FDI
Thực trạng:
10 tháng đầu năm: Thu hút FDI bằng 91,3% cùng kỳ 2015
Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố tình hình thu hút đầu tư nước ngoài 10
tháng đầu năm 2016. Theo đó, Việt Nam thu hút thêm được 17,613 tỷ USD vốn
FDI, bao gồm cả vốn đăng ký mới và tăng thêm, bằng 91,3% so với cùng kỳ 2015.
Cụ thể, từ đầu năm đến nay Việt Nam thu hút được 2.061 dự án FDI mới với
tổng vốn đăng ký đạt 12,265 tỷ USD, bằng 98,7% so với cùng kỳ năm ngoái và
967 lượt dự án tăng vốn, với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,348 tỷ USD, bằng
77,9% so với cùng kỳ 2015. Vốn FDI giải ngân 10 tháng đầu năm đạt 12,7 tỷ
USD, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.
Từ đầu năm đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành,
lĩnh vực của Việt Nam. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được
nhiều nhất với 842 dự án đầu tư đăng ký mới và 691 lượt dự án điều chỉnh tăng
vốn, với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 12,84 tỷ USD, chiếm 72,9% tổng
vốn đầu tư đăng ký trong 10 tháng đầu năm.
Hàn Quốc vẫn là nhà đầu tư dẫn đầu trong tổng số 65 quốc gia và vùng lãnh
thổ đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm là 5,62 tỷ USD,
chiếm 31,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhật Bản đứng thứ 2 với tổng vốn
đăng ký mới và tăng thêm là 1,92 tỷ USD, chiếm 10,9% tổng vốn đầu
tư. Singapore đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,73 tỷ
USD, chiếm 9,8% tổng vốn đầu tư.
Hải Phòng, Hà Nội và Đồng Nai là 3 tỉnh thu hút đầu tư mạnh nhất trong 10
tháng đầu năm với lần lượt là 2,73 tỷ USD; 2,03 tỷ USD và 1,87 tỷ USD.
FDI "đổ" mạnh vào công nghiệp chế biến, chế tạo
Trong 10 tháng năm 2016, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép
mới đạt 8.389,4 triệu USD, chiếm 68,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động
kinh doanh bất động sản đạt 999,3 triệu USD, chiếm 8,1%; các ngành còn lại đạt
(80%), một phần đáng kể có công nghệ lạc hậu (14%) và chỉ có 6% có công nghệ
cao. Các công nghệ được chuyển giao theo các dự án FDI thường là các công nghệ
được đưa vào theo lợi ích của nhà đầu tư chứ không phải theo nhu cầu đổi mới
công nghệ do phía Việt Nam chủ động đưa ra. Sau hơn 25 năm thu hút FDI, kết
quả như vậy là hết sức hạn chế. Lưu ý rằng, trong số 500 Tập đoàn xuyên quốc gia
hàng đầu thế giới, chúng ta mới chỉ thu hút khoảng 100, trong khi đó Trung Quốc
đã thu hút 400 doanh nghiệp. Và ngay cả trong trường hợp thu hút một số tập đoàn
công nghệ cao nổi tiếng toàn cầu như Nokia, Samsung... công đoạn sản xuất tại
Việt Nam là công đoạn cuối, tức là chỉ lắp ráp, không đòi hỏi lao động chất lượng
cao và công nghệ tiên tiến.
Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có những ưu đãi chung đối với các ngành công
nghệ cao chứ chưa có những ưu đãi cụ thể, cao hơn đối với các ngành công nghệ
cao đi kèm với công đoạn sản xuất đòi hỏi công nghệ cao.
Ngoài ra, do nhiều dự án FDI đưa vào dây chuyền công nghệ lạc hậu nên có
tác động tiêu cực đến môi trường. Báo chí đã đề cập nhiều về sự tàn phá môi
trường của một số doanh nghiệp FDI như công ty Vedan tại Đồng Nai, công ty
Tung Kuang tại Hải Dương, công ty Long Tech tại Bắc Ninh... Nhiều doanh
nghiệp chưa tự giác trong việc tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường, chỉ vận
hành hệ thống xử lý chất thải khi cơ quan chức năng quản lý môi trường phát hiện
và xử phạt.
Bên cạnh việc phá hoại môi trường là việc khai thác cạn kiệt tài nguyên.
Trong thời gian vừa qua, giai đoạn trải thảm đỏ đón nhà đầu tư, đã thu hút đầu tư
vào khai thác tài nguyên khoáng sản rất nhiều từ dầu khí đến than đá, quặng…
Đây là nguồn tài nguyên không tái tạo được. Sự khai thác bừa bãi thiếu quy hoạch
sẽ gây tổn thất lớn tài nguyên quốc gia.
Thứ hai, mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước
còn yếu, không hỗ trợ nhiều cho khu vực doanh nghiệp trong nước phát triển. Kết
quả khảo sát của UNIDO năm 2011 cho thấy doanh nghiệp FDI tham gia khảo sát
giảm hiệu quả thu hút và sử dụng các dự án FDI.
Thứ nhất, Việt Nam chưa có chiến lược dài hạn về thu hút FDI. Trong vòng
2 thập kỷ qua mức độ thu hút FDI của Việt Nam khá ấn tượng, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các mục tiêu khác của việc thu hút FDI vẫn chưa
đạt được như như mục tiêu về tạo công ăn việc làm hay như mục tiêu thu hút các
doanh nghiệp FDI có công nghệ cao nhằm tạo ra các giá trị gia tăng nội địa cao và
kỳ vọng chuyển giao công nghệ trong ngành sản xuất cũng như nông – lâm – thủy
hải sản đã không thành hiện thực khi phần lớn các công ty đa quốc gia vào Việt
Nam chỉ đầu tư vào các dây chuyền sản xuất đơn giản, công nghệ thấp, ít giá trị
gia tăng.
Thứ hai, chính sách thu hút FDI hiện tại tương đối phức tạp và mơ hồ. Có
quá nhiều các dạng ưu đãi đầu tư được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác
nhau. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan quản lý trong việc thực hiện. Các
quy chế về ưu đãi đầu tư còn thiếu, tạo kẽ hở cho các nhà đầu tư không trung thực
trục lợi. Chưa kể, các ưu đãi đầu tư đa phần là ưu đãi về thuế, trong khi các biện
pháp khuyến khích đầu tư khác như đào tạo lao động, liên kết công nghiệp, chuỗi
cung ứng… lại thiếu vắng.
Cơ hội thu hút FDI trong khối TPP
Hiện nay, Việt Nam đã và đang là một điểm sáng thu hút đầu tư trong khu
vực và quốc tế. Điển hình là Việt Nam đã có nhiều nỗ lực vượt bậc và đạt được
những kết quả quan trọng trong cải cách thủ tục hành chính thuế, góp phần cải
thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây cũng
là một nhân tố quan trọng hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Bởi theo đánh giá của
các doanh nghiệp FDI thì môi trường kinh doanh ổn định là một tiền đề không thể
thiếu để quyết định đầu tư.
Theo TS. Nguyễn Mại, nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang đánh giá tích cực về
triển vọng phát triển kinh tế và môi trường đầu tư tại Việt Nam. Theo đó, chúng ta
với mức độ sâu hơn, rộng hơn WTO về các lĩnh vực cắt giảm các dòng thuế; tăng
cường quy định liên quan đầu tư nước ngoài và bảo vệ nhà đầu tư; bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ; tăng cường minh bạch trong cạnh tranh; các vấn đề về lao động…
Do đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên TPP sẽ
phát triển mạnh trong tương lai. Từ đó kéo theo dòng vốn đầu tư vào Việt Nam của
các nước trong khối TPP và cả các nước ngoài khối. Các nhà đầu tư ngoài khối
TPP sẽ đầu tư vào Việt Nam nhằm hưởng lợi ưu đãi thuế quan
Những cơ hội cho Việt Nam
Theo các chuyên gia kinh tế, TPP và thỏa thuận thương mại với Liên minh
Châu Âu (EU) mới đây sẽ giúp Việt Nam tăng cường sức mạnh xuất khẩu và thu
hút thêm vốn FDI.
TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch
và Đầu tư), cho rằng TPP là một hiệp định thương mại tự do (FTA) kiểu mẫu của
thế kỷ 21, với mức độ sâu hơn, rộng hơn WTO về các lĩnh vực cắt giảm các dòng
thuế; tăng độ mở cửa của dịch vụ; tăng cường quy định liên quan đầu tư nước
ngoài và bảo vệ nhà đầu tư; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường minh bạch
trong cạnh tranh; các vấn đề về lao động…
Do đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên TPP sẽ
phát triển mạnh trong tương lai, từ đó kéo theo dòng vốn đầu tư vào Việt Nam từ
các nước trong khối TPP và cả các nước ngoài khối. Các nhà đầu tư ngoài khối
TPP sẽ đầu tư vào Việt Nam nhằm hưởng lợi ưu đãi thuế quan (Quốc Hùng- Hồng
Phúc, 2015).
Nhiều chuyên gia quốc tế cũng cho rằng, Việt Nam sẽ là quốc gia được
hưởng lợi nhiều nhất khi tham gia TPP, dòng vốn từ nhiều nước thành viên TPP có
trình độ phát triển cao có thể mang lại những lợi ích lan tỏa đáng kể về công nghệ
và kỹ năng quản lý, hay các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn. Mức tăng
đầu tư sẽ giúp thúc đẩy sự hình thành vốn cố định và tạo cơ hội cho Việt Nam khai
thác các lợi thế tiềm năng về nông nghiệp.
vào TPP sẽ là chăn nuôi, doanh nghiệp phân phối - bán lẻ, khu vực doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Ngoài ra, vốn FDI giúp công nghiệp phụ trợ Việt Nam phát triển, nhưng
cũng là mối nguy cho các doanh nghiệp nội địa không có quy mô lớn và công nghệ
hiện đại...
Hơn nữa, TPP đòi hỏi các nước tham gia phải mở cửa rộng hơn nền kinh tế
cho cạnh tranh nước ngoài, thực thi luật lao động chặt chẽ hơn và các tiêu chuẩn
môi trường cao hơn.
GS. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
(VAFIE) trả lời phỏng vấn trên báo Dân trí cho rằng, TPP cũng là 1 trong rất nhiều
hiệp định thương mại tự do khu vực mà Việt Nam đã ký kết và tham gia nên chúng
ta không nên coi nó là chiếc đũa thần hoặc kỳ vọng quá cao vào nó để có thể thay
đổi được nền kinh tế từ đây. Cái chính vẫn ở cách chúng ta chơi và những người
chúng ta chọn ra để chơi với họ. Cần phổ biến cho người dân, doanh nghiệp hiểu
về TPP là gì và thực sự chủ động trong cuộc chơi này. Ngoài những màu hồng,
phải chỉ cho họ những góc tối, điểm mờ được gọi tên là những thách thức và khó
khăn không hề nhỏ.
TS. Phan Hữu Thắng cho rằng, việc thu hút đầu tư nước ngoài phải song
song hai yếu tố: vốn đi kèm công nghệ. Vị thế của Việt Nam hiện nay khác 25 năm
về trước, chúng ta đã hội nhập sâu rộng và trở thành thành viên của nhiều hiệp
định thương mại, khu vực kinh tế chung. Cho nên, trong thời gian tới, chúng ta có
nhiều cơ hội để đón các dòng vốn từ bên ngoài. Cơ hội là thế nhưng với thu hút
dòng vốn FDI, chúng ta nên đặt vấn đề: lựa chọn đối tác, dự án, môi trường và an
ninh quốc phòng. Đặc biệt, các địa phương, không nên “chạy theo thành tích” mà
quên đi những hệ lụy khi cấp phép “nhầm” dự án.
Ở đây, vai trò quản lý và quy định cho vấn đề xét duyệt dự án đầu tư cũng
như hậu kiểm là vô cùng quan trọng. Ngoài ra, chúng ta cũng phải quan tâm đến
chuyện dòng vốn FDI đi vào thực tế. Đến nay, trong tổng số hơn 250 tỷ USD thì
và hạ tầng xã hội một cách đồng bộ. Đồng thời, phải có chương trình kế hoạch
phát triển đào tạo đội ngũ lao động trình độ cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu.
Thứ ba, thúc đẩy xúc tiến đầu tư phù hợp, khoa học và hợp lý.
- Không nên hình thức kiểu phong trào, phải thực sự xúc tiến đầu tư có trọng
tâm, trọng điểm và hiệu quả thực sự. Trong xúc tiến phải tránh cạnh tranh không
lành mạnh giữa các địa phương.
- Cần tổ chức thực hiện xúc tiến đầu tư một cách đa dạng, phong phú như:
Thông qua các chuyến viếng thăm của các nguyên thủ quốc gia, tổ chức hội nghị
xúc tiến đầu tư trong nước và quốc tế.
Thứ tư, có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các nhà đầu tư tùy theo từng lĩnh vực
trong từng thời kỳ
- Cần có chính sách ưu đãi về thuế thu nhập, thuế sử dụng đất đai, thuế, hải
quan cho các nhà đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực như: Các dự án phát
triển công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao, phát triển hạ tầng, thị trường tài chính.
- Chính quyền các cấp cần sát cánh với các nhà đầu tư nước ngoài giải quyết
những khó khăn về các thủ tục hành chính cùng những khó khăn khác phát sinh
trong tiến trình hoạt động kinh doanh.
Thứ năm, tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp FDI
Cần tập trung kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các doanh nghiệp FDI
làm gây ô nhiễm môi trường, cố tình sử dụng những công nghệ lạc hậu, bắt tay với
nhau để làm giá, chuyển giá, trốn lậu thuế, đối xử hà khắc với công nhân nước sở
tại, bỏ trốn, xù nợ… Muốn vậy, cần phải đào tạo, xây dựng đội ngũ kiểm tra, kiểm
soát đủ trình độ, năng lực và phẩm chất; trang bị các phương tiện kỹ thuật tiên tiến,
hiện đại để phát hiện những sai phạm, tạo cơ sở để xử lý nghiêm minh những
doanh nghiệp FDI vi phạm pháp luật Việt Nam.
Ví dụ
Việt Nam đang được xem là “con át chủ bài” trong cuộc đổ bộ thị trường
ngoại của Lotte. Có mặt tại Việt Nam từ 2008, đến nay, Lotte đang sở hữu 12 công
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình CNH,
HĐH đất nước đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp thu những thành
tựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao động. Thông qua các dự án ODA các nhà tài
trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công
nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các
buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nước ngoài, cử các cán bộ
Việt Nam đi học ở nước ngoài, tổ chức các chương trình tham quan học tập kinh
nghiệm ở những nước phát triển, cử trực tiếp chuyên gia sang Việt Nam hỗ trợ dự
án và trực tiếp cung cấp những thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại
cho các chương trình, dự án. Thông qua những hoạt động này các nhà tài trợ sẽ góp
phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn
nhân lực của Việt Nam và đây mới chính là lợi ích căn bản, lâu dài đối với chúng ta.
Thứ ba, ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế .
Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên vào
phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả
nước. Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành
chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Tất cả
những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.
Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở
rộng đầu tư phát triển.
Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước,
trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó. Do đó, một
cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện
thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng không đủ
cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải trả cho
việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao. Một hệ thống ngân hàng lạc hậu
cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ
kinh
tế
-
Xã
hội
lại
rất
lớn.
Có thể nói, ODA là nhân tố xúc tác cho phát triển, giúp Việt Nam thực hiện thành
công các chiến lược phát triển 10 năm và các kế hoạch 5 năm. Cụ thể:
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn: Các chương trình và
dự án ODA đã góp phần cải thiện và phát triển sản xuất nông nghiệp, thay đổi bộ
mặt nông thôn Việt Nam, như: các chương trình phát triển thủy lợi, giao thông
nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, phát triển lưới điện nông
thôn…
Các dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng nông thôn đã góp phần cải thiện đời sống
người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong
việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục..., góp phần
quan trọng vào công tác xoá đói giảm nghèo tại các vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, các chương trình, dự án ODA cũng đã hỗ trợ công tác nghiên cứu
khoa học, công nghệ nông nghiệp giúp nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm
nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
góp phần vào những tiến bộ đạt được trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển
Thiên niên kỷ (MDG) liên quan tới y tế.
Trong phát triển đô thị và bảo vệ môi trường: Từ nguồn vốn ODA, hầu hết
các thành phố, thị xã, thị trấn đã được xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng hệ
thống cung cấp nước sinh hoạt, thoát nước và một số nhà máy xử lý nước thải.
Nhiều thành phố ở Việt Nam đã được cải thiện về môi trường bằng các dự án vốn
ODA, điển hình thành công là dự án kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè ở thành phố Hồ
Chí Minh, với sự hỗ trợ vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB), dòng kênh tưởng
như đã chết này lại hồi sinh, trở thành con kênh xanh, sạch, đẹp.
Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ: Nhiều kỹ năng và kinh nghiệm quản
lý tiên tiến được chuyển giao cho các cơ quan, các trung tâm nghiên cứu, cũng như
các bộ, ngành và địa phương với sự hỗ trợ của các chương trình, dự án ODA về
công nghệ cao, tiên tiến trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ vật liệu, công nghệ xây dựng... Dự án phát triển hạ tầng khu công
nghệ cao và Trung tâm vũ trụ Việt Nam tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội
do Nhật Bản tài trợ là một thí dụ điển hình.
Về xây dựng thể chế: Thông qua việc tiếp nhận nguồn vốn ODA, Việt Nam
đã học hỏi được những kiến thức, kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện môi trường
thể chế, pháp lý trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế và khu vực, nhất là quá trình chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO). Nhiều dự thảo luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật đã
được xây dựng với sự hỗ trợ của nguồn vốn ODA, như: Luật Xây dựng, Luật Đất
đai, Luật Thương mại, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp…
Hạn chế và yếu kém
Qua 20 năm tiếp nhận ODA, thực tế cũng đã chỉ ra còn nhiều hạn chế trong
việc tiếp nhận, sử dụng hiệu quả nguồn lực này, thể hiện ở những điểm sau:
Một là, năng lực hấp thụ nguồn vốn ODA còn kém, chưa đáp ứng được yêu
cầu. Có thể nhìn nhận thực trạng này thông qua tỷ lệ giải ngân so với nguồn vốn
và các nhà tài trợ chưa thật sự thông suốt, nhất là các lĩnh vực có sự tham gia của
nhiều nhà tài trợ hoặc các chương trình, dự án đa ngành đa cấp và đa mục tiêu.
Sáu là, tổ chức quản lý dự án thiếu tính chuyên nghiệp. Năng lực và trình độ
chuyên môn của đội ngũ cán bộ tham gia quản lý dự án còn hạn chế, nhất là ở các
địa phương. Nhân sự các ban quản lý dự án thường không ổn định, trong nhiều
trường hợp hoạt động kiêm nhiệm. Công tác đào tạo quản lý dự án chưa thực hiện
thường xuyên, có hệ thống và bài bản.
GIẢI PHÁP: Để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong thời
gian tới, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập
trung bình thấp, cần phải thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn đối ứng cho các chương trình
và dự án ODA để đạt tỷ lệ giải ngân cao nhất và nhanh nhất, đây là điều rất cấp
thiết với Việt Nam. Thiếu nguồn lực đối ứng, gồm tài chính và nguồn vốn con
người có năng lực, thì khó mà thành công trong sử dụng ODA có hiệu quả cao để
phục vụ các mục tiêu phát triển. Dù là ODA vốn vay hay viện trợ không hoàn lại
đều đòi hỏi những chi phí trong nước mới có thể hiện thực hóa được vốn ODA trở
thành những kết quả phát triển cụ thể.
Thứ hai, xu thế nguồn vốn ODA không hoàn lại và có lãi suất ưu đãi giảm
đi khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình thấp, thay vào đó phải sử dụng
vốn vay kém ưu đãi. Vì thế, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay này đòi hỏi Việt
Nam phải tăng cường năng lực và cải tiến mạnh mẽ tình hình thực hiện dự án, sử
dụng tập trung hơn để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế và xã hội quy mô lớn, có
giá trị và tạo ra tác động lan tỏa đối với sự phát triển chung của cả nước.
Thứ ba, hoàn thiện các văn bản pháp lý, đổi mới trong quy trình và thủ tục
quản lý dự án ODA trên cơ sở kết hợp tham khảo những quy chuẩn của các nhà tài
trợ, nhất là trong ba khâu công việc quan trọng: đấu thầu mua sắm; đền bù, di dân
và tái định cư; quản lý tài chính của các chương trình, dự án dẫn đến tình trạng
trình duyệt “kép”.