Nghiên cứu ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở huyện tiên du, tỉnh bắc ninh - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng

vi

Danh mục hình

vii

I

MỞ ĐẦU

1

1.1

Tính cấp thiết của đề tài


4

2.1.2

Vai trò của công nghiệp hóa, của khu công nghiệp đến đời sồng người dân

5

2.1.3

Tính tất yếu phải phát triển các khu công nghiệp.

9

2.1.4

Đặc điểm hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân

2.1.5

Nội dung nghiên cứu về ảnh hưởng của các khu công nghiệp tới đời
sống hộ nông dân

2.1.6

11
15

Các yếu tố ảnh hưởng của việc phát triển các khu công nghiệp tới việc
làm và đời sống của người lao động


27

2.2.5

Những nghiên cứu liên quan đến đề tài

28

III

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

31

3.1

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

31

3.1.1

Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

31
iii


3.1.2


Phương pháp nghiên cứu

43

3.2.1

Chọn điểm đại diện nghiên cứu

43

3.2.2

Chọn hộ nghiên cứu

43

3.2.3

Phương pháp thu thập thông tin

44

3.2.4

Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

46

3.2.5


Nhóm chỉ tiêu phản ảnh về thu nhập, cơ cấu thu nhập của hộ bị thu hồi
đất sản xuất

47

IV

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

48

4.1

Thực trạng phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du

48

4.1.1

Tình hình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở 3 xã điều tra

48

4.1.2

Tình hình chung về các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tiên Du

49



4.3

Đánh giá ảnh hưởng của quá trình phát triển khu công nghiệp đến đời
sống của hộ nông dân trên địa bàn huyện Tiên Du

4.3.1

Tình hình thu hồi đất của các hộ điều tra để phát triển khu công
iv

56


nghiệp tại địa bàn nghiên cứu

56

4.3.2

Ảnh hưởng đến chất lượng lao động của các nhóm hộ điều tra

58

4.3.3

Ảnh hưởng đến lao động và việc làm các nhóm hộ điều tra

60



4.4.1

Ảnh hưởng tích cực

83

4.4.2

Ảnh hưởng tiêu cực

84

4.5

Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động trong
vùng quy hoạch khu công nghiệp trong những năm tiếp theo

86

4.5.1

Định hướng

86

4.5.2

Những giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho người lao động
trong vùng quy hoạch khu công nghiệp.



DANH MỤC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

3.1

Thống kê đất đai của huyện Tiên Du

32

3.2

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu cùa huyện Tiên Du

34

3.3

Hiện trạng dân số huyện Tiên Du giai đoạn 2005 - 2014

37

4.1

Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở 3 xã giai đoạn trước năm 2012

4.6

Cơ cấu lao động theo ngành của các hộ điều tra

64

4.7

Tình trạng việc làm trước và sau khi phát triển khu công nghiệp của
người lao động

66

4.8

Phương thức sử dụng tiền bồi thường của các hộ

68

4.9

Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn

69

4.10 Bình quân thu nhập trên hộ/năm của các nhóm hộ trước và sau khi thu
hồi đất

71



Diện tích đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất tại địa bàn điều tra

4.2

Tình trạng việc làm trước và sau khi phát triển khu công nghiệp của
người lao động

49
66

vii


I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn quá trình phát triển của kinh tế thế giới cho thấy các nước có nền
kinh tế phát triển đều trải qua quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa đất nước. Về cơ
bản có thể xem công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở
vật chất của ngành công nghiệp, của các ngành sản xuất khác và các ngành thương
mại và dịch vụ, đồng thời đó cũng là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống kết
cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và phục vụ yêu cầu nâng cao đời
sống về mọi mặt của dân cư. Công nghiệp hoá dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
công - nông nghiệp, chuyển dịch cơ bản dân số và lao động, và từ đó sẽ hình thành
các khu đô thị mới.
Quá trình công nghiệp hoá ở mỗi quốc gia là sự hình thành hệ thống cơ sở
vật chất của các ngành kinh tế quốc dân mà trước hết là các ngành công nghiệp. Kết
quả chính của quá trình này còn bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội trên phạm vi cả nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao đời
sống của nhân dân.

trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề công nghiệp hoá và tác
động ảnh hưởng của phát triển khu công nghiệp tới đời sống của người dân bị thu
hồi đất.
- Đánh giá thực trạng quá trình phát triển khu công nghiệp trên địa bàn
huyện Tiên Du và đánh giá được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của phát
triển các khu công nghiệp tới đời sống người nông dân bị thu hồi đất trong vùng
chịu ảnh hưởng.
- Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần ổn định và nâng cao mức sống
của người dân bị thu hồi đất trong vùng chịu ảnh hưởng của các khu công nghiệp.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lao động, việc làm, thu nhập, môi
trường, xã hội của các hộ gia đình trong phạm vi ảnh hưởng của các khu công
nghiệp huyện Tiên Du.
2


1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn khu công nghiệp thuộc
huyện Tiên Du gồm các xã Hoàn Sơn, Đại Đồng và Nội Duệ
* Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2013;
số liệu sơ cấp năm 2014.
* Về nội dung: Đề tài chỉ giới hạn trong nghiên cứu những ảnh hưởng về lao
động, việc làm, thu nhập, môi trường, xã hội đối với những hộ nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp trong vùng ảnh hưởng của các khu công nghiệp, từ đó đề ra một số
giải pháp cơ bản nhằm góp phần ổn định và nâng cao đời sống của các hộ nông dân
vùng chịu ảnh hưởng.


được gọi là cụm công nghiệp (Nghị định số 192/CP của Chính phủ, 1994)

4


* Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và
phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông
thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân.
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao
gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Trong các
hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông
nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp.
Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: "Nông dân là các
nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia
đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về
cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với
một trình độ hoàn chỉnh không cao" (Frank Ellis, 1993).
* Khái niệm về đời sống
Đời sống của con người được thể hiện thông qua thu nhập, điều kiện sống của
mỗi con người, đó là chất lượng sống.
Chất lượng đời sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu xã hội, trước
hết là những nhu cầu vật chất cơ bản tối thiểu của con người. Sau đó, là điều kiện
nảy sinh các nhu cầu tinh thần. Mức đáp ứng đó càng cao thì chất lượng đời sống
càng cao (Nguyễn Thị Kim Thoa, 2003).
Chất lượng cuộc sống còn thể hiện ở sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc)
hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là
quan trọng nhất đối với bản thân một con người. Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm
giác được hài lòng với những gì mà con người có được.
2.1.2 Vai trò của công nghiệp hóa, của khu công nghiệp đến đời sồng người dân

kinh tế thế giới” về đánh giá khả năng cạnh tranh quốc gia đã xếp hạng trên cơ sở
371 chỉ tiêu của 8 nhóm. Đó là:
+ Sức cạnh tranh của nền kinh tế, trên cơ sở đánh giá toàn bộ nền kinh tế vĩ mô.
+ Vai trò của Chính phủ trong việc đưa ra các chính sách tạo môi trường cho
cạnh tranh.
+ Nền tài chính quốc gia, hoạt động thị trường tài chính và chất lượng dịch
vụ tài chính.
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
+ Trình độ quản lý và khả năng thu được lợi nhuận của các doanh nghiệp.
6


+ Trình độ khoa học - công nghệ, cùng với sự thành công trong nghiên cứu
cơ bản và ứng dụng.
+ Chất lượng nguồn lực
Như vậy, khả năng cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào sức mạnh tổng
hợp của nền kinh tế bao gồm cả hoạt động kinh tế vĩ mô và vi mô: từ các chính sách
của Chính phủ đến trình độ quản lý của doanh nghiệp; từ cơ sở hạ tầng của nền kinh
tế đến khả năng huy động các yếu tố nguồn lực. Rõ ràng chỉ có công nghiệp hoá
mới có thể thúc đẩy sự phát triển tổng lực của nền kinh tế
* Vai trò của khu công nghiệp.
Chủ trương phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung được Đảng
khởi xướng từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VI Ban chấp hành Trung ương năm
1994 và được tiếp tục khẳng định tại văn kiện Đại hội XI của Đảng về chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020.
KCN, KCX ở nước ta được hình thành và phát triển từ năm 1991, khởi đầu là
KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong 24 năm phát triển, kết quả hoạt
động của các KCN đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển, tăng trưởng kinh
tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, góp phần giải quyết

- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi
của Nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và
đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu
tư. Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc
doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh)
tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa
thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong
việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN.
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút
các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô
để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân
cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi
trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của
8


cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (thành phố Hồ Chí Minh), Việt Hương
(Bình Dương) ... (Đặng Kim Sơn, 2001)
- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn
đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các
khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ,
dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư
dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí…
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành
như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động
dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa
ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN (Đặng Kim Sơn, 2001)
Quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam trong những năm qua đã thể hiện
sự đúng đắn trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Các KCN đã có những

hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp từ 25% đến 27% GDP của cả nước…
Hơn thế nữa, Đảng ta coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, còn vì
nông dân, nông thôn Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng
của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Khu vực nông nghiệp,
nông thôn hiện có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác: hơn
7 triệu ha đất canh tác; các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm
nông - lâm - hải sản (như cà-phê, gạo, hạt tiêu...). Nông nghiệp, nông thôn còn giữ
vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển cụm công
nghiệp - dịch vụ.
Bộ mặt nông thôn Việt Nam trong thời gian vừa qua đã có nhiều đổi mới, từ
chỗ bị thiếu ăn, phải nhập khẩu gạo, đến nay đã và đang xuất khẩu gạo đứng thứ hai
trên thế giới (sau Thái Lan). Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém, mà
nhiều năm nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Chẳng hạn, vốn đầu tư cho khu vực
này vẫn thấp (chiếm 10% - 15% tổng đầu tư toàn xã hội); sản phẩm nông nghiệp lại
chủ yếu thiên về số lượng, chứ chưa nâng cao về chất lượng, giá thành nông sản còn
cao, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất còn thấp; sản lượng nông sản tuy tăng
nhưng chi phí đầu vào vẫn tăng cao, trong khi giá các mặt hàng nông sản trên thị
trường quốc tế lên xuống bất thường. Trong khi đó, các chính sách và biện pháp mà
Nhà nước đã áp dụng cho phát triển nông nghiệp những năm gần đây chưa tạo bước
đột phá mạnh. Trình độ dân trí của một bộ phận nông dân (nhất là vùng sâu, vùng
10


xa) chưa được cải thiện, đời sống, xã hội nông thôn mặc dù có sự chuyển biến song
chưa mạnh và không đồng đều. Tình trạng đó dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực
thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Thêm nữa, kinh nghiệm từ các nước trên thế
giới và trong khu vực (như Singapo, Thái Lan, Trung Quốc, Thụy Điển, Tây Ban
Nha...) đều cho thấy bài học: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế đất nước (Phạm Thanh Hà, 2015)
Tóm lại, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất.
- Nhờ việc chuyển giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự
tập trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân.
- Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời
gian lao động vào sản xuất.
- Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro
cao và hiệu quả đầu tư thấp.
- Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông
nghiệp để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập. Tuy vậy, ở tất cả các xã hội nền
kinh tế nông dân phải tìm cách để tồn tại trong các điều kiện rất khó khăn do áp lực
của các chế độ hiện hành gây ra.
- Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của toàn xã
hội thông qua địa tô, thuế và sự lệch lạc về giá cả. Các tiến bộ kỹ thuật làm giảm giá
trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cả của sản
phẩm nông nghiệp. Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơn giản nếu
không có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Như vậy, sản xuất của hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản xuất
hàng hoá ở các mức độ khác nhau. Trong quá trình tiến hoá ấy hộ nông dân thay đổi
mục tiêu và cách thức kinh doanh cũng như phản ứng với thị trường. (Chu Tiến
Quang, 2001)
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp theo lý thuyết của Tchayanov có mục tiêu tối đa
hoá lợi ích. Lợi ích ở đây là sản phẩm cần để tiêu dùng trong gia đình. Người nông
dân phải lao động để sản xuất lượng sản phẩm cho đến lúc không đủ sức để sản xuất
nữa, do vậy nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coi như một lợi ích.
Nhân tố ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ là cấu trúc dân số
của gia đình.
12


Hộ nông dân tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiện sau:


xuất. Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong hộ đều có
quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như các tài sản khác của hộ. Mặt khác, do
dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên các thành viên trong hộ có ý thức
trách nhiệm cao và bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho
từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ
- Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất. Trong nông hộ, mọi
thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống. Hơn nữa,
kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành và đồng thời cũng là
người tham gia lao động sản xuất. Cho nên, tính thống nhất giữa lao động quản lý
và lao động là rất cao.
- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao. Do kinh tế hộ có quy
mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác
có quy mô sản xuất lớn hơn, do vậy mà có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện
thuận lợi và thu hẹp quy mô khi gặp điều kiện bất lợi.
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của những người
lao động. Trong khi kinh tế hộ, mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên cơ sở
cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xậy
dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất và
lợi ích của người lao động. Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi
cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế hộ.
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả. Sản xuất với
quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp. Kinh tế hộ nông dân
vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông nghiệp có quy
mô lớn. Đặc biệt kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế hợp nhất với đặc điểm sản
xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng và vật nuôi. Thực tế
phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ:
kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng lao động gia đình gắn bó với vật
nuôi và cây trồng là đơn vị sản xuất có hiệu quả (Đào Thế Tuấn, 1997).


Tuy nhiên việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động tới đời sống của các hộ
dân vì họ thiếu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống, trong đó có
nhiều hộ rơi vào tình trạng bần cùng hoá.
15


* Ảnh hưởng tới môi trường
Việc hình thành các KCN nhằm tạo điều kiện để các chủ doanh nghiệp đầu
tư mở rộng qui mô sản xuất, song thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã nhập dây
chuyền công nghệ lạc hậu hàng chục năm. Điều này, không chỉ làm giảm sức cạnh
tranh, mà còn khiến hoạt động sản xuất không ổn định, gây ô nhiễm môi trường
(Phan Tiến Ngọc, 2006)
Việc xử lý chất thải của các nhà máy trước khi thải ra môi trường đang làm
đau đầu các nhà quản lý. Theo ước tính, mỗi KCN thải khoảng từ 3.000 - 10.000 m3
nước thải/ngày đêm. Như vậy, tổng lượng nước thải công nghiệp của các KCN trên
cả nước lên khoảng 500.000 - 700.000m3/ngày đêm.
Ngay cả ở những KCN đã có trạm xử lý nước thải tập trung, thì chất lượng
thực tế của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy
định, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một số KCN tập trung các ngành công
nghiệp nhẹ như dệt may, thuộc da, ngành hoá chất… độc hại cao.
Ngoài ra, tại các KCN, ô nhiễm khí bụi và tiếng ồn là loại hình ô nhiễm khó
kiểm soát và không được quan tâm. Khí thải của các cơ sở sản xuất chứa nhiều chất
độc hại được xả trực tiếp vào môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân
quanh vùng.
Theo kết quả quan trắc, nồng độ chất SO2, CO và NO2 gần KCN hoặc trong
các KCN đang gia tăng. Nồng độ bụi tại ven các trục giao thông chính đều đã vượt
tiêu chuẩn cho phép từ 2 - 6 lần. Tại nhiều nhà máy cơ khí, luyện kim, công nghiệp
hoá chất, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến khoáng sản… trong
KCN, nồng độ bụi và khí độc hại (điển hình là khí SO2) trong không khí, vượt tiêu
chuẩn cho phép từ 2 - 5 lần.

rộng. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn ít, thiếu đồng bộ, dẫn đến chất
lượng nguồn nhân lực thấp, đang là rào cản cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, văn minh và bền vững.
Tại các khu công nghiệp, phần lớn lao động vừa mới thoát ra khỏi đồng ruộng hoặc
các trường phổ thông chưa qua đào tạo ngành nghề cơ bản. Tình trạng thiếu việc
làm trong thời vụ đang là khó khăn hiện nay ở nông thôn. Năng lực của hệ thống
chính trị cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn. Mức hưởng thụ
của người nông dân còn thấp, khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và
nông thôn ngày càng tăng. Giá cả leo thang đang là những vấn đề bức xúc, ảnh
17


hưởng lớn đến cuộc sống của người nông dân (Nguyễn Thị Hải Vân, 2014)
* Ảnh hưởng tới thu nhập hộ nông dân
Sản xuất nông nghiệp ở các địa phương vẫn theo phương thức cũ, nhỏ lẻ,
phân tán nên hiệu quả kinh tế thấp và có nguy cơ kém bền vững trước thiên tai dịch
bệnh và biến động của thị trường. Diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh do quá
trình phát triển các khu công nghiệp, từ đó làm hạn chế cơ hội để nâng cao thu nhập
từ ngành chính là trồng trọt, trong khi khả năng phát triển chăn nuôi, thủy sản và
các ngành nghề phi nông nghiệp còn hạn chế. Các sản phẩm rau quả và chăn nuôi
gia súc, gia cầm có sức cạnh tranh thấp.
Người nông dân bị thu hồi đất cho công nghiệp hóa, hay đô thị hóa cũng rơi
vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các
điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp. Phần đông nông dân có tiền (tiền đền bù do bị
thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào cho hiệu quả để sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh làm cho nó sinh sôi nảy nở. Nhiều hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt
trước "vòng xoáy" của các quy luật thị trường, nhất là ở những nơi hợp tác xã không
còn tồn tại, chính quyền cơ sở lại yếu kém, thì không biết dựa vào đâu? Bởi vậy, sự
nghiệt ngã của tình cảnh "nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu nhanh hơn" đang là tác
nhân chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo,

thu hồi đất. Tuy nhiên, hiện nay do giá cả thị trường bất động sản luôn biến động,
cùng với sự lôi kéo kích động của các phần tử xấu nên việc khiếu kiện đông người
vượt cấp kéo dài, nội dung chủ yếu là đòi nâng giá bồi thường, nâng cấp loại đất bồi
thường, giảm giá đất tái định cư, v.v. làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Sự tập trung cao của lao động tại các KCN đang khiến cho vấn đề xã hội
ngày càng trở thành áp lực lớn đối với chính quyền địa phương và người dân quanh
KCN. Đó là tình trạng thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, thiếu các công
trình phúc lợi công cộng, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng và đáng lo ngại nhất vẫn là
nảy sinh tệ nạn xã hội (Đức Nguyên, 2015)
2.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng của việc phát triển các khu công nghiệp tới việc làm và
đời sống của người lao động
* Các nhân tố phát triển kinh tế - cơ cấu kinh tế:
Quan hệ cung cầu trên thị trường hình thành nhu cầu tiêu dùng và sản xuất
của xã hội.
19


Lao động và đất đai là hai bộ phận cơ bản của sản xuất nông nghiệp, số
lượng và chất lượng của lao động có ý nghĩa to lớn đối với cơ cấu ngành trong nông
nghiệp và nông thôn.
Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng để mở rộng nâng cao giá trị của nông
sản hàng hoá, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, nó cũng là tiền đề cho chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
Khoa học công nghệ ngày nay phát triển rất mạnh và đã trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp
Cơ chế chính sách là yếu tố chủ quan của Nhà nước tác động vào nền kinh
tế, nhằm mục đích phát triển nền kinh tế đúng hướng và có hiệu quả
Các yếu tố ảnh hưởng khác như nguồn vốn, sự phát triển của các KCN, khu
đô thị, kinh nghiệm, tập quán, truyền thống dân cư ở nông thôn cũng ảnh hưởng tới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status