣời
chết thƣờng đƣợc gia đình cúng cho một con trâu để trâu đi cùng ngƣời chết
sang thế giới˝ Mƣờng Trời˝. Mồ ngƣời chết đƣợc trang trí cầu kỳ với nhiều vật
dụng đồ dùng đƣợc gia đình chia cho ngƣời chết mang theo. Tất cả đều đƣợc đặt
tại mộ, để ngƣời chết đƣợc mang đi cùng về mƣờng trời.

17


Văn học- nghệ thuật: kho tàng văn hóa nghệ thuật của ngƣời Thái rất
phong phú và đa dạng gồm nhiều thể loại: thơ, ca, hò, vè, tuccj ngữ, văn học dân
gian, văn học thành văn. Ngƣời Thái nổi tiếng với làn điệu Khắp, đây là làn điệu
vừa mang đậm trữ tình vừa đặc sắc, vừa dân dã. Khắp có thể hát bất cứ lúc nào,
trong các dịp hát mừng nhà mới( khắp chôm hƣơn mơ), hát mừng dâu( khắp
chôm pợ), hát mừng năm mới( khắp chôm piêng pi mơ)..khắp có thể hát một
mình hoặc hát đối đáp, lời hát chan chứa, thắm đƣợm, ngọt ngào tình yêu thiên
nhiên, bản mƣờng, tình yêu đôi lứa.

lợi, mƣa thuận gió hòa, mùa màng tốt tƣơi…Trong những dịp này, đồng bào
muốn dâng cúng cho tổ tiên, thần thánh những thức ăn ngon nhất, đẹp nhất để tỏ
lòng thành kính, cảm ơn tổ tiên đã phù hộ cho bản mƣờng
Vào dịp này, trong các mâm cơm cúng tế tổ tiên đầu có các loại cơm màu
xanh- đỏ- tím-vàng- trắng. Điều này thể hiện rằng mọi thứ của trời đất mà con
ngƣời có đƣợc đều muốn dâng cúng tổ tiên- năm màu đó thể hiện cho tất cả các
màu của các đồ vật trên thế gian mà con ngƣời muốn dâng tặng để cảm tạ tổ tiên
thần thánh.
Trong tết nguyên đán hay tết Síp Xí 14/7 âm lịch, dù nhà giàu hay nhà
nghèo ngƣời dân cũng làm cơm xôi năm màu để dâng cúng tổ tiên.Từ các chất
liệu màu của thảo dƣợc, ngƣời dân đã biết chiết xuất ta các thứ màu khi xôi cúng
cơm vừa thơm ngon, vừa đẹp mắt mà hoàn toàn không hại tới sức khỏe.
Việc duy trì và cúng tế cơm màu( khấu cắm) cho tổ tiên vào các dịp tết
còn biểu hiện các giá trị đạo đức, giáo dục truyền thống cho con cháu sau này
của ngƣời Thái phải luôn nhớ công ơn tổ tiên, nhớ ơn những ngƣời đi trƣớc đã
xây dựng cuộc sống. Bởi vào các dịp lễ tết quan trọng trong năm, con cháu phải
nhớ công ơn của tổ tiên mà dâng cúng mọi thứ cho tổ tiên đƣợc thể hiện qua
năm màu của cơm xôi đƣợc dâng cúng.
KHẨU CẮM LANH( cơm xụi đỏ)

19


Cơm xôi đỏ, màu đỏ đƣợc ngƣời dân quan niệm là màu của mặt trời, do
vậy đây là màu quan trọng nhất khi làm 5 màu cúng tổ tiên của ngƣời Thái Đen
Mƣờng Lò. Cơm đỏ đƣợc làm từ cơm xôi và màu đỏ chiết xuất từ một loại cây
chuyên dùng để làm cơm xôi đỏ mà ngƣời Thái gọi là” co khẩu cắm lanh” ( cây
cơm xụi đỏ)
Nguyên liệu và cách chế biến
Trong việc làm cơm xụi đỏ, kỹ thuật và cách xôi cơm cũng giống nhƣ làm

trƣớc khi cúng và cho xôi vào các Coongs khẩu. Khi chƣa cúng tổ tiên đồng bào
kiêng ăn trƣớc. Xôi sẽ cho lên bàn thờ cúng tổ tiên, ma nhà( phi hƣơn) tại bàn
thờ trƣớc khi cho con cháu ăn.
KHẤU CẮM LĂM( cơm xôi tím)
Cơm xôi tím cũng đƣợc thực hiện và chế biến theo phƣơng cách làm xôi
Khẩu cắm lanh. Khẩu cắm lăm là loại thảo dƣợc cùng họ với khẩu cắm lanh,
chúng chỉ khác nhau đôi chút về màu sắc khi đƣợc chiết xuất mọi công đoạn từ
lấy, rửa, chiết xuất, ngâm gạo giống nhƣ cơm xôi đỏ.
Màu tím của cơm” khẩu cắm lăm” là một màu đẹp đƣợc chiết xuất từ thảo
dƣợc, cơm khẩu cắm lăm khi ăn không thấy mùi lá cây mà chỉ thấy mùi thơm
của cơm nếp. Khi xôi cơm màu tím, ăn có cảm giác ngon hơn những cơn trắng
bình thƣờng. Sự thay đổi màu sắc tạo ra cảm giác mới trong ăn uống có lẽ là một
trong những bí quyết chế biến các món ăn của ngƣời Thái. Cùng loại gạo đó,
cách chế biến đó và hƣơng vị đó nhƣng khi thay đổi màu sắc cho nó, ngƣời
thƣởng thức cảm thấy ăn nhƣ ngon hơn, nhƣ khác hơn-có lẽ bí quyết này cũng
hợp với câu châm ngôn của ngƣời kinh: “ ngon mắt rồi mới ngon miệng”
KHẨU CẮM LƢƠNG( cơm xôi màu vàng)
Màu vàng là một trong năm màu đƣợc đồng bào làm để dâng cúng tổ tiên
trong tết Síp Xí hay tết nguyên đán. Các công đoạn chế biến cơm màu vàng hơi
khác so với việc làm cơm màu đỏ, màu tím, bởi nguyên liệu để chiết xuất màu
vàng đƣợc lấy từ nghệ( hản lƣơng).
Nguyên liệu và cách chế biến
Nguyên liệu để chiết xuất màu vàng đƣợc lấy từ củ nghệ. Nghệ dùng xôi
cơm là loại nghệ” ta” đồng bào chọn những củ nghệ nhiều nƣớc, màu vàng tƣơi.
21


Sauk hi đã lựa chọn đƣợc những củ nghệ tốt nhất, nghệ sẽ đƣợc rửa sạch, cạo bỏ
toàn bộ vỏ và những chỗ hỏng. Lƣợng nghệ cần dùng để lấy màu phụ thuộc vào
số lƣợng cơm cần xôi, sau đó đƣợc đem giã nát, ngƣời dân dùng cối đá để giã

lấy nƣớc, sau đó hòa vào nƣớc lã rồi gạn lấy nƣớc loại bỏ cái, bã cho vào nồi và
đun sôi- để nguội tiếp tục ngâm gạo nhƣ cách ngâm xôi các loại xôi màu khác.
2.1.2. Bánh chưng (khẩu tôm)
Ngƣời Thái đen ở Mƣờng Lò có hai tết lớn nhất là tết nguyên đán là tết síp
xí. ứng với mỗi tết sẽ có một loại bánh đặc trƣng, một loại bánh biểu trƣng cho
chính tết ddos. Đến tết nguyên đấn, cũng nhƣ ngƣời Kinh, bánh chƣng đƣợc
tƣợng trƣng cho tết này của ngƣời Thái Mƣờng lò.
Bánh chƣng của ngƣời Thái ở đây có cách làm khác với ngƣời kinh và các
dân tộc khác từ cách gói, hình thức và một số nguyên liệu. Trong một năm bánh
chƣng đƣợc gói duy nhất một lần vào dịp tết nguyên đán. Trƣớc đây, đồng bào
ăn tết với thời gian kéo dài từ 30 tháng chạp cho tới rằm tháng giêng năm sau.
Chính vì thế, nhà nào cũng làm thật nhiều bánh chƣng để ăn cho hết rằm tháng
giêng. Ngày nay tết nguyên đán đƣợc rút ngắn làm ba ngày, do đó đồng bào chỉ
tổ chức gói bánh ăn tết cúng tổ tiên làm hai đợt, gói bánh vào dịp tết nguyên đán
và gói bánh cúng tổ tiên và ăn trong rằm tháng giêng.
Nguyên liệu làm bánh:
- Gạo nếp
- Đỗ nho nhe, đỗ xanh
- Thịt lợn
- Hạt tiêu
- Muối
- Lạt giang
- Lá dong
Trƣớc tiên,để chuẩn bị cho công việc gói bánh chƣng là việc lấy lá dong
và chuẩn bị lạt gói bánh. Trƣớc tết từ 7-10 ngày, ngƣời dân đã vào rừng lấy lá
dong chuẩn bị gói bánh.Lá gói bánh chƣng của ngƣời Thái phải chọn những lá
có bản to, lành không bị sâu, không bị rách. Lạt gói bánh đƣợc chẻ từ những cây
giang hoặc những ống nứa to dẻo.
23


24


Bánh chƣng của ngƣời Thái ở đây đƣợc gói theo hai loại bánh, một loại
bánh tròn dài nhƣ bánh tét của ngƣời Nam Bộ nhƣng nhỏ hơn, gọi là bánh Tổm
ống. Một loại khác có tên là tổm mè( bánh có chap mu giống bánh chƣng của
ngƣời Dao).
• khẩu tổm me: đƣợc gói bằng tay, đồng bào trải hai lớp lá dong xuống
dƣới, đổ một lớp gạo, một lớp đỗ ở giữa là một lớp thịt lợn ba chỉ, tiếp theo đổ
một lớp đỗ và một lớp gạo lên, gói bánh theo hình mu có chop.
Hai chiếc bánh tổm mè ốp phần lòng vào nhau, buộc thành 1 cặp để bánh
có màu đẹp và xanh khi bóc bánh ăn.
• khẩu tổm ống:
Tổm ống đƣợc gói giống nhƣ bánh tét của ngƣời Nam Bộ và giống bánh
chƣng của ngƣời Tày. Tổm ống của ngƣời Thái có độ dài từ 20-25cm, đƣờng
kính của bánh từ 5-7cm.
Tổm ống cũng đƣợc gúi ở tổm mè. Đồng bào chọn hai tàu lá dong lớn, cắt
bỏ đầu đuôi sau đó xếp so le nhau, đổ gạo dài theo chiều dài của lá, một lớp gạomột lớp đỗ- thịt lợn nhân- một lớp đỗ- một lớp gạo. Sau đó gói tròn lại theo hình
trụ, dùng lạt buộc nhiều lớp vòng quanh thân bánh. Dọc theo chiều dài của bánh
có hai dây lạt buộc đỡ phần đầu bánh.
Ngƣời Thái ở Mƣờng Lò không gói bánh chƣng vuông, không goid bánh
bằng khuôn, mà đồng bào chỉ thƣờng làm bánh theo hai loại trên.
Bánh gói xong đƣợc xếp tất cả vào một nồi lớn để luộc bánh, phía đáy
nồi, đồng bào lót một lớp lá dong dầy đến bánh không bị khê, sau đó cho toàn
bộ bánh tổm mè xuống đáy nồi luộc, phía bên trên xếp bánh tổm ống và trên
cùng trải lớp lá dong để giữ độ nóng của nồi, đổ nƣớc ngập bánh và đun bánh từ
4-5 giờ.
Trong cách chế biến và luộc bánh của ngƣời Kinh, họ gói bánh vuông to
và luộc trong nhiều giờ, nhƣng ngƣời Thái ở Mƣờng Lò chỉ luộc bánh từ 4-5 giờ
đồng hồ bánh cũng có thể nhừ vag rền nhƣ cách luộc bánh của ngƣời Kinh. Bởi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status