Phân tích nguồn lực và thu nhập của hộ nông dân trồng rừng trên địa bàn tỉnh hải dương - Pdf 41

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng biểu

vii

1

MỞ ĐẦU

1

1.1

Tính cấp thiết của đề tài


2

1.3.2

Phạm vi nghiên cứu

2

2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC VÀ THU
NHẬP HỘ NÔNG DÂN TRỒNG RỪNG

4

2.1

Lý luận chung về hộ nông dân

4

2.1.1

Các khái niệm có liên quan

4

2.1.2


Thu nhập của hộ nông dân trồng rừng

16

2.2.3

Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân trồng rừng

20

2.2.4

Nội dung phân tích nguồn lực và thu nhập của hộ nông dân trồng rừng

23

2.3

Cơ sở thực tiễn

27

2.3.1

Kinh nghiệm của một số nước và khu vực lãnh thổ trên thế giới

27

iii



3.1.1

Điều kiện tự nhiên, khí hậu

35

3.1.2

Đặc điểm kinh tế - xã hội

36

3.1.3

Khái quát hoạt động quản lý bảo vệ, sản xuất kinh doanh rừng trên địa
bàn tỉnh Hải Dương

42

3.2

Phương pháp nghiên cứu

44

3.2.1

Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu


48

4.1.2

Thực trạng hộ dân trồng rừng

48

4.1.3

Các chương trình dự án hỗ trợ phát triển kinh tế hộ trồng rừng của tỉnh

51

4.2

Phân tích nguồn lực hộ nông dân trồng rừng từ số liệu điều tra

53

4.2.1

Thông tin chung về hộ điều tra

53

4.2.2

Phân tích nguồn lực của hộ trồng rừng qua tiếp cận vốn sinh kế



69

4.4.2

Một số hạn chế của hộ nông dân trồng rừng

70

4.4.3

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

71

iv


4.5

Giải pháp về phát triển nguồn lực và nâng cao thu nhập của hộ nông
dân trồng rừng

73

4.5.1

Dự báo, phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế hộ nông dân trồng rừng

73

PHỤ LỤC

87

v


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ đầy đủ

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BQ

Bình quân

BQL

Ban quản lý

CNH - HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CP


KT-XH

Kinh tế xã hội

NN

Nông nghiệp

PNN

Phi nông nghiệp

PTNT

Phát triển nông thôn

UBND

Ủy ban Nhân dân

vi


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số thứ tự

Tên bảng

Trang


4.4

Thông tin cơ bản về chủ hộ điều tra

53

4.5

Đặc điểm về điều kiện sản xuất của các hộ điều tra năm 2014

54

4.6

Phân bố tuổi chủ hộ

55

4.7

Trình độ học vấn của chủ hộ

56

4.8

Phân bố số lần tập huấn, hướng nghiệp

57


4.14

Phân nhóm tổng thu nhập của hộ

63

4.15

Phân nhóm thu nhập bình quân đầu người của hộ điều tra

63

4.16

Diễn giải các biến trong phương trình hồi quy

65

4.17

Mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ

66

vii


1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Do vậy, vấn đề đặt ra là cần phải hiểu rõ được thực trạng về điều kiện hay các
nguồn lực phát triển sản xuất của các hộ dân như thế nào, thu nhập cũng như đời
sống của nông dân trồng rừng như thế nào? Từ đó để đưa ra được những giải pháp
nâng cao thu nhập cho người nông dân trồng rừng, củng cố được niềm tin của người
dân vào kinh tế rừng, góp phần phát triển kinh tế và quản lý rừng bền vững trên địa
bàn tỉnh. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân
tích nguồn lực và thu nhập của hộ nông dân trồng rừng trên địa bàn tỉnh Hải
Dương”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng nguồn lực và thu nhập của hộ nông dân trồng
rừng, để đề xuất được những giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trồng
rừng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực và thu nhập, hộ nông
dân và hộ nông dân trồng rừng.
- Đánh giá thực trạng nguồn lực sản xuất và thu nhập của hộ nông dân trồng
rừng trên địa bàn tỉnh. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông
dân trên địa bàn khảo sát.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
trồng rừng trên địa bàn tỉnh.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân trồng rừng, hộ nông dân tham gia trong công tác quản lý
bảo vệ rừng trên địa bàn thị xã Chí Linh và huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của
nông dân trồng rừng tại Hải Dương.

2

chung, cùng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định và là
chủ thể trong các quan hệ sản xuất, kinh doanh.
2.1.1.2. Khái niệm về sản xuất hộ gia đình
Hộ gia đình là một nhóm những người thường có quan hệ gia đình hoặc đôi
khi không có quan hệ gia đình với nhau nhưng cùng sống chung, cùng sở hữu chung
về tài sản và các tư liệu sản xuất, cùng tham gia các hoạt động kinh tế chung và
cùng hưởng thụ những thành quả sản xuất chung của họ.
- Trên ý tưởng của Marx và Tchayanov (Đỗ Kim Chung và cộng sự, 1997)
đặc trưng của sản xuất nông dân để xây dựng khái niệm “phương thức sản xuất gia

4


đình” với những khía cạnh chính sau:
+ Phân công lao động theo giới tính, dựa trên gia đình tối thiểu: một người
đàn ông và một người đàn bà.
+ Quan hệ giữa con người và công cụ được sử dụng có tính cá nhân của anh ta.
+ Sản xuất nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, nên từ đó nảy sinh giới
hạn của những năng lực sản xuất theo quy luật Tchayanov (cân bằng giữa nhu cầu
nỗ lực thêm và lợi ích của những nỗ lực đó).
+ Quyền hạn đối với đồ vật được thực hiện thông qua quyền hạn đối với con
người.
+ Sự lưu thông các sản phẩm gia đình có tính “hướng nội” và ưu thế của giá
trị sử dụng.
- Sản xuất hộ gia đình là một dạng sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ
của các thành viên trong một hộ gia đình nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của
hộ thông qua việc sử dụng vốn và các lao động không lương riêng của hộ. Các nhu
cầu tiêu dùng riêng này của hộ bao gồm nơi ở, các bữa ăn, quần áo mặc và chăm
sóc con cái…

(1990), những tháo gỡ đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế hộ gia đình
đó là giảm bớt tình trạng : i) Thiếu phương tiện, công cụ sản xuất, máy móc cơ giới;
ii) Thiếu hoặc khó tiếp cận nguồn vật tư nông nghiệp cho thâm canh; iii) Hạn chế
việc tích tụ vốn và ruộng đất canh tác; iv) Hạn chế đầu tư vốn cho nông nghiệp nói
chung và sản xuất lúa nói riêng ; v) Mập mờ trong chính sách sở hữu ruộng đất và
công cụ sản xuất; vi) Việc đầu tư vốn quá thấp cho sản xuất.
Khi nghiên cứu kinh tế hộ cũng cần đặt trong mối quan hệ với các thành
phần kinh tế khác. Ở châu Âu và các nước châu Á, kinh tế hộ là kinh tế cá thể. Ở
nước ta trong "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000, cơ cấu thành
phần kinh tế gồm: "Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh
tế tư bản Nhà nước, kinh tế gia đình không phải là một thành phần kinh tế độc lập
nhưng được khuyến khích phát triển". Đại hội VI (1986) thừa nhận cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần, nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có (trong đó có hộ
nông dân). Nghị quyết 10 (1988) đã tiến thêm một bước mới trong việc nhận thức
vấn đề xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đại hội Đảng lần IX
(2001): "...thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều

6


thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đến năm 2020
trở thành nước công nghiệp, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp
với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam...". Như vậy, chưa thực sự thừa nhận
kinh tế hộ là một thành phần kinh tế độc lập trong nền kinh tế nước ta. Nhưng vì sao
kinh tế hộ lại có tầm quan trọng lại phải nghiên cứu? Xét 3 yếu tố có tính nguyên
tắc và bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: i) Về vấn đề
sở hữu ruộng đất: là loại tư liệu sản xuất quan trọng nhất chưa được công nhận sở
hữu hoàn toàn cho hộ; ii) Về quản lý sản xuất trong kinh tế hộ: Nhà nước vẫn giữ
vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng cho hộ sản xuất, iii) Về phân phối: được

ấy, thực hiện xã hội hóa và nhất thể hóa kinh doanh. Phát triển kinh tế hộ theo con
đường khoán hộ được đi sâu đổi mới theo hướng thâm canh hóa, chuyên môn hóa,
hàng hóa cao sẽ chuyển nền nông nghiệp truyền thống lên nền nông nghiệp hiện đại
vì có những ưu điểm: i) Phát huy tính chủ động và tích cực của từng hộ nông dân,
ii) Phân công lao động chuyên sâu (sản lượng tăng lên, hàng hóa chuyên và đồng
nhất, dần dần hình thành vùng chuyên canh, sản lượng nông sản hàng hóa tăng cao,
đáp ứng nhu cầu thị hiếu và thị trường, giá cạnh tranh). Những tiến trình ảnh hưởng
đến kinh tế hộ: i) Công nghiệp hóa, tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, ii) Đô thị
hóa, iii) Cải thiện mạng lưới thông tin, giáo dục.
Như vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế hộ, ngoài khái niệm và
định nghĩa trên về kinh tế hộ còn có một số quan điểm về kinh tế hộ như sau:
- Lâm Quang Huyên (1995) cho rằng: “Kinh tế nông dân” được hiểu là một
hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và
nhằm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể mà không
dựa trên chế độ trả công theo lao động đối với mỗi thành viên của nó. Về mặt kinh
tế, do đặc điểm tự cung, tự cấp và những hạn chế của sức sản xuất gia đình (chủ yếu
là lao động cơ bắp), kinh tế nông dân về cơ bản, nhằm cân bằng khả năng lao động
và nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình mà không nhằm vào hạch toán lợi nhuận như
trường hợp của xí nghiệp tư bản. Do chỉ dựa vào sức lao động gia đình, kinh tế
nông dân bị chi phối bởi tiềm năng lao động của nó tức là bởi tỉ lệ lực lượng lao
động trong mỗi hộ gia đình trên tổng số các thành viên gia đình của nó. Kinh tế
nông dân chỉ phát triển ở thời kỳ mà số người lao động đông hơn số người không

8


lao động trong mỗi hộ gia đình. Do thống nhất đơn vị sản xuất với đơn vị tiêu dùng
là hộ gia đình, nên kinh tế nông dân phát triển theo chu kỳ biến đổi nhân khẩu của
hộ gia đình hơn là theo sự tác động của các nhân tố thuần túy kinh tế kỹ thuật. Mặt
khác, sản xuất gia đình vừa bị thúc đẩy chủ yếu bởi nhu cầu tiêu dùng trong hộ gia

lịch sử và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều chế độ xã hội. Sự bền
vững, đặc điểm và vai trò của kinh tế hộ nông dân đã được nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu.
Theo Đỗ Kim Chung (1997), kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế đặc
biệt, nó có thể thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất xã hội, sự khác
biệt với các hình thức tổ chức sản xuất khác đó là sử dụng sức lao động gia đình là
chính, chính đặc điểm này khiến cho kinh tế hộ nông dân tồn tại ngay khi khủng
hoảng kinh tế, các nhà tư sản và các doanh nghiệp có thể bị phá sản trong khi đó
kinh tế hộ nông dân vẫn tồn tại.
Hộ nông dân tiến hành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp… để phục vụ cuộc
sống và người ta gọi đó là kinh tế hộ gia đình. Kinh tế hộ gia đình là loại hình sản
xuất có hiệu quả kinh tế - xã hội tồn tại và phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn. Kinh tế hộ phát triển tạo ra sản lượng hàng hoá đa dạng, có chất lượng,
giá trị ngày càng cao, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện
đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu,
đồng thời chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ.
Từ những nghiên cứu trên có thể thống nhất kinh tế hộ nông dân được khái
quát trên các nội dung sau: Hộ gia đình nông dân là đơn vị xã hội có chung một cơ
sở kinh tế. Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động được
góp thành vốn chung, có chung một ngân quỹ. Cùng sống chung dưới một mái nhà,
ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý
kiến chung của thành viên trong gia đình và quyết định thuộc quyền của chủ hộ.
Bản chất của kinh tế hộ: Đặc trưng bao trùm của kinh tế nông hộ là các thành
viên trong nông hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản
thân gia đình mình. Mặt khác kinh tế nông hộ là nền sản xuất nhỏ, mang tính tự
cung, tự túc, hoặc có thể sản xuất hàng hoá với năng suất lao động thấp nhưng có

10



11


gia đình đều tham gia trong quá trình sản xuất: trong kinh tế hộ, trước thúc ép
của nhu cầu tiêu dùng, tất cả các thành viên đều tham gia sản xuất với mục tiêu
tạo được thu nhập. Các thành viên trong gia đình không kể tuổi tác, chỉ cần còn
sức lao động đều sẽ tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ví dụ như trong
nhóm các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như các nghề mây tre đan,
thêu tay, trạm khắc gỗ… Hơn nữa việc tổ chức sản xuất của các hộ ở đây dựa
trên các kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
- Quy mô sản xuất
Đặc điểm chính của hoạt động sản xuất hộ gia đình là có qui mô nhỏ, sự
phân công lao động giữa các thành viên chỉ ở mức tương đối và các thành viên sẽ
hỗ trợ nhau sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Hoạt động sản xuất của hộ có
thể nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn, vì vậy sự phát triển của kinh tế hộ
một phần sẽ phụ thuộc vào đầu ra của hệ thống sản xuất lớn này. Ngoài ra, qui mô
sản xuất còn phụ thuộc một phần rất lớn vào các yếu tố nội tại của hộ và các nguồn
lực hỗ trợ sản xuất như số lao động, mặt bằng, vốn...
- Phân công lao động
Sự phân công lao động chỉ mang tính chất tương đối. Do kinh tế hộ có tính
chất là không yêu cầu phải đạt được lợi nhuận tối đa hay hạch toán lãi lỗ quá chi tiết
như các doanh nghiệp mà chỉ cốt tạo thu nhập, thỏa mãn các tiêu dùng và do có
quan hệ huyết thống hoặc họ hàng nên sẽ không có sự phân công lao động theo cấp
bậc và mệnh lệnh hành chính như các doanh nghiệp. Tuy nhiên vẫn có một sự phân
công ngầm giữa lao động chính và lao động phụ, giữa thành viên nắm giữ kinh tế
(người nắm giữ các khoản chi, tiêu chính và có thể không phải chủ hộ) và các thành
viên còn lại trong hộ. Ngoài ra sự phân công lao động trong hộ gia đình còn phù
thuộc rất lớn vào sức khỏe và trình độ tay nghề của thành viên tham gia sản xuất.
- Sự đa dạng và chất lượng sản phẩm

cuối cùng tốt nhất có thể theo hạn định đã đề ra. Đặc điểm này được thể hiển rất rõ
trong sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống. Tính linh hoạt của
kinh tế hộ còn thể hiện ở việc đa dạng hóa sản xuất để tạo thu nhập. Một hộ có thể
tham gia một vài hoạt động phi nông nghiệp (tự làm) bên cạnh nông nghiệp, chưa
kể đến có thành viên của hộ vẫn tham gia hoạt động phi nông nghiệp làm thuê khác.

13


2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hộ nông dân
- Trình độ kỹ năng, tay nghề của các thành viên trong hộ
Như đã phân tích ở trên về đặc điểm sản xuất của kinh tế hộ, có thể thấy
trình độ kỹ năng tay nghề của các thành viên trong hộ đóng vai trò quyết định về
năng suất, chất lượng sản phẩm. Nếu trình độ tay nghề của hộ càng cao thì càng sản
xuất được nhiều sản phẩm trong một đơn vị thời gian. Hơn nữa trình độ sản xuất
cao, sẽ sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng tốt hơn, bán được giá cao hơn và cho
thu nhập tốt hơn.
- Các nguồn lực hỗ trợ sản xuất
Các nguồn lực sản xuất đóng hai vai trò chính trong sản xuất kinh tế hộ. Một
là giúp hộ sản xuất ổn định và mở rộng được qui mô sản xuất. Hai là góp phần nâng
cao năng suất lao động của hộ. Ví dụ trang thiết bị, máy móc phụ trợ càng tốt thì hộ
càng có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm. Các nguồn lực hỗ trợ ở đây còn phải kể đến
các nguồn lực của cộng đồng ví dụ như hệ thống hạ tầng cơ sở như: điện, nước,
đường giao thông…
- Thị trường đầu ra
Đây là một yếu tố quyết định trong mọi ngành sản xuất và cũng đúng cho
kinh tế hộ. Bản chất của kinh tế hộ là tham gia vào thị trường không hoàn hảo, nhất
là khi nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn. Vì vậy các hộ này sẽ bị tác động rất lớn
khi thị trường đầu ra có biến động dù cho là biến động nhỏ.
- Các chính sách của Nhà nước

gồm những người trong độ tuổi lao động và cả những người ngoài độ tuổi lao động
có thể tham gia lao động khi cần thiết. Lao động của gia đình không loại trừ lao
động đổi công, lao động thuê mướn hoặc đi làm thuê vào thời vụ lao động như thời
điểm làm đất, thu hoạch...
Xác định lao động gia đình của hộ nông dân cần chú ý đến trình độ lao động,
tay nghề lao động, đặc biệt là lao động tiềm năng, tức những người đang học nghề,
hoặc chưa đến tuổi lao động còn đi học...
2.2.1.2. Đất đai
Bất kỳ hộ nông dân nào cũng đều có quyền sở hữu đất đai hoặc được nhà nước
phân chia đất đai để sản xuất. Việc phân chia đất đai cho người nông dân không
theo một tiêu chuẩn thị trường nhất định, đây là thuộc tính quan trọng đối với mọi

15


nông dân. Đặc điểm này phân biệt người nông dân với người lao động không có đất
đai hoặc công nhân đô thị.
Cần thiết đối với hộ nông dân là phải hiểu rõ từng loại ruộng đất cụ thể, diện
tích, chất đất, vị trí địa lý, địa hình, điều kiện các yếu tố phục vụ như thuỷ lợi, giao
thông, thời tiết khí hậu, quản lý... Xác định rõ từng thửa đất mà hộ nông dân đang
và sẽ sử dụng là rất quan trọng trong việc bố trí sản xuất kinh doanh của hộ.
2.2.1.3. Tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh
Tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh là một trong 3 yếu tố
nguồn lực quan trọng trong sản xuất kinh doanh của nông hộ. Tuy nhiên, đối với
các hộ nông dân, việc phân biệt rõ ràng lượng tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản
xuất kinh doanh và phục vụ tiêu dùng gia đình là rất khó, đặc biệt là việc xác định
lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình do sự khó xác định công
lao động của gia đình bỏ vào sản xuất kinh doanh. Đây là một đặc điểm nữa để phân
biệt hộ nông dân với các doanh nghiệp hoặc công ty.
Cần phải xác định rõ lượng tiền vốn và trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh

- Tiết kiệm của hộ bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản xuất
và chi tiêu dùng của hộ. Thu nhập thực tế mới phản ánh đúng và có liên quan đến
đời sống của người dân. Nếu hộ dân thực hiện được hạch toán kinh tế hộ thì cần
thiết tính được thực thu hay thu nhập thực tế từ sản xuất kinh doanh bằng cách:
Tổng thu - chi phí khả biến = Tổng thu nhập ròng
Tổng thu nhập ròng - tổng chi phí bất biến = Thu nhập thực tế
Thu nhập thực tế - trả lãi tiền vay = Thực kiếm
Thực kiếm + Thu từ các hoạt động khác = Thực thu của hộ
• Thu nhập của hộ nông dân trồng rừng bao gồm:
* Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ trồng trọt (thu từ cây lương thực,
thực phẩm như lúa, ngô, khoai, sắn thu trồng cây ăn quả như vải, nhãn, hồng xiêm,
bưởi, mít; thu từ trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, sắn); thu từ chăn nuôi (trâu
bò, lợn, gà, dê,...).
* Thu nhập từ trồng rừng: bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài
gỗ (gỗ, củi, tre nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng...), thu từ các hoạt động
trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng...
* Thu nhập từ thuỷ sản bao gồm nuôi cá, ếch, ba ba, rắn...

17


* Thu nhập phi nông nghiệp bao gồm:
Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống bao gồm sản phẩm mây tre
đan, chế biến dược liệu, dệt vải...
Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái bao gồm thu từ bàn hàng, phục vụ ăn ở,
phục vụ tham quan văn hoá truyền thống bản làng, hướng dẫn du lịch...
Thu nhập phi nông nghiệp còn lại bao gồm: cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc,
chạy xe ôm...
Thu nhập khác bao gồm: lương hưu, trợ cấp...
• Vai trò của thu nhập

- Tăng thu nhập từ công nghiệp: một số ngành công nghiệp có thể phát
triển ở những vùng miền núi như khai khoáng, khai thác than, đá, nguyên liệu...
• Hướng nâng cao thu nhập có thể khái quát lại thành:
1. Nâng cao thu nhập theo hướng chuyển sang các hoạt động có giá trị cao
hơn: là quá trình người nông dân chuyển từ cây trồng và hoạt động có giá trị thấp
sang cây trồng và hoạt động có giá trị cao hơn. Ba chỉ số đo lường là tỷ lệ hộ tham
gia vào hoạt động phi trồng trọt, tỷ lệ hộ trồng cây phi lương thực và tỷ lệ diện tích
dành cho cây phi lương thực.
2. Tác động đến các yếu tố đầu vào nhằm tăng năng suất, sản lượng, chất
lượng, tăng vụ, tiếp cận thị trường tăng giá cả nông sản hàng hóa.
3. Đa dạng nguồn thu nhập: có nghĩa là số lượng nguồn thu nhập tăng lên làm
cho tổng thu nhập tăng lên.
Nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa: những năm gần đây hướng
nâng cao thu nhập này càng được quan tâm và áp dụng rộng rãi. Nâng cao thu nhập
được xem như là quá trình chuyển từ sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp các cây
lương thực chủ yếu sang sản xuất nhiều loại hàng hóa nông sản hơn và hoạt động
phi nông nghiệp. Chúng ta có thể xác định được mức đo lường nâng cao thu nhập
với ý nghĩa thương mại hóa.
+ Thứ nhất: “Thương mại hóa cây trồng” được xác định bằng tỷ trọng giá trị
cây trồng đem bán và trao đổi so với tổng giá trị cây trồng sản xuất được.
+ Thứ hai: “Thương mại hóa nông nghiệp” được xác định bằng tỷ lệ sản phẩm
nông nghiệp (gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp) đem bán và trao
đổi so với tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp sản xuất được.

19


+ Thứ ba là “Thương mại hóa thu nhập” được xác định dưới dạng tổng thu
nhập bằng tiền mặt so với tổng thu nhập của hộ.
2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân trồng rừng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status