PGS.TS NGUYỄN PHÚC CHỈNH
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
NHÀ XUẤT BẢN
1
LỜI NÓI ĐẦU
Chất lượng giáo dục là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm vì tầm
quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, sự nghiệp
phát triển giáo dục nói riêng. Mọi hoạt động giáo dục được thực hiện đều
hướng tới mục đích góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục; và một
nền giáo dục ở bất kì quốc gia nào cũng phải phấn đấu để trở thành một nền
giáo dục chất lượng cao.
Vấn đề chất lượng giáo dục cho đến nay vẫn luôn mang tính thời sự và
có tầm quốc tế. Mặc dù vậy, từ nhận thức bản chất của khái niệm đến cách
tiến hành xem xét để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục không
phải là điều đơn giản. Vì vậy, hiểu đầy đủ về chất lượng giáo dục và quy
trình, phương pháp, kĩ thuật đánh giá chất lượng giáo dục một cách khoa học,
phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội, của giáo dục trong một hoàn cảnh
cụ thể là một yêu cầu cấp bách của nền giáo dục nước nhà.
Những người lãnh đạo trong hầu hết các trường hợp phải có trách
nhiệm về việc kiểm tra đánh giá những người làm việc cho mình. Cũng giống
như vậy, người giáo viên phải có trách nhiệm kiểm tra - đánh giá học sinh
trong lớp của mình, một công việc rất khó khăn trong quá trình dạy học. Kết
quả kiểm tra đánh giá và những lời nhận xét của giáo viên có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với học sinh và phụ huynh học sinh, hơn nữa nó còn ảnh
giáo viên, hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ có một đội ngũ cán bộ kiểm định
chất lượng giáo dục có trình độ về lý thuyết và thực tiễn.
Tài liệu này biên soạn nhằm đáp ứng những yêu cầu đổi mới về kiểm
tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh và kiểm định chất lượng giáo dục ở
các trường phổ thông.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng những thiếu sót trong tài liệu này là
khó tránh khỏi. Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn
đọc, học viên để có điều kiện hoàn thiện tài liệu cho những lần tái bản sau.
TÁC GIẢ
3
Phần1
KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
1.1. Khái quát về kiểm tra, đánh giá trong giáo dục
Kiểm tra và đánh giá là một thành tố quan trọng trong quá trình giáo
dục nói chung và dạy học nói riêng, đây là một khâu có ý nghĩa quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Trang bị cho giáo viên
những kỹ thuật kiểm tra, đánh giá là một việc làm cần thiết trong xu thế đổi
mới giáo dục hiện nay.
Kiểm tra và đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp
thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất
lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm
cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
Kiểm tra là hình thức và phương tiện để góp phần vào quá trình đánh
giá. Thông qua kết quả của các loại bài kiểm tra giáo viên sẽ có những thông
về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục
căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và
hành động giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót.
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lí
thông tin về trình độ, khả năng đạt được mục tiêu học tập của HS cùng với tác
động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định
sư phạm của giáo viên và nhà trường để HS học tập ngày một tiến bộ hơn.
- Đánh giá có nghĩa là thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có
giá trị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này
và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều
chỉnh trong quá trình thu thập thông tin; nhằm ra một quyết định.
- Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán
đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối
chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích
hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công
tác giáo dục.
- Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh
giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí
đã đưa ra trong các chuẩn hay kết quả học tập.
- Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh
giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các tiêu chí
đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay kết quả học tập. Đánh giá có thể là
đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc đánh giá định tính
(qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị.
Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và
ra quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục
tiêu phải theo đuổi và kết thúc khi đưa ra quyết định liên quan đến mục tiêu
đó, đồng thời cũng lại mở đầu cho một chu trình giáo dục tiếp theo.
Đánh giḠthực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn thông tin
phản hồi về quá trình dạy học, vừa góp phần điều chỉnh hoạt động này.
Hầu hết các đại lượng tâm lý là các thuộc tính của tư duy, mà tư duy thì
không thể quan sát trực tiếp (đại lượng ẩn), nhưng vẫn có thể đo một cách
gián tiếp thông qua các hành vi có thể quan sát được của con người. Ví dụ: để
biết một học sinh có nắm được nội dung của môn học hay không sau khi học
xong môn học đó, một bài test có thể cho chúng ta biết một cách chính xác:
học sinh đó hiểu đến mức nào (chỉ nhận biết khái niệm một cách máy móc
hay còn có khả năng đánh giá, chuyển giao nhận thức của mình). Các công cụ
kiểm tra hay còn gọi là đo lường, quan sát (ví dụ bài test) cần được thiết kế
cẩn thận, có độ tin cậy cao để ghi nhận chính xác các hành vi, làm cơ sở để
xác định đại lượng ẩn.
6
Trong đo lường tâm lý, sự thành công của phép đo phụ thuộc nhiều vào
công cụ đo (ví dụ bài test), nhưng đồng thời cũng bị ảnh hưởng vào sự thể
hiện các hành vi, thông thường không nhất quán. Hành vi của con người bao
giờ cũng chủ quan, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau.
Trong đo lường giáo dục, hai hệ lý thuyết đánh giá cơ bản dưới đây
đang được sử dụng, đó là: Lý thuyết khảo thí cổ điển (Classical Test Theory)
và Lý thuyết khảo thí hiện đại (Modern Test Theory). Các lý thuyết này được
diễn đạt theo ngôn ngữ toán học.
1.2.1. Lý thuyết khảo thí cổ điển
1) Phương trình cơ bản
(1)
xi = ti + ei
Trong đó: xi là điểm làm bài test của thí sinh i
ti là điểm thực của thí sinh i
∑ xi
s =1
k
Khi k khá lớn thì:
7
k
= ti +
∑ ei
s =1
k
(3)
k
ti = lim
∑x
s =1
k →∞
a. đồng phương sai giữa ti1 và ti2, chính là var(t)
b. đồng phương sai giữa ti1 và ei2, bằng 0
c. đồng phương sai giữa ei1 và ti2, bằng 0
d. đồng phương sai giữa ei1 và ei2, bằng 0
Do đó cov(x1, x2) = var(t)
Mối tương quan giữa x1 và x2 = độ tin cậy của bài test.
Công thức khác tính độ tin cậy:
a.Công thức phân đôi
δ =
2r
1+ r
8
trong đó, r là độ tin cậy của nửa bài test.
b. Công thức dự báo của Spearman – Brown
δ =
kr
1 + ( k − 1) r
trong đó, r là độ tin cậy của bài test
δ là độ tin cậy của bài test được kéo dài k lần
c. Công thức Kuder – Richardson: (với những câu hỏi đúng/sai, đa lựa
chọn)
K-R 20
n
µ c là trung bình cộng của cả bài test
σ c2 là phương sai chung của cả bài test
n là số câu hỏi của bài test
d. Hệ số α Crombach
n
∑ σ i2
n
α=
1 − i =1 2
n −1
σc
2
trong đó, σ i là phương sai của kết quả trả lời câu hỏi i
σ c2 là phương sai chung của kết quả cả bài test
n là số câu hỏi trong bài test
9
Hạn chế của lý thuyết khảo thí cổ điện:
1) Điểm thực phụ thuộc vào độ khó của các câu hỏi trong bài test;
ra giữa hai nhóm (Gt – Gd), tức là khi một nhóm có g học sinh trả lời đúng
và nhóm kia không có học sinh nào trả lời đúng (g-0).
Chỉ số độ phân biệt của câu hỏi thi i =
Gt − Gd
* 100%
g
Câu hỏi quá khó hoặc quá dễ không thể có độ phân biệt tốt. Câu hỏi có
chỉ số phân biệt nhỏ hơn hoặc bằng 0 cần bị loại bỏ. Ebel (1956) đề xuất rằng
10
các câu hỏi của bài test trong lớp học nên có chỉ số phân biệt bằng 0,30 hoặc
cao hơn. Một số tác giả khác cho rằng chỉ số phân biệt nên nằm trong khoảng
0,25-0,75.
Qui trình tính toán:
1) Sắp xếp bảng thống kê kết quả trả lời theo thứ tự tổng điểm toàn bài
từ thấp đến cao hoặc từ cao đến thấp. Xác định 27% của tổng số thí sinh làm
bài test. Ký hiệu số này là g (g có thể xấp xỉ 27% nhưng phải là số nguyên).
2) Xác định hai nhóm với g thành viên, một nhóm có tổng điểm toàn
bài cao nhất và nhóm kia có tổng điểm toàn bài thấp nhất.
3) Đối với mỗi câu hỏi trong bài test, tính số câu trả lời đúng trong mỗi
nhóm.
4) Tính chỉ số độ phân biệt và chỉ số độ khó của câu hỏi.
Câu hỏi
Thí sinh
1
2
11
1. Tương quan giữa câu hỏi và bài test (Hệ số tương quan point
biserial):
rpbis =
( x i − xc )
σ
pi
qi
Trong đó, xi = Trung bình cộng của điểm của người trả lời được câu
hỏi i đang xem xét mối tương quan với bài test
xc = Trung bình cộng điểm (của toàn bài)
pi = Mức độ khó của câu hỏi
qi = 1 – pi
úc = Độ lệch chuẩn của điểm cả bài test
Mối tương quan chặt chẽ giữa câu hỏi và bài test góp phần làm tăng độ
tin cậy của bài test. Giữ lại những câu hỏi có mối tương quan cao và loại bỏ
những câu hỏi có mối tương quan thấp hoặc dưới 0 sẽ làm tăng độ tin cậy của
bài test. Việc loại bỏ những câu hỏi có mối tương quan thấp có thể làm tăng
độ tin cậy nhưng sẽ làm giảm tính giá trị (tính xác thực) về nội dung đánh giá.
Lưu ý, tính chính xác cao của bài test có thể đạt được ngay cả khi có
tương quan thấp giữa câu hỏi và bài test.
1.2.2. Lý thuyết khảo thí hiện đại
Lý thuyết hồi đáp
(Item Characteristic Curves - ICC).
a. Đường cong tăng lên khi θ tăng (năng lực của thí sinh θ tăng thì xác
suất trả lời đúng P(θ) tăng).
b. Đường cong nằm giữa hai đường thẳng y=0 và y=1 (Hàm xác suất
P(θ) nằm giữa 0 và 1).
c. Đường cong tiệm cận đến hai đường thẳng y=0 và y=1
P(θ) tiến đến 0 khi θ → - ∞ và P(θ) tiến đến 1 khi θ → ∞
5) Xác suất biểu thị hàm số độ khó câu hỏi (là δ thể hiện dưới một hàm
số logarit tự nhiên) cho đường cong đặc trưng thí sinh là hàm P(δ) (Person
Characteristic Curves - PCC). Lưu ý sự khác nhau giữa ICC và PCC.
6) Ở trên đã giả thiết xác suất trả lời là một hàm số đặc trưng đơn giản
cho năng lực thí sinh. Để Lý thuyết hồi đáp có thể áp dụng được với các bài
test, các câu hỏi phải là các đơn thứ nguyên (unidimensional). Không một
công cụ đo lường nào là đơn thứ nguyên chính xác. Ở đây có thể có một số
thứ nguyên phụ (minor dimensions) ảnh hưởng đến việc trả lời câu hỏi. Liệu
có hay không một công cụ là đơn thứ nguyên thoả đáng còn là một câu hỏi
quan trọng để có thể ứng dụng Lý thuyết hồi đáp.
7) Nếu năng lực θ của thí sinh i đã được xác định, khi đó sự hiểu biết
của thí sinh i để trả lời câu hỏi j không ảnh hưởng đến khả năng có được câu
trả lời đúng đối với câu hỏi k khác.
P[ xij = 1 | θ, xik = 1 ] = P[ xij = 1 | θ ]
Nếu điều đó sai, nghĩa là câu trả lời đối với câu hỏi j phụ thuộc vào
điều gì đó ngoài năng lực θ. Sự không phụ thuộc này được gọi là sự độc lập
cục bộ hay sự độc lập có điều kiện, và là kết quả của tính đơn thứ nguyên.
Điều đó còn nghĩa là
P[ xij = 1, i=1,2,…,I | θ] =
13
I
Đo độ khó
Lý thuyết hồi
đáp
Điểm thực t
Mức độ khó
Đo độ phân Point biserial
biệt
Lý thuyết
đánh giá cổ
điển
Tham
biến
t=
năng lực θ
n
∑P (θ)
i =1
i
Tham biến độ
khó δ
Tham
biến
kém, trên cơ sở đó tiếp thu vận dụng các thành tựu hiện đại của khoa học GD
trong nước và quốc tế vào thực tiễn nước ta. Các cấp quản lý GD cần chỉ đạo
chặt chẽ, coi trọng việc hướng dẫn các cơ quan quản lý GD cấp dưới, các
trường học, các tổ chuyên môn và từng GV trong việc tổ chức thực hiện, sao
cho đi đến tổng kết, đánh giá được hiệu quả cuối cùng. Thước đo thành công
của các giải pháp chỉ đạo là sự đổi mới cách nghĩ, cách làm của từng cán bộ
quản lý GD, của mỗi GV và đưa ra được các chỉ số nâng cao chất lượng dạy
học.
Thứ hai: Phải có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nhất là GV cùng bộ môn
Đơn vị tổ chức thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới KT, ĐG là trường
học, bộ môn với một điều kiện tổ chức dạy học cụ thể. Việc đổi mới KT, ĐG
phải gắn với đặc trưng mỗi môn học, nên phải coi trọng vai trò của các tổ
chuyên môn, là nơi trao đổi kinh nghiệm giải quyết mọi khó khăn, vướng
mắc. Trong việc tổ chức thực hiện đổi mới KT, ĐG, cần phát huy vai trò của
đội ngũ GV giỏi có nhiều kinh nghiệm, GV cốt cán chuyên môn để hỗ trợ GV
mới, GV tay nghề chưa cao, không để GV nào phải đơn độc. Phải coi trọng
hình thức hội thảo, thao giảng, dự giờ thăm lớp để rút kinh nghiệm kịp thời,
đánh giá hiệu quả từng giải pháp cụ thể trong việc đổi mới PPDH và đổi mới
KT, ĐG (ra đề kiểm tra bảo đảm chất lượng, kết hợp hình thức tự luận với
trắc nghiệm cho phù hợp với đặc trưng bộ môn).
Thứ ba: Cần lấy ý kiến của HS để hoàn thiện PPDH và KT, ĐG
Đổi mới PPDH và đổi mới KT, ĐG chỉ mang lại kết quả khi HS phát
huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, biết tự tìm cho mình PP học tập hữu
hiệu, biết tự học, tự đánh giá kết quả học tập. Trong môi trường sư phạm thân
thiện, việc thu thập ý kiến xây dựng của HS để giúp GV đánh giá đúng về
mình, tìm ra con đường khắc phục các hạn chế, thiếu sót, hoàn thiện PPDH,
đổi mới KT-ĐG là hết sức cần thiết và là cách làm mang lại nhiều lợi ích,
phát huy mối quan hệ thúc đẩy tương hỗ giữa người dạy và người học.
Thứ tư: Đổi mới KT, ĐG phải đồng bộ với các khâu liên quan và nâng
cao các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy học
Trong nhà trường, hoạt động dạy học là trung tâm để thực hiện nhiệm
vụ chính trị được giao, thực hiện sứ mệnh “trồng người”. Hoạt động dạy học
chỉ đạt hiệu quả cao khi tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, bầu
không khí thân thiện, phát huy ngày càng cao vai trò tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS. Do đó, phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới PPDH nói chung và đổi
mới KT-ĐG nói riêng thành trọng tâm của cuộc vận động đổi mới giáo dục
Cũng trong mối quan hệ đó, bước phát triển của cuộc vận động và phong trào
thi đua này sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình đổi mới PPDH và đổi mới KTĐG đạt được mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy nâng cao chất lượng GD toàn
diện.
1.4. Một số nhiệm vụ trong chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá
1.4.1. Các công việc cần tổ chức thực hiện
a) Các cấp quản lý giáo dục và các trường phổ thông cần lập kế hoạch
chỉ đạo đổi mới PPDH, trong đó có đổi mới kiểm tra, đánh giá trong từng năm
học. Kế hoạch cần quy định rõ nội dung các bước, quy trình tiến hành, công
16
tác kiểm tra, thanh tra chuyên môn và biện pháp đánh giá chặt chẽ, hiệu quả
cuối cùng thể hiện thông qua kết quả áp dụng của GV.
b) Để làm rõ căn cứ khoa học của việc kiểm tra, đánh giá, cần tổ chức
bồi dưỡng cho đội ngũ GV cốt cán và toàn thể GV nắm vững chương trình
giáo dục phổ thông của cấp học, từ mục tiêu cấp học, cấu trúc chương trình,
chương trình các môn học, các hoạt động GD và đặc biệt là chuẩn kiến thức,
kỹ năng yêu cầu về thái độ đối với người học.
Phải khắc phục tình trạng GV chỉ dựa vào sách giáo khoa để làm căn
cứ soạn bài, giảng dạy và kiểm tra, đánh giá đã thành thói quen, tình trạng này
dẫn đến việc kiến thức của HS không được mở rộng, không được liên hệ
nhiều với thực tiễn, làm cho giờ học trở nên khô khan, gò bó, dẫn đến kiểm
tra đánh giá đơn điệu, không kích thích được sự sáng tạo của HS.
c) Để vừa coi trọng việc nâng cao nhận thức vừa coi trọng đổi mới
của HS đối với PPDH và KT-ĐG của GV;
Ngoài ra, căn cứ tình hình cụ thể của mình, các trường có thể bổ sung
một số chuyên đề phù hợp, thiết thực đáp ứng nhu cầu của GV.
d) Về chỉ đạo của các cơ quan quản lý GD và các trường
Về PP tiến hành của nhà trường, mỗi chuyên đề cần chỉ đạo áp dụng
thí điểm, xây dựng báo cáo kinh nghiệm và thảo luận, kết luận rồi nhân rộng
kinh nghiệm thành công, đánh giá hiệu quả mỗi chuyên đề thông qua dự giờ
thăm lớp, thanh tra, kiểm tra chuyên môn.
Trên cơ sở tiến hành của các trường, các Sở GDĐT có thể tổ chức hội
thảo khu vực hoặc toàn tỉnh, thành phố, nhân rộng vững chắc kinh nghiệm tốt
đã đúc kết được. Sau đó, tiến hành thanh tra, kiểm tra chuyên môn theo từng
chuyên đề để thúc đẩy GV áp dụng và đánh giá hiệu quả.
1.4.2. Phương pháp tổ chức thực hiện
a) Công tác đổi mới KT, ĐG là nhiệm vụ quan trọng lâu dài nhưng phải
có biện pháp chỉ đạo cụ thể có chiều sâu cho mỗi năm học, tránh chung chung
theo kiểu phát động phong trào thi đua sôi nổi chỉ nhằm thực hiện một “chiến
dịch” trong một thời gian nhất định. Đổi mới KT, ĐG là một hoạt động thực
tiễn chuyên môn có tính khoa học cao trong nhà trường, cho nên phải đồng
thời nâng cao nhận thức, bổ sung kiến thức, trang bị kỹ năng cho đội ngũ GV,
đông đảo HS và phải tổ chức thực hiện đổi mới trong hành động, đổi mới
cách nghĩ, cách làm, đồng bộ với đổi mới PPDH, coi trọng hướng dẫn, kiểm
tra, giám sát, kiểm chứng kết quả để củng cố niềm tin để tiếp tục đổi mới.
Trong kế hoạch chỉ đạo, phải đề ra mục tiêu, bước đi cụ thể chỉ đạo đổi
mới KT, ĐG để thu được kết quả cuối cùng, phát động, xây dựng, củng cố
thành nền nếp chuyên môn vững chắc trong hoạt động dạy học:
- Trước hết, phải yêu cầu và tạo điều kiện cho từng GV nắm vững
chuẩn KT- KN và yêu cầu về thái độ đối với người học đã được quy định tại
chương trình môn học vì đây là căn cứ pháp lý khách quan để tiến hành KTĐG;
- Phải nâng cao nhận thức về mục tiêu, vai trò và tầm quan trọng của
KT, ĐG, sự cần thiết khách quan phải đổi mới KT, ĐG, bảo đảm khách quan,
và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích
cực”, với mục tiêu xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh và phát huy vai
trò tích cực, tinh thần hứng thú, chủ động, sáng tạo trong học tập của HS;
- Lập kế hoạch chỉ đạo đổi mới PPDH, đổi mới KT, ĐG dài hạn, trung
hạn và năm học, cụ thể hóa các trong tâm công tác cho từng năm học:
+ Xác định rõ mục tiêu cần đạt được, nội dung, đối tượng, phương pháp
tổ chức bồi dưỡng, hình thức đánh giá, kiểm định kết quả bồi dưỡng; lồng
ghép việc đánh giá kết quả bồi dưỡng với việc phân loại GV, cán bộ quản lý
cơ sở GD hằng năm theo chuẩn đã ban hành.
+ Xây dựng đội ngũ GV cốt cán vững vàng cho từng bộ môn và tập
huấn nghiệp vụ về đổi mới PPDH, đổi mới KT, ĐG cho những người làm
công tác thanh tra chuyên môn.
+ Tăng cường đầu tư xây dựng CSVC, thiết bị dạy học để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đổi mới PPDH, đổi mới KT, ĐG.
+ Giới thiệu các điển hình, tổ chức trao đổi, phổ biến và phát huy tác
dụng của các gương điển hình về đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG.
+ Tổ chức tốt việc bồi dưỡng GV:
19
Cần tổ chức sử dụng tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN của
Chương trình giáo dục phổ thông” do Bộ GDĐT ban hành, sớm chấm dứt
tình trạng GV chỉ dựa vào SGK như một căn cứ duy nhất để dạy học và KTĐG, không có điều kiện và thói quen tiếp cận nghiên cứu nắm vững chuẩn
KT-KN của chương trình môn học.
- Tăng cường khai thác CNTT trong công tác chỉ đạo và thông tin về
đổi mới PPDH, KT, ĐG:
+ Lập chuyên mục trên Website của Sở GDĐT về PPDH và KT, ĐG,
lập nguồn dữ liệu về thư viện câu hỏi và bài tập, đề kiểm tra, giáo án, kinh
nghiệm, các văn bản hướng dẫn đổi mới PPDH, KT, ĐG, các video bài giảng
dụng CNTT, khai thác Internet phục vụ việc học tập nâng cao trình độ chuyên
môn.
(iii) Hướng dẫn GV lập hồ sơ chuyên môn và khai thác hồ sơ để chủ
động liên hệ thực tế dạy học, bồi dưỡng tình cảm hứng thú học tập cho HS.
+ Tổ chức diễn đàn về đổi mới PPDH, đổi mới KT, ĐG của GV, diễn
đàn đổi mới PPHT cho HS; hỗ trợ GV về kỹ thuật ra đề tự luận, trắc nghiệm,
cách kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm sao cho phù hợp với nội dung
kiểm tra và đặc trưng của môn học.
+ Kiểm tra các tổ chuyên môn và đánh giá hoạt động sư phạm của GV:
(i) Kiểm tra công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của GV, kịp thời động
viên mọi cố gắng sáng tạo, uốn nắn các biểu hiện chủ quan tự mãn, bảo thủ và
xử lý mọi hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm;
(ii) Tiến hành đánh giá phân loại GV theo chuẩn đã ban hành một cách
khách quan, chính xác, công bằng và sử dụng làm căn cứ để thực hiện chính
sách thi đua, khen thưởng;
+ Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ HS để quản lý học tập HS ở nhà,
bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS học lực yếu kém, giảm lưu ban, bỏ học:
(i) Duy trì kỷ cương, nền nếp và kỷ luật tích cực trong nhà trường, kiên
quyết chống bạo lực trong trường học và mọi vi phạm quy định của Điều lệ
nhà trường, củng cố văn hóa học đường tạo thuận lợi để tiếp tục đổi mới
PPDH, KT, ĐG;
(ii) Tổ chức phong trào đổi mới PPHT để thúc đẩy tinh thần tích cực,
chủ động, sáng tạo và lấy ý kiến phản hồi của HS về PPDH, KT, ĐG của GV.
+ Khai thác CNTT trong công tác chỉ đạo đổi mới PPDH, KT, ĐG:
+ Lập chuyên mục trên Website của trường về PPDH và KT, ĐG, lập
nguồn dữ liệu về câu hỏi và bài tập, đề kiểm tra, giáo án, kinh nghiệm, các
văn bản hướng dẫn đổi mới PPDH, KT-ĐG, các video bài giảng minh họa…;
+ Thí điểm hình thức dạy học qua mạng LAN của trường (learning
online) để GV giỏi, chuyên gia hỗ trợ GV, HS trong giảng dạy, học tập, ôn
mới PPDH, đổi mới KT, ĐG có hiệu quả.
- Trách nhiệm của GV:
+ Mỗi GV cần xác định thái độ cầu thị, tinh thần học suốt đời, không
chủ quan thỏa mãn; tự giác tham gia các lớp bồi dưỡng, tự bồi dưỡng thường
xuyên và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ GV cốt cán chuyên môn khi được lựa
chọn; kiên trì vận dụng những điều đã học để nâng cao chất lượng dạy học;
+ Phấn đấu thực sự nắm vững nội dung chương trình, đổi mới PPDH
và KT, ĐG, rèn luyện kỹ năng, kỹ thuật dạy học (trong đó có kỹ năng ứng
dụng CNTT, khai thác internet…), tích lũy hồ sơ chuyên môn, tạo được uy tín
chuyên môn trong tập thể GV và HS, không ngừng nâng cao trình độ các lĩnh
vực hỗ trợ chuyên môn như ngoại ngữ, tin học;
+ Thực hiện đổi mới PPDH của GV phải đi đôi với hướng dẫn HS lựa
chọn PPHT hợp lý, biết tự học, tự đánh giá, tự chủ, khiêm tốn tiếp thu ý kiến
của đồng nghiệp và của HS về PPDH, KT-ĐG của mình để điều chỉnh;
+ Tham gia tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ; dự giờ của đồng nghiệp,
tiếp nhận đồng nghiệp dự giờ của mình, thẳng thắn góp ý kiến cho đồng
nghiệp và khiêm tốn tiếp thu góp ý của đồng nghiệp; tự giác tham gia hội
giảng, thao giảng, thi GV giỏi, báo cáo kinh nghiệm để chia sẻ, học hỏi kinh
nghiệm nhằm trau dồi năng lực chuyên môn.
Trong quá trình đổi mới sự nghiệp GD, việc đổi mới PPDH và KT-ĐG
là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng
22
GD toàn diện nói chung. Đây là một yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài, đòi hỏi
phải chỉ đạo chặt chẽ, liên tục và phải động viên mọi sự kiên trì nỗ lực sáng
tạo của đội ngũ GV, lôi cuốn sự hưởng ứng của đông đảo HS. Để tạo điều
kiện thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới PPDH và KT, ĐG, phải từng
bước nâng cao trình độ đội ngũ GV, đồng thời tăng cường đầu tư xây dựng
CSVC, nhất là TBDH. Các cơ quan quản lý GD phải lồng ghép chặt chẽ công
lí
- Đánh giá kết quả học tập của HS: là quá trình xác định trình độ đạt
tới những chỉ tiêu của mục đích dạy học, xác định xem khi kết thúc một giai
đoạn (một bài, một chương, một học kỳ, một năm...) của quá trình dạy học đã
hoàn thành đến một mức độ về kiến thức, về kỹ năng...
24
- Phát hiện lệch lạc: phát hiện ra những mặt đã đạt được và cha đạt được mà môn học đề ra đối với HS, qua đó tìm ra những khó khăn và trở ngại
trong quá trình học tập của HS... Xác định được những nguyên nhân lệch lạc
về phía người dạy cũng như người học để đề ra phương án giải quyết.
- Điều chỉnh qua kiểm tra: GV điều chỉnh kế hoạch dạy học (nội
dung và phương pháp sao cho thích hợp để loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ
những khó khăn trở ngại, thúc đẩy quá trình học tập của HS).
2.1. Các hình thức kiểm tra (thi)
Trong dạy học, có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để kiểm tra đánh giá sự phát triển của người học. Không một bài kiểm tra nào có thể làm
bộc lộ đầy đủ thông tin cần thiết về sự tiến bộ của học sinh, và mỗi phương
pháp kiểm tra đều có những ưu và nhược điểm riêng. Có thể phân loại các
hình thức kiểm tra (thi) như sau:
KIỂM TRA (THI)
VIẾT
QUAN SÁT
VẤN ĐÁP
Trả lời dài (trắc nghiệm tự luận)