Mô Đun 19 Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Giảng Dạy - Pdf 40

Ngày 20 tháng 10 năm 2014
MÃ MÔ ĐUN 19
(15 tiết)
(Gv tự bồi dưỡng 10 tiết, Lý thuyết 2 tiết; Thực hành 3 tiết)
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
GIẢNG DẠY
Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và
Nhà nước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương
tiện kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị
của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như: Nghị
quyết CP của Chính phủ về chương trình quốc gia đưa công nghệ thông tin
(CNTT) vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Luật
giáo dục (1998) và Luật giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81 của Thủ tướng
Chính phủ, Chỉ thị 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chiến lược phát triển giáo
dục 2001 – 2010,…
Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT
về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành
giáo dục giai đoạn 2008-2012;
Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong
các cơ sở giáo dục.
Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng
cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn
2001 – 2005 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”,
nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự
phát triển của CNTT ”.
Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý và dạy học là một
bước chuyển hóa tiến bộ của ngành Giáo dục trong những năm qua. CNTT đã

những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri
thức đã được giáo viên sắp đặt. Để đạt được điều ấy, trong quá trình dạy học,
người thầy cần phải thức tỉnh trong tâm hồn các em học sinh tính ham hiểu biết,
dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực. Vì thế, việc đổi mới phương
pháp dạy học (PPDH) để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập là
một vấn đề cần thiết và không thể thiếu được. Bởi, chỉ có đổi mới PPDH, chúng
ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ nghiêm trọng trong giáo dục
hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới góp phần quan trọng nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo và chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới tham gia được
vào “sân chơi” quốc tế trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và tiếp cận
phương pháp giáo dục mới theo quan điểm giáo dục hiện đại.
Vì những lẽ đó, việc đổi mới PPDH hiện nay không chỉ là phong trào mà
còn là một yêu cầu bắt buộc với mọi giáo viên.
Do đó, việc ứng dụng CNTT và thực hiện các thí nghiệm ảo trên máy
tính, là giải pháp thiết thực, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhanh
chóng, sâu sắc, và tạo sự hứng thú học tập cho học sinh trong từng bài học
Xuất phát từ những vấn đề thực tế, qua bài tham luận xin giới thiệu đến
quý thầy cô và các em học sinh một số phần mềm hỗ trợ thực hiện thí nghiệm ảo
và một số địa chỉ webside hỗ trợ cho việc dạy, học, và nghiên cứu.
PPDH là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo. Để đổi mới PPDH, đòi hỏi người thầy không chỉ có
bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng mà còn phải tự mình vượt qua những thói quen
đã ăn sâu, bám rễ (một số thầy cô giáo viên nhiều năm bám theo chương trình
cũ, phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào nghiệp vụ sư phạm nên rất
khó để dứt bỏ trong ngày một, ngày hai). Để đổi mới PPDH, đòi hỏi người thầy
phải làm quen với công nghệ thông tin (CNTT) và những phương tiện dạy học
hiện đại, sử dụng được đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá, tiếp cận với
những đòi hỏi mới về yêu cầu kiến thức, kĩ năng cũng như tâm lý của học trò....



thức, kỹ năng về CNTT ở một số giáo viên còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng
để đam mê và sáng tạo; thậm chí còn né tránh, tâm lý ngại khó khi phải soạn
bằng giáo án điện tử. Bởi muốn soạn giảng một giáo án điện tử, người giáo viên
phải vất vả gấp nhiều lần, vừa phải biết tin học và sử dụng thành thạo phần mềm
Powerpoint và vừa phải tốn khá nhiều thời gian, công sức để cắt, ghép, chụp
phim và làm chữ nổi, làm khung… Vì thế, tuy việc ứng dụng CNTT vào giảng
dạy đã đem lại hiệu quả cao nhưng mức độ ứng dụng trong nhà trường và bản
thân giáo viên chưa cao, chưa rộng rãi và chưa thể trở thành một hệ thống ứng
dụng đồng bộ trong môi trường giáo dục hiện nay. Hơn nữa, ứng dụng CNTT
trong dạy học biểu hiện rất đa dạng. Trong thực tế, tuy đã được triển khai ở
nhiều trường nhưng mức độ ứng dụng CNTT lại khác nhau vì còn phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan về phía nhà trường và giáo viên và kể
cả yếu tố đặc thù riêng của từng môn học trong chương trình.
- Với cách tổ chức thi cử - kiểm tra - đánh giá như hiện nay, một số bộ
môn rất ngại thay đổi PPDH, muốn dạy khác đi cũng không được, buộc thầy cô


một số bộ môn phải dạy cho học sinh cách học vẹt để vào phòng thi dễ kiếm
điểm, để đỗ đạt.
Vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học đã
được chứng minh bằng thực tiễn giáo dục trong và ngoài nước những năm qua,
nó cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy và học
tập là xu thế tất yếu của giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học bằng CNTT là
một chủ đề lớn được UNESCO đưa ra thành chương trình của thế kỷ XXI và dự
đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do
ảnh hưởng của CNTT. Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông
tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học.
Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.
Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT

(Điều 8.2, Luật Giáo dục).
Với mục tiêu đó, chúng ta thấy:


- Định hướng cơ bản trong đổi mới PPDH là nhằm phát huy tính tích cực
và sáng tạo của người học. Đó cũng là xu hướng quốc tế trong đổi mới PPDH.
- Từ mục tiêu “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự
khẳng định mình”, trước hết giáo dục nhà trường phải hình thành và bồi dưỡng
cho học sinh năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề(việc trang bị tốt năng lực này
là một trong những hoạt động trọng tâm của việc đổi mới PPDH trong điều kiện
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông).
- Đổi mới PPDH là phải đổi mới cách dạy, cách truyền đạt hệ thống kiến
thức cho học sinh (Phát triển năng lực nội sinh của người học, đổi mới quan hệ
thầy trò…), biết cách ứng dụng các phương tiện và thiết bị hiện đại, ứng dụng
CNTT vào quá trình dạy học.
Bill Gates, ông chủ tập đoàn Microsoft, đã khẳng định: “Một trong những
điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là sự xuất hiện của Internet. Chính
Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách địa lý đã bị san
phẳng… Một điều tuyệt vời khác là ngày càng có nhiều trường đại học trên thế
giới đưa bài giảng lên Internet. Bạn có thể ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới để chọn
bài giảng, chủ đề…, thậm chí là những giáo sư danh tiếng để học tập mà không
phải trả tiền. Đây sẽ là một sự thay đổi gốc rễ hệ thống giáo dục trong thời gian
tới”. Với tác động của CNTT, môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động
mạnh mẽ tới quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ
của các phần mềm ứng dụng, website và hạ tầng CNTT đi kèm. Việc ứng dụng
CNTT vào quá trình dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo ra
môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không chỉ đơn thuần là thầy
giảng, trò nghe, thầy đọc, trò chép như hiện nay, học sinh - sinh viên được
khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá
trình tự học.

trò).
4. Trách nhiệm của CQQLGD và Ban giám hiệu của các trường THCS
Khi tiến hành đổi mới PPDH, không ít thầy cô lo lắng, băn khoăn như khi
áp dụng những phương pháp mới có thể không thành công bằng phương pháp
thuyết giảng; ngại cho học sinh thảo luận, sợ nêu nhiều câu hỏi cho học sinh trả
lời sẽ không đủ thời gian thực hiện kế hoạch giảng dạy. Hiện nay, khi Bộ GD và
ĐT chưa đổi mới triệt để cách kiểm tra - đánh giá thì đổi mới PPDH có làm cho
kết quả của học sinh giảm sút không? Những băn khoăn, lo lắng này không phải
là không có cơ sở.
Để đổi mới PPDH đòi hỏi người thầy phải luôn học tập, phải làm quen
với CNTT và những phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại,... Nhiều giáo viên đã
tích cực đổi mới PPDH và đã đạt được hiệu quả rất khả quan nhưng bên cạnh đó
vẫn còn không ít giáo viên mang tâm lý “e ngại” cũng như chưa có thái độ tham
gia tích cực vào việc đổi mới. … Do đó, đổi mới PPDH rất cần đến sự quan tâm
của ngành và đặc biệt là sự cảm thông, chia sẻ và động viên của ban giám hiệu
(BGH).
Thực tiễn cho thấy, nếu BGH của trường quan đến việc đổi mới PPDH,
thì chắc chắn giáo viên trường ấy sẽ được tạo điều kiện để tiếp cận với các
PPDH, với trang thiết bị hiện đại, có cơ hội được tham dự những buổi hướng
dẫn, trao đổi kinh nghiệm ... Ngoài việc chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất, trang
thiết bị, tập huấn GV... theo tôi, điều quan trọng nhất là BGH phải phấn đấu làm
người đi tiên phong về đổi mới PPDH, kiên trì tổ chức hướng dẫn, khích lệ giáo
viên tích cực đổi mới đổi mới PPDH; tăng cường việc dự giờ thăm lớp và
nghiêm túc rút kinh nghiệm, không để tình trạng người làm cũng được, người
không làm cũng chẳng sao.
Các tổ chuyên môn cần thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp và nghiêm
túc rút kinh nghiệm, tổ chức sinh hoạt chuyên môn với nội dung phong phú,
thiết thực, động viên tinh thần cầu thị trong tự bồi dưỡng của giáo viên, giáo dục
ý thức khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với đồng
nghiệp. Đánh giá đúng đắn và đề xuất khen thưởng những giáo viên tích cực đổi

• Triển khai các tiết học có ứng dụng CNTT, có sử dụng bài giảng điện tử.
Đoàn thanh niên nhà trường cũng tổ chức ghi hình để dự giờ tập thể (ghi
hình tiết dạy sau đó tổ chức chiếu lại để cả chi đoàn GV dự giờ, phân tích,
góp ý xây dựng bài).
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xác định rõ rằng: CNTT chỉ là phương tiện
tạo thuận lợi cho triển khai phương pháp dạy học tích cực chứ không phải là
điều kiện đủ của phương pháp này. Không lạm dụng công nghệ nếu chúng
không tác động tích cực đến quá trình dạy học. Để một giờ học có ứng dụng
CNTT là một giờ học phát huy tính tích cực của học sinh thì điều kiện tiên
quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu và tính đặc trưng của
phương pháp dạy học tích cực mà giáo viên sử dụng. Cần tránh việc dùng
slide trình chiếu chỉ để thay việc viết bảng mà lại coi đó là tiết dạy ứng dụng
CNTT (cần phân biệt thế nào là giáo án điện tử, bản trình chiếu, bài giảng
điện tử hay bài giảng điện tử theo chuẩn E-Learning).
6. Quá trình tổ chức thực hiện
Trong quá trình triển khai thực hiện dĩ nhiên sẽ vướng mắc nhiều khó khăn.
Nhận diện khó khăn để tìm giải pháp khắc phục và vượt qua là công việc thường


xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện. Những khó khăn điển hình thường gặp
trong việc ứng dụng CNTT trong dạy-học như:
• Về đội ngũ giáo viên: Trình độ, kiến thức về CNTT, kỹ năng sử dụng máy
tính và các phương tiện hỗ trợ của giáo viên không đồng đều, thậm chí có
người chỉ dùng máy tính với mục đích duy nhất là soạn thảo văn bản.
• Về học sinh: Nhiều học sinh rất ít có điều kiện tiếp xúc với máy tính hoặc
một số em chưa từng biết sử dụng máy tính cũng là khó khăn cần được
quan tâm.
• Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho
việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế:
Thiếu các phòng học chức năng; số máy tính phục vụ cho học tin học của

ứng dụng CNTT cho giáo viên thông qua nhiều hoạt động, như:
• Xây dựng đội ngũ cốt cán:
Phân công cho ít nhất một giáo viên có đủ năng lực và tâm huyết phụ trách
công việc này, sẵn sàng tạo điều kiện cho giáo viên học tập và tham gia các lớp


tập huấn để nâng cao năng lực (Ngay từ khi mới thành lập trường (2004), BGH
đã phân công một GV phụ trách ứng dụng CNTT).
Với các tổ chuyên môn, mỗi tổ cử một giáo viên chịu trách nhiệm chính để
được tập huấn và hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ công tác soạn giảng với CNTT.
• Tổ chức tập huấn đại trà
Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm hỗ
trợ soạn giảng. Các lớp tập huấn này được tổ chức theo hình thức trao đổi giúp
đỡ lẫn nhau, tập trung chủ yếu vào những kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng
trong quá trình soạn giảng hàng ngày và phải bắt đầu từ những kỹ năng đơn giản
nhất như cách tra cứu và tìm kiếm thông tin, cách chuyển đổi các loại phông
chữ, cách sử dụng một số phương tiện như máy chiếu, máy quay phim, chụp
ảnh, các bước soạn một bài trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách thiết kế
bài kiểm tra,… mà báo cáo viên chính là đội ngũ cốt cán của trường.
Điều quan trọng là phải có cách động viên giáo viên tích cực tự học, khiêm
tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với
đồng nghiệp; tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực.
Để làm được điều này, ngoài sự nhiệt tình của đội ngũ cốt cán thì BGH phải
luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi- cùng làm với giáo viên
thì mới hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì
(trong các buổi tập huấn về CNTT, tất cả các phó hiệu trưởng của nhà trường
đều tham gia).
b. Công tác xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị
Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp cùng với sự tích cực tham mưu
của nhà trường, đến nay tình trạng cơ sở vật chất về tin học và công nghệ thông

2. Bảng tính điện tử (MS Excel): Dùng để thống kê, tính điểm,…
3.Trình diễn điện tử (MS PowerPoint, Violet, ...): Dùng để soạn và dạy bài giảng
điện tử, báo cáo, trình bày một vấn đề nào đó,…
4. Sử dụng phần mềm Math Type để đánh công thức Vật lý, Toán,…
5. Sử dụng phần mềm Crocodile Physics và các phần mềm thí nghiệm khác.
6. Sử dụng trình duyệt web (Mozilla FireFox, Internet Explorer, ...): Dùng để
trao đổi và tìm kiếm thông tin trên mạng Internet hoặc mạng nội bộ của cơ quan.
7. Sử dụng email: Dùng để trao đổi thư từ với đồng nghiệp, phụ huynh, học sinh,
...
8.Thiết kế trang web, blog cá nhân: Dùng để trao đổi thông tin liên quan đến
chuyên môn, giúp HS học tập thông qua mạng, mở rộng không gian giao tiếp
giữa thầy-trò, đồng nghiệp, ...
9. Cũng cần phải biết chụp ảnh, quay phim và chuyển tư liệu vào máy tính.
10. Nếu ta biết được việc cài đặt hệ điều hành, downdload và cài đặt các phần
mềm ứng dụng tốt thì ta sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng máy tính.
8. MỘT SỐ ĐỊA CHỈ WEBSIDE VÀ PHẦN MỀM HỖ TRỢ CHO VIỆC
GIẢNG DẠY
Thiết kế bài giảng cần có sự linh hoạt trên máy vi tính, thể hiện sự thuận
lợi, và bảo đảm tính chính xác, khoa học. Bài giảng trên máy tính là nguồn tài
liệu đáng tin cậy cho người dạy, người học, do đó cần tranh thủ sự đóng góp của
bạn bè, đồng nghiệp và cũng cần bổ sung, cập nhật tư liệu cho hay hơn, phù hợp
hơn. Thiết kế bài giảng trên máy vi tính là sự kết hợp hài hoà giữa phương tiện
truyền thống (phấn, bảng) và phương tiện hiện đại (máy chiếu, máy vi tính),
hoạt động của thầy và trò…Cần có sự dung hòa giữa phương pháp hiện đại với
phương pháp truyền thống.
Khi thiết kế bài giảng trên máy tính ta có thể tìm tư liệu ở các nguồn
sau ( xin đua ra một số địa chỉ website và giới thiệu ngắn gọn về những gì có
trong từng website)
Trang web này có các bài giảng, các đoạn video hình ảnh phục vụ cho
việc giảng dạy, các tài liệu- đề thi... do nhóm giáo viên

về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy
mạnh việc ứng dụng và phát triển CNTT vào dạy học trong thời gian tới có hiệu
quả, không có gì khác hơn là nhà nước cần phải tăng dần mức đầu tư để không
ngừng nâng cao, hoàn thiện, hiện đại hóa thiết bị, công nghệ dạy học. Đồng thời,
hoàn thiện hạ tầng CNTT để mọi trường học đều có thể kết nối vào mạng
internet. Bên cạnh đó, có sự chỉ đạo đầy đủ, đồng bộ, thống nhất bằng các văn
bản của nhà nước mang tính pháp quy để các tỉnh, thành có cơ sở lập đề án, huy
động nguồn vốn đầu tư cho giáo dục này; góp phần làm thay đổi nội dung,
phương pháp, hình thức dạy học và quản lý giáo dục, tạo nên được sự kết hợp
giữa nhà trường, gia đình, xã hội thông qua mạng, làm cơ sở tiến tới một xã hội
học tập.


BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
MoDule THCS 20: Sử dụng các thiết bị dạy học
(15 tiết)
(Gv tự bồi dưỡng 10 tiết, Lý thuyết 2 tiết; Thực hành 3 tiết)
Câu 1: Trình bày các cách phân loại thiết bị dạy học hiện nay.
1. Phân loại theo điều kiện sử dụng
Theo cách nay khi sử dụng các thiết bị phụ thuộc vào những điều kiện bên
ngoài. Người ta chia loại thiết bị cơ sử dụng năng lượng điện và loại không sử
dụng năng lượng điện.
Nhóm 1: Nhóm không dùng năng lượng điện, thường quen gọi là TBDH
truyền thống.
Nhóm TBDH truyền thống bao gồm các loại thiết bị:
- Tranh ảnh, biển đồ giáo khoa
- Bản đồ, lược đồ giáo khoa.
- Bảng biển
- Mô hình, mẫu vật
- Dũng cụ

+ Lắp ráp thiết bị để tiến hành thí nghiệm thực hành.
+ Nhận biết, thu thập và phân tích kết quả thí nghiệm.
- Thông qua quá trình làm việc với TBDH, học sinh phát triển năng lực tư duy,
nắm vững kiến thức, kĩ năng.
+ Kĩ năng sử dụng các thiết bị kĩ thuật.
+ Kĩ năng thu thập dữ liệu.
+ Kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, kết luận.
Từ đó học sinh tự lực nắm vững kiến thức và phát triển trí tuệ.
Câu 4: Nêu vai trò của thiết bị dạy học đối với nội dung dạy học.
- TBDH đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu của từng đơn vị kiến thức,
mục tiêu của từng bài học, vì vậy nó có vai trò đảm bảo cho việc thực hiện có
hiệu lực cao nhất các yêu cầu của chương trình và nội dung SGK.
- TBDH đảm bảo cho việc phục vụ trực tiếp cho giáo viên và học sinh
cùng nhau tổ chức các hình thức dạy học, tổ chức nghiên cứu từng đơn vị kiến
thức của bài học nói riêng và tổ chức cả quá trình dạy học nói chung.
- TBDH đảm bảo cho khả năng truyền đạt của giáo viên và khả năng lĩnh hội
của học sinh theo đúng yêu cầu nội dung chương trình, nội dung bài học đối với
mỗi khối, mỗi cấp học, bậc học.
Câu 5: Nêu một số loại hình thiết bị dạy học bộ môn?
* Tranh ảnh giáo khoa
* Bản đồ giáo khoa
* Mô hình mẫu vật dạy học
* Vật thật.
* Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm
* Bản trong SGK
* Băng, đĩa ghi âm
* Băng hình và đĩa hình giáo khoa.
Câu 6: Nêu các nguyên tắc sử dụng thiết bị dạy học:
* Sử dụng thiết bị dạy học đúng mục đích
* Sử dụng thiết bị dạy học đúng lúc

TBDH tự làm cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Về chất lượng : TBDH tự làm phải đảm bảo cho học sinh tiếp thu được
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, giúp cho giáo viên tổ chức hoạt động dạy học một
cách thuận lợi.
- Phải đảm bảo về sự phù hợp với tiêu chuẩn sinh lí của giáo viên và học
sinh: TBDH tự làm phải gây được sự hứng thú cho học sinh và thích thú với quá
trình tìm tòi, nghiên cứu của thầy và trò.
- Phải đảm bảo về sự phù hợp với các tiêu chuẩn sư phạm: TBDH tự làm
cần phải có màu sắc sáng sủa, hài hòa, giống màu sắc của vật thật, có cấu tạo
đơn giản, dễ điều khiển, chắc chắn, có khối lượng và kích thước phù hợp.
Câu 11: Một số định hướng trong tự làm ĐDDH ở trường THCS:
* Sưu tầm mẫu vật:
- Sưu tầm các vật sấy khô, ép khô...
- Sưu tầm vật tươi sống
- Sưu tầm một số thực vật
- Sưu tầm mảnh gỗ, đoạn gỗ, gỗ dán...
- Sưu tầm chai lọ, ca cốc ... làm hộp xốp hình lập phương, hình chữ nhật
* Sưu tầm tranh ảnh: Sưu tầm trên báo chí, báo ảnh, bưu ảnh ... hình ảnh tuyển
chọn phải tiêu biểu, điển hình và phản ánh trung thực, đúng dắn những tình tiết
cơ bản cần truyền thụ trong bài học...
* Tự làm mô hình:
- Dùng giấy, vải lụa, ni lông, dây thép ... tạo thành hoa lá, con vật
- Dùng đất sét, thạch cao nặn các con vật, các loại quả, loại củ ...
- Cắt, gọt, đóng gỗ, gắn bìa cứng ... sơn, nhuộm màu thành mô hình theo
thiết kế.
* Vẽ tranh, vẽ bản đồ, sơ đồ, tranh động:
- Vẽ tranh minh họa theo nội dung bài học hoặc phong tó tranh SGK.
- Khi vẽ tranh giáo viên cần xem xét, cân nhắc thể hiện đường nét, hình
khối, bố cục đến phân phối màu sao cho phù hợp với yêu cầu sư phạm.


- vấn đề về nội dung dạy học bộ môn ( phân môn) : một vấn đề của kiến thức
về bộ môn
- vấn đề về phương pháp dạy học bộ môn: vận dụng và kết hợp các phương
pháp để dạy một kiểu bài nhất định, hay cách thức , tiến trình dạy một đơn vị
kiến thức theo kiểu loại, hay kĩ năng tích hợp kiến thức các kiến thức bộ môn,
kiến thức liên môn, việc vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực với một bộ môn
nhất định, về kĩ năng dạy học …….
- Vấn đề về phương pháp giáo dục ( công tác chủ nhiệm ): giáo dục hạnh
kiểm, thực hiện giáo dục lồng ghép theo các yêu cầu như ATGT, học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
1.2: Vai trò của tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục :
Việc tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục có vai trò và ý
nghĩa quan trọng đối với quá trình thực hiện công việc được giao của mỗi giáo
viên và việc nâng cao nhất lượng giảng dạy, giáo dục nói chung của nhà
trường.


a- Với giáo viên, việc tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục
đều cùng giúp hỗ trợ cho công việc giảng dạy và giáo dục của giáo viên nhưng ở
mỗi mức độ khác nhau :Việc viết SKKN giúp cho việc phát huy sự sáng tạo
riêng của mỗi giáo viên trong công việc giảng dạy và giáo dục. Các SKKN đem
đến một “làn gió mới”, những thay đổi khởi sắc cho công việc giảng dạy và giáo
dục, nó là kết quả của quá trình suy ngẫm, thử nghiệm để tìm ra giải pháp mới,
tìm ra cách thức, con đường đi ngắn nhưng hiệu quả, đáp ứng với yêu cầu đổi
mới của phương pháp dạy học và phương pháp giáo dục. Với việc áp dụng những
cái mới đúng hướng sẽ giúp thúc đẩy cho nhiều điều mới khác ra đời, từ đó giúp
cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc của giáo viên . Chuyên môn
của giáo viên không vững vàng và không tâm huyết khó có thể có SKKN sáng
tạo, chất lượng ra đời. Mỗi SKKN, mỗi cái mới ra đời là tâm huyết của mỗi giáo
viên.

nhưng nói tóm lại, tổng kết kinh nghiệm và SKKN trong dạy học, giáo dục luôn


vừa là một nhu cầu, vừa là yêu cầu của mỗi giáo viên, là phần việc phải làm và
nên làm của mỗi giáo viên nói riêng và chuyên môn nhà trường nói chung.
MỤC 2. Xác định đề tài, nội dung và phương pháp viết SKKN
I. Một số vấn đề cần biết:
1. Khái niệm Sáng kiến kinh nghiệm:
SÁNG KIẾN
Theo từ điển tiếng Việt:
Sáng kiến là những ý kiến mới có tác dụng làm cho công việc tiến hành
tốt hơn.
Sáng kiến là tạo ra, tìm ra, xây dựng nên một ý kiến, một ý tưởng, một
giải pháp mới về một đối tượng hay hoạt động nào đó.
KINH NGHIỆM
Theo từ điển tiếng Việt:
Kinh nghiệm là những điều hiểu biết có thể áp dụng hữu hiệu cho cuộc
sống có được nhờ sự tiếp xúc, từng trải với thực tế.
Kinh nghiệm là cái có thực, được chủ thể tích lũy trong quá trình trải
nghiệm, là những kiến thức cao nhất của chủ thể.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Sáng kiến kinh nghiệm là những sáng kiến đã được thử nghiệm trong thực tế và
đã thu được thành công nhất định, thể hiện sự cải tiến trong phương pháp hoạt
động cho kết quả cao đáp ứng được nhu cầu của thực tế, công sức của những
người tham gia hoạt động.
ĐẶC ĐIỂM CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHỆM
Có nét mới;
Đã được áp dụng trong thực tế;
Do chính người viết thực hiện.
2. Những yêu cầu cơ bản đối với một sáng kiến kinh nghiệm

- Chỉ ra được những điều kiện căn bản, những bài học kinh nghiệm để áp dụng
có hiệu quả SKKN, đồng thời phân tích cho thấy triển vọng trong việc vận dụng
và phát triển SKKN đã trình bày (Đề tài có thể vận dụng trong phạm vi nào? Có
thể mở rộng, phát triển đề tài như thế nào?)
Để đảm bảo được những yêu cầu trên, đòi hỏi người viết SKKN :
+ Phải có thực tế (đã gặp những mâu thuẫn, khó khăn cụ thể trong thực tiễn
công tác giảng dạy, giáo dục học sinh, trong việc giải quyết những vấn đề thực
tiễn của công tác Đội TNTP ở địa phương, cơ sở nới mình công tác…)
+ Phải có lý luận làm cơ sở cho việc tìm tòi biện pháp giải quyết vấn đề.
+ Có phương pháp, biết trình bày SKKN khoa học, rõ ràng, mạch lạc:
- Nắm vững cấu trúc của một đề tài, biết cân nhắc, chọn lọc đặt tên các đề mục
phù hợp nội dung,thể hiện tính logic của đề tài
-Nắm vững các phương pháp nghiên cứu khoa học.Khi xác định một phương
pháp nào đó được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài, tác giả cần phải xác
định được các yếu tố cơ bản: Mục tiêu của việc thực hiện phương pháp?Phương
pháp được áp dụng với đối tượng nào?Nội dung thông tin cần thu được qua
phương pháp đó? Những biện pháp cụ thể để tiến hành phương pháp nghiên cứu
có hiệu quả?
+ Thu thập đầy đủ các tư liệu, số liệu liên quan đến kinh nghiệm trình bày. Các
số liệu được chọn lọc và trình bày trong những bảng thống kê thích hợp, có tác
dụng làm nổi bật vấn đề mà tác giả muốn chứng minh, dẫn chứng.
II. Cách xác đinh đề tài, nội dung và phương pháp viết SKKN
1. Cách xác định đề tài:
- Đề tài cần hướng vào những vấn đề cấp thiết, có tác dụng thúc đẩy, phát triển
sự nghiệp GD, QLGD, đề tài phải có tính cấp thiết.
- Vấn đề chọn không nên quá rộng hoặc chung chung mà cần tập trung vào vấn
đề cụ thể, nổi bật nhất trong thực tế công tác.
- Yêu cầu cơ bản của tên đề tài:
+ Ngắn gọn về ngôn ngữ.
+ Phản ánh rõ bản chất của qá trình biến đổi từ lúc chưa áp dụng SK - đạt

- Kinh nghiệm giải quyết những vấn đề khó khăn, phức tạp trong khi tiến hành
các họat động, các phong trào của Đội TNTP. Hồ Chí Minh ( VD: Tổ chức sinh
hoạt sao nhi đồng, bồi dưỡng phụ trách sao,bồi dưỡng năng lực tự quản cho đội
viên, bồi dưỡng BCH Đội, bồi dưỡng phụ trách chi đội,triển khai chương trình
rèn luyện đội viên,xây dựng một mô hình họat động Đội, tổ chức bồi dưỡng một
số kỹ năng cụ thể cho phụ trách chi đội, BCH đội,phụ trách sao…)
Khi tiến hành công việc viết SKKN, công việc đầu tiên của tác giả là cần suy
nghĩ lựa chọn một tên đề tài phù hợp. Trong nghiên cứu khoa học (viết SKKN)
việc xác định tên đề tài có ý nghĩa quan trọng số một, đôi khi nó còn quan trọng
hơn cả việc giải quyết đề tài. Việc xác định tên đề tài chính xác có tác dụng
định hướng giải quyêt vấn đề cho tác giả,giúp cho tác giả biết tập trung sự
nghiên cứu vào vấn đề cần giải quyết, tránh được sự lan man, lạc đề.
Tên đề tài chính là một mâu thuẫn, một vấn đề trong thực tiễn giảng dạy, giáo
dục mà tác giả còn đang phân vân, trăn trở, tìm cách giải quyết, làm sáng tỏ. Tên
đề tài mang tính chủ thể, đòi hỏi người viết phải có sự hứng thú với nó, phải
kiên trì và quyết tâm với nó. Về mặt ngôn từ tên đề tài phải đạt các yêu cầu :
- Đúng ngữ pháp.
- Đủ ý , rõ nghĩa, không làm cho người đọc có thể hiểu theo ý khác.
- Xác định được phạm vi, nội dung nghiên cứu cụ thể của đề tài, cần tránh vấn
đề quá chung chung hoặc có phạm vi quá rộng khó có thể giải quyết trọn vẹn
trong một đề tài.


+ Viết đề cương chi tiết:
Đây là một công việc rất cần thiết trong việc viết SKKN. Nếu bỏ qua việc này,
tác giả sẽ không định hướng được mình cần phải viết cái gì, cần thu thập những
tư liệu gì về lý thuyết và thực tiễn ,cần trình bày những số liệu ra sao…? Việc
chuẩn bị đề cương càng chi tiết bao nhiêu thì công việc viết SKKN càng thuận
lợi bấy nhiêu. Khi xây dựng đề cương chi tiết, tác giả cần:
- Xây dựng được một dàn bài chi tiết với các đề mục rõ ràng, hợp logic, chỉ ra

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận: yêu cầu trình bày lí luận, lí thuyết đã được tổng kết (tóm tắt)
bao gồm: khái niệm, khái quát kiến thức về vấn đề được chọn để viết SKKN.
Cũng chính là cơ sở lí luận có tác dụng định hướng nghiên cứu, tìm kiếm giải
pháp khắc phục hạn chế của vấn đề đã nêu trong đặt vấn đề.
2. Thực trạng: Tác giả trình bày những thuận lợi, khó khăn mà tác giả đã gặp
phải trong vấn đề mà tác giả đã chọn để viết SKKN. Điều quan trọng trong phần


này là mô tả,làm nổi bật những khó khăn ,những mâu thuẫn mà tác giả đang tìm
cách giải quyết, cải tiến (kèm minh chứng)
3. Các biện pháp tiến hành (Trọng tâm)
- .Trình bày trình tự biện pháp, phân tích và nhận xét về vai trò, tác dụng, hiệu
quả của biện pháp thực hiện (Phần thực trạng và mô tả giải pháp có thể trình bày
kết hợp; khi trình bày giải pháp mới có thể liên hệ với giải pháp cũ ðã thực hiện
hoặc những thử nghiệm nhưng chưa thành công nhằm nêu bật được sáng tạo của
giải pháp mới)
4. Hiệu quả: Đã áp dụng ở đâu? Kết quả cụ thể khi áp dụng SKKN (thể hiện
bằng bảng tổng hợp kết quả, số liệu minh hoạ, đối chiếu, so sánh…).
III. KẾT LUẬN
- Những kết luận đánh giá cơ bản nhất về SKKN (nội dung, ý nghĩa, hiệu
quả, bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình áp dụng SKKN của bản thân...
- Những nhận định chung của tác giả về việc áp dụng và khả năng phát
triển của đề tài.
- Ý kiến đề xuất với Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT, Trường … để phát huy hiệu
quả đề tài (tùy mức độ đề tài để kiến nghị, nếu có).
3. Qui định về cách trình bày
- Đề tài SKKN được đánh máy, in, đóng quyển theo đúng quy định: soạn
thảo trên khổ giấy A4 bằng MS Word; Font chữ Times New Roman; bảng mã
Unicode; cỡ chữ: 14; dãn dòng đơn; lề trái: 3 cm; lề phải: 2 cm; lề trên: 2 cm; lề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status