MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC LÀM QUEN TÁC PHẨM VĂN
HỌC NHẰM GIÚP TRẺ CẢM THỤ TÁC PHẨM THÔNG QUA TRUYỆN
KỂ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
*. Lý do khách quan
Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc
sống là một việc làm hết sức cần thiết và có một ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong sự nghiệp chăm lo đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người
tương lai của đất nước Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ
trên con đường đi đến xây dựng một xã hội giàu mạnh, ấm no, văn minh và hạnh
phúc. “trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”.
Ngày nay, giá trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn và đánh giá một
cách toàn diện sâu sắc thì công tác chăm sóc, giáo dục trẻ càng mang một ý
nghĩa nhân văn cụ thể, càng trở thành một đạo lý của thế giới văn minh.
*. Lý do chủ quan
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn
sau:
- Trường ở trung tâm đã xây dựng đạt chuẩn quốc gia nên cơ sở vật chất
khá đầy đủ
- Trường luôn tạo điều kiện mở chuyên đề cho giáo viên dự giờ, thao giảng
- Bản thân luôn luôn học hỏi kinh nghiệm từ chị em đồng nghiệp, luôn chịu
khó tìm tòi sách báo tham khảo và nhiệt tình trong công tác.
Bên cạnh đó, quá trình giảng dạy tôi thường gặp phải một số khó khăn như
sau:
- Trẻ 3 – 4 tuổi vốn ngôn ngữ, kinh nghiệm sống của trẻ còn hạn chế
- Đối với chương trình đổi mới hiện nay đồ dùng tranh ảnh còn thiếu.
- Để khắc phục những khó khăn trên trong quá trình giảng dạy tôi cố gắng
tìm tòi nghiên cứu và đề ra những biện pháp giúp trẻ cảm thụ tác phẩm văn học
lớn
Vì vậy giáo dục trẻ em trước tuổi học đường ( giáo dục Mầm Non) đã trở thành
mắt xích đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân được Đảng và Nhà nước quan
tâm. Sự phát triển của hệ thống giáo dục Mầm Non đặt ra trước khoa học giáo
dục mầm non.
2.2. Thực trạng:
2.2.1. Thuận lợi, khó khăn:
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chuyên đề
nâng cao chất lượng làm quen văn học tôi đã có một số thuận lợi sau:
Là một trường đạt chuẩn quốc gia nông thôn, được các cấp, ngành địa phương
quan tâm nên cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và học tương đối đầy đủ, lớp
có đầy đủ tranh trực quan phục vụ cho việc làm quen văn học của trẻ. Và đặc
biệt là sự chỉ đạo tổ chức hướng dẫn sâu sắc của phòng giáo dục, tôi luôn có điều
kiện nắm bắt các chuyên đề.
Trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận với chuyên đề, hỗ trợ
nhiều loại sách báo, tập sách, băng đĩa, hình cho giáo viên tham khảo.
Phần đa phụ huynh có sự quan tâm đến trẻ, tạo điều kiện thuận lợi trong
việc kết hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường.
Bản thân tôi là giáo viên lâu năm, luôn nhiệt tình với công tác và cũng rất
yêu thích văn học.
Bên cạnh những thuận lợi đó trong quá trình giảng dạy tôi cũng gặp không
ít khó khăn trong việc thực hiện chương trình đổi mới hình thức hoạt động giáo
dục, đặc biệt là môn làm quen văn học.
Do ảnh hưởng khá lâu của phương pháp dạy học củ nên giáo viên thường
áp đặt trẻ, gò ép trẻ theo khuôn mẫu, lấy người dạy làm trung tâm, nên không
phát huy được khả năng tư duy của trẻ. Cách dạy cũ chưa khơi dậy được năng
lực họat động có trong trẻ, chưa tạo cơ hội cho trẻ tự tin mạnh dạn, tìm tòi khám
phá mọi vật xung quanh trẻ.
mầm non, vì chúng ta là những chiếc cầu nối để đưa trẻ đến với văn học, trẻ phải
thực sự hiểu về các tác phẩm văn học, thể hiện được nội dung của tác phẩm,
sống trong môi trường của văn học, có như vậy trẻ mới có lòng yêu văn học,
xem văn học là nhu cầu cần thiết của trẻ trong đời sống hàng ngày.
2.3 Giải pháp, biện pháp
2.3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
- Tạo môi trường văn học xung quanh trẻ
- Biện pháp giúp trẻ hiểu được nội dung tác phẩm
- Đưa trẻ vào hoạt động văn học nghệ thuật
2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp
- Tạo môi trường văn học xung quanh trẻ: cho trẻ làm quen tác phẩm văn
học là để tập trung nhận rõ sự độc đáo của phong cách nghệ thuật và vẻ đẹp
riêng của nội dung, hình thức văn chương. Đây là thế giới mới của cuộc sống
thực tại, bao gồm thiên nhiên, xã hội, con người được diễn tả, biểu đạt trong các
hình thức đa dạng độc đáo về loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi hiện tượng tự nhiên vũ
trụ mà trẻ nhìn thấy được. văn học diễn tả những gì gần gũi trong môi trường
sống của trẻ như làng quê, cánh đồng, khu rừng, lớp học… văn học đề cập đến
những lực lượng siêu nhiên như thần linh, ông bụt, cô tiên, phù thủy… đó chính
là đối tượng miêu tả của văn học, làm nên sự phong phú hấp dẫn đời sống tinh
thần của trẻ. Trẻ 3-4 tuổi tư duy chủ yếu là trực quan hình ảnh, trẻ rất thích hình
ảnh ngộ nghĩnh, sinh động, màu sắc rực rỡ. Ở lớp tôi trang trí góc thư viện có
nhiều tranh ảnh, sách báo phong phú. Bên cạnh đó, tôi vận động phụ huynh đóng
góp một số sách truyện mẫu giáo. Những loại sách này có hình ảnh rõ nét, nội
dung có tính chất giáo dục cao, từ những tờ lịch cũ cô sử dụng vẽ các nhân vật
trong truyện
- Biện pháp giúp trẻ hiểu được nội dung tác phẩm: “phương pháp kể sáng
tạo truyện cổ tích thần kỳ cho trẻ mẫu giáo” phát triển thành chuyên luận, công
trình đáng kể này xuất phát từ giá trị nhiều mặt của cổ tích thần kỳ, một bộ phận
thỏ nâu, thỏ nâu gắt gỏng: “Ai đấy” “ Bác đi đi, nhẹ cũng đổ, không nhẹ cũng
đổ…” phải thể hiện giọng bực bội gắt gỏng.
Hình tượng trực quan là nguồn thông tin thẩm mỹ với tư cách là một
phương tiện dạy học, nó hỗ trợ đắc lực trong việc cho trẻ làm quen tác phẩm văn
học trong việc két hợp ngôn ngữ đọc và kể tác phẩm để tự cảm thụ văn học. Cô
giáo cũng có thể cắt truyện tranh trên báo, trên tạp chí dán lại thành băng dài và
chiếu cho trẻ xem. Nhưng tranh cô sử dụng phải phù hợp, trình bày trực quan
hợp lý. Bên cạnh các loại tranh minh họa còn làm những con rối dẹp dán trên
bảng hoặc rối tay, rối ngón tay, rối cắm que…
Những truyện có sự thay đổi nhiều về khung cảnh thì nên dùng trtanh
minh họa, những tranh truyện ít thay đổi khung cảnh thì nên sử dụng rối.
Ví dụ:
Trong câu chuyện “Nhổ củ cải” cô sử dụng tranh minh họa nội dung câu
chuyện, cho trẻ xem múa rối, hướng dẫn tự hóa trang, đi đóng kịch mọi lúc, mọi
nơi, cho trẻ nghe qua băng đĩa, khi sử dụng đồ dùng trực quan trẻ rất hứng thú về
các nhân vạt trong truyện minh họa đa dạng phong phú nên trẻ dễ hiểu được nội
dung tác phẩm.
- Đàm thoại để hiểu tác phẩm không chỉ đơn giản là cô đặt câu hỏi trẻ trả
lời. Khi đàm thoại, cô giáo cần đặt câu hỏi kết hợp với giải thích đọc hoặc kể lại
trtích dẫn trong tác phẩm, tất nhiên không phải sau mỗi câu hỏi cô đều đọc, kể
trích dẫn, mà chỉ đọc hoặc kể những tình tiết chính trong truyện
Ví dụ:
Trong truyên “Cô bé quàng khăn đỏ” trước khi đi mẹ cô bé dặn, cô bé đó
là một trong những tình tiết chính của truyện. Do đó cô phải kể hoặc đọc lại đoạn
trích.
Cô hỏi: Trước khi đi mẹ cô bé đã dăn cô bé như thế nào?
Mục đích chính của phần đàm thoại giúp ttrẻ hiểu sâu tác phẩm, do đó cô
giáo cần đặt ra câu hỏi về những tình tiết chính , và xoái vào các tình tiết đó. Câu
trẻ chủ động kể diễn cảm một câu chuyện, tái tạo có sáng tạo qua kể lại chuyện,
sáng tác chuyện mới theo tưởng tượng chủ quan của mình nhập vai trong các trò
chơi đóng kịch dựa theo tác phẩm văn học, cô cần tập cho trẻ phương pháp quan
sát, mô phỏng, tái tạo bằng cách nhắc lại, bắt chước.
-
Ví dụ: Để tổ chức hoạt động chung làm quen tác phẩm văn học
truyện “ Nhổ củ cải” khi đi dạo chơi, cho trẻ làm quen điêụ bộ vận động của con
chó con, mèo con, chuột nhắt. Cho trẻ lặp đi lặp lại những câu đối thoại. Cô có
thể hỏi “ ông già đã gọi bà già như thế nào?” cô cho vài trẻ thể hiện như vậy để
trong tác phẩm nào trẻ cũng có cơ hội được tham gia dù ít hay nhiều
2.3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Để trẻ có nhu cầu văn học trước hết chúng ta phải giúp trẻ sống trong môi
trường văn học, phải khơi dậy hứng thú của trẻ với văn học
Khi dạy trẻ 3-4 tuổi kể chuyện ngoài việc tôi phải chẩn bị tranh ảnh, rối, đồ
dùng dạy học, giọng kể truyền cảm gây sự lôi cuốn của trẻ. Bên cạnh đó tôi luôn
chú ý đến trình độ hận thức trẻ lớp mình từ đó sử dụng hệ thống câu hỏi từ đơn
giản đến phức tạp phù hợp với khả năng trẻ lớp mình nhằm phát triển tính tích
cực ở trẻ. Từ những câu hỏi đó đã giúp trẻ nhớ nội câu chuyện lâu hơn và làm
tăng thêm vốn từ, phát triển trí tưởng tượng rất phong phú, kich thích tư duy phát
triển ở trẻ
2.3.4 Mối quan hệ giữa giải pháp, biện pháp
Mối quan hệ giữa giải pháp, biện pháp được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau
để phát huy khả năng cho trẻ cảm thụ tác phẩm văn học cũng như tổ chức một
tiết học đạt hiệu quả cao
2.3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Nhận thức được sự cần thiết của bộ môn LQVH đối với trẻ nên tôi đã dành
4/Tuyển tập trò chơi phát triển ngôn ngữ-Nguyễn Thị phương Nga-1996 trường
CĐSP TW III-BGDĐT
5/Chương trình chăm sóc GDMGvà hướng dẫn thực hiện 3-4 tuổi-Trần Thị
Trọng, Phạm Thị Sửu -1997 BGDĐT
6/ Tuyển chọn thơ truyện- câu đố mẫu giáo –Đặng Thu Quỳnh, Nhà xuất bản
giáo dục