đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện gia viễn, tỉnh ninh bình - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục các chữ viết tắt

vii

Danh mục bảng

viii

MỞ ĐẦU

1

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1. Một số vấn đề lý luận đất nông nghiệp


12

1.3.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

12

1.3.2. Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác

13

1.3.3. Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức

13

1.3.4. Nhóm yếu tố xã hội

14

1.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

15

1.4.1. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

15

1.4.2. Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

17


26

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

26

2.2. Nội dung nghiên cứu

26

2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

26

2.2.2. Tình hình sử dụng đất tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

26

2.2.3. Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp

26

2.2.4. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

27

2.3. Phương pháp nghiên cứu

27



32

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

32

3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

40

3.2. Tình hình sử dụng đất của huyện Gia Viễn

48

3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất đai

48

3.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

48

3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

52

3.3.1. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp

52

75

3.4.3. Một số giải pháp thực hiện

76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

80

TÀI LIỆU THAM KHẢO

82

PHỤ LỤC

85

vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFPPD

: Diễn đàn các nghị sỹ châu Á về dân số và phát triển

ANLT

: An ninh lương thực


: Hiệu quả đồng vốn

HQKT

: Hiệu quả kinh tế

HQXH

: Hiệu quả xã hội

HQMT

: Hiệu quả môi trường

LUT

: Loại hình sử dụng đất

TNHH

: Thu nhập hỗn hợp

WB

: Ngân hàng thế giới

vii


DANH MỤC BẢNG


3.1.

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội

40

3.2.

Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện

41

3.3.

Giá trị sản xuất ngành trồng trọt qua các năm

41

3.4.

Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi qua các năm

42

3.5.

Dân số trung bình phân theo các xã thị trấn của huyện

44


57

3.12. Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất

62

3.13. Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội các kiểu sử dụng đất

64

3.14. Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất

69

3.15. Tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng đất huyện Gia Viễn

71

viii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho
con người. Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội,
nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế
được, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Đất là cơ sở của sản xuất nông
nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp,
đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống

lâu dài cho các hộ gia đình, chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật
nuôi, các chương trình khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Tại
vùng hiện các loại hình sử dụng đất nhìn chung đã bố trí hợp lý, các mô hình
chuyển đổi từ đất trồng cây lương thực sang trồng các loại cây hàng hóa, các
mô hình đa canh trên đất úng trũng cho hiệu quả kinh tế khá cao. Trong bối
cảnh đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Gia Viễn
có ý nghĩa quan trọng nhằm tìm ra những hạn chế trong sản xuất nông nghiệp
hiện nay, làm cơ sở đề xuất các giảm pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp, tổ chức sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững.
Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Hữu
Thành tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”.
2. Mục đích nghiên cứu
(1) Đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình;
(2) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
3. Yêu cầu của đề tài
- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, đảm
bảo độ tin cậy và phản ánh đúng tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
nghiên cứu;
- Tìm ra được ưu nhược điểm, tồn tại trong sử dụng đất nông nghiệp, xác
định được biến động sử dụng đất nông nghiệp;
- Xác định được các loại hình sử dụng đất có hiệu quả làm cơ sở đề xuất.

2


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề lý luận đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm về đất đai

làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Quốc hội nước cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013).
Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao
động. Như vậy đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung
cấp dinh dưỡng nuôi cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều
kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với ý nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội. Ở nước ta với hơn
70% dân số làm nông nghiệp nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Lê
Phong Du, 2007).
1.1.2.2. Vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp
Đất đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người,
là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Đất vừa là đối tượng lao
động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Đất là đối tượng lao động bởi
lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng,
vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá
trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc
tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác
động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm (Vũ Khắc Hòa, 1996).
Đất có vị trí cố định và có chất lượng không đồng đều giữa các vùng, miền.
Mỗi vùng đất luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước,
thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội như (dân số, lao động, giao thông, thị
trường). Do vậy, muốn sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cần xác định cơ cấu cây
trồng, vật nuôi cho phù hợp trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ.
Đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nếu biết
sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất sẽ ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, thực tế
cũng cho thấy diện tích đất tự nhiên nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có hạn
và chúng không thể tự sinh sôi. Trong khi đó, áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát

4

tác là 1.223m2/người; đến năm 2012 diện tích đất nông nghiệp là 26.371.500ha;
diện tích đất canh tác có 10.210.800ha; bình quân đất canh tác 1.138,21m2/người.

5


1.1.2.3. Sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang
phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm
cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia. Trong
sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được nếu biết sử
dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày một tăng lên.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), tổng sản lượng lương thực sản
xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỷ người trên thế giới, tuy nhiên có sự phân
bổ không đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép từ nhu cầu
lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người. Vấn đề trên được đặt ra một cách
nóng hổi tại Đại hội đồng lần thứ 9 Diễn đàn các nghị sĩ châu Á về dân số và phát triển
(AFPPD) với sự tham gia của gần 100 nghị sỹ đến từ 25 nước diễn ra tại Hà Nội. Hiện
nay trên toàn cầu vẫn còn 850 triệu người thường xuyên thiếu lương thực. Sự gia tăng
dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã tạo ra áp lực lớn với việc đảm
bảo an ninh lương thực (ANLT) bởi tăng số người tiêu dùng và giảm diện tích trồng
cây lương thực. Khủng hoảng lương thực vừa qua đã tác động đến tất cả các nước dù là
giàu hay nghèo, tuy nhiên tác động nặng nề nhất vẫn là những người nghèo, bởi vì chi
phí cho lương thực chiếm một phần lớn trong chi tiêu hàng ngày của họ (Trần Thị
Mận, 2011).
1.1.3. Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi
trường. Trên thế giới có khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp bị suy thoái nghiêm
trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, ô nhiễm môi
trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất. Khoảng 40% đất nông nghiệp đã bị suy thoái

và do nhiều quá trình tự nhiên xã hội khác nhau đồng thời tác động. Những quá
trình thoái hoá đất nghiêm trọng ở Việt Nam là :
1. Xói mòn rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác không hợp lý,
chăn thả quá mức. Theo (Trần Văn Ý và Nguyễn Quang Mỹ, 1999) hơn 60% lãnh
thổ Việt Nam chịu ảnh hưởng của xói mòn tiềm năng ở mức > 50 tấn/ha/năm.
Diện tích đất ở nước ta có khoảng 33.100.000 ha, trong đó 3/4 là đất dốc, trong điều
kiện nhiệt đới ẩm, lượng mưa lớn nên dễ bị rửa trôi, xói mòn khá mạnh. Điều kiện
đất do rửa trôi bốc hơi, tích lũy sắt, nhôm dễ biến thành đá ong, quá trình này xảy ra
rất mãnh liệt ở vùng trung du, vùng cao ven đồng bằng (Tôn Thất Chiểu, 2008).

7


2. Chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, hoang mạc hoá, cát bay, đá lộ đầu, mất cân
bằng dinh dưỡng...Tỷ lệ bón phân N : P2O5 : K2O trung bình trên thế giới là 100 :
33 : 17 còn ở Việt Nam là 100 : 29 : 7, thiếu lân và kali nghiêm trọng. Việt Nam
phấn đấu đến năm 2010 đất nông nghiệp đạt 10 triệu ha, trong đó có 4,2 – 4,3 triệu
ha lúa, 2,8-3 triệu ha cây lâu năm, 0,7 triệu ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đảm
bảo cung ứng 48-55 triệu tấn lương thực (cả màu), đất lâm nghiệp đạt 18,6 triệu ha
(50% độ che phủ). Trong đó có 6 triệu ha rừng phòng hộ, 3 triệu ha rừng đặc dụng,
9,7 triệu ha rừng sản xuất, cảnh quan thiên nhiên (chủ yếu là sông, suối, núi...) còn
1,7 triệu ha. Hiện trạng tài nguyên đất trên thế giới, Việt Nam và hướng sử dụng
bền vững (Trần Thị Mận, 2011).
Đứng trước tình thế phức tạp này đòi hỏi phản ứng của toàn cầu bằng việc
gia tăng năng suất các hệ sinh thái đất đai và đặt sản xuất nông nghiệp bền vững lên
làm vấn đề ưu tiên, thông qua các chính sách hỗ trợ giảm nghèo dựa trên quan điểm
thích nghi với biến đổi khí hậu và bảo vệ đa dạng sinh học. Đồng thời khoa học và
công nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng chống lại suy thoái đất. Chẳng hạn việc
xây dựng hướng dẫn và tiêu chuẩn sử dụng sản phẩm và dịch vụ nông nghiệp thay
thế như sản xuất nhiên liệu sinh học, nhằm hướng tới sinh kế bền vững cho những

những mối quan hệ về sự phát triển lâu dài. Con người cứ quyền được hưởng một
cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên…để thực hiện phát triển
bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của Quá trình
phát triển và không thể xem xét, tách rời Quá trình đó” (Hội nghị LHQ về Môi
trường và Phát triển Rio de Janeiro, Brazil 3-4/6/1992).
Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững: “ Nhận thức rằng nhân loại
đang đứng trước bước ngoặt lịch sử, chúng tôi đã thống nhất cùng quyết tâm, nỗ lực
một cách tích cực nhu cầu về việc cần cứ một kế hoạch rõ ràng và khả thi để xóa bỏ
nghèo khó và phát triển con người…chúng tôi cũng nhận rằng xóa bỏ nghèo khó,
thay đổi các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên
phục vụ phát triển kinh tế, xã hội là những mục đích có tính bao quát và là những
yêu cầu thiết yếu để phát triển bền vững” (Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát
triển bền vững Johannesburrg, Nam Phi, 26/8- 4/9/ 2002).
(Kế hoạch thực hiện Johannesburg): Hoạt động của con người ngày càng có
nhiều tác động đến tính thống nhất của các hệ sinh Thái cung cấp các nguồn tài
nguyên căn bản, dịch vụ cho phúc lợi và các hoạt động kinh tế của con người. Quản
lý cơ sở tài nguyên thiên nhiên theo phương thức bền vững và tổng hợp là quan
trọng đối với sự phát triển bền vững. Về khía cạnh này, để đảo ngược xu thế hiện tại

9


càng sớm càng tốt về sự suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì cần thiết phải
thực hiện các chiến lược bao gồm các mục tiêu đó được thông qua ở cấp quốc gia, và
cứ thể ở cấp khu vực để bảo vệ các hệ sinh thái và đạt được sự quản lý tổng hợp về
đất đai, nước và các nguồn tài nguyên sống đồng thời tăng cường năng lực ở cấp địa
phương, quốc gia và khu vực…

1.2.1.2. Quan điểm quốc gia của Việt Nam về phát triển bền vững
- Năm 1992 Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Nguyễn

bị trưng dụng sang mục đích khác. Vì vậy sử dụng đất nông nghiệp cần quán triệt
các quan điểm như sau:
+ Một nền nông nghiệp phát triển bền vững phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí:
tốt về môi trường sinh thái, có hiệu quả kinh tế, phù hợp với nhu cầu xã hội và
truyền thống văn hoá; cho phép áp dụng công nghệ thích hợp; đem lại lợi ích và sự
phát triển chung cho toàn thể cộng đồng, trước mắt và lâu dài. Sản xuất nông nghiệp
bền vững gắn chặt với sử dụng đất nông nghiệp bền vững, hiệu quả.
+ Sử dụng đất bền vững quan hệ đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và
môi trường, hiện tại và tương lai, làm giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu,
giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng thông minh các nguồn tài nguyên bên
trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp. Sử dụng đất bền vững trong nông
nghiệp liên quan trực tiếp đến các hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng
cao thu nhập, đồng thời bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát
triển nông thôn, hiện tại và tương lai.
+ Sử dụng đất nông nghiệp với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho
công nghiệp và hướng tới xuất khẩu, trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm
ảnh hưởng xấu tới môi trường.
1.2.3. Các nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản
xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn
diện và liên tục. Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều
sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài. Thâm
canh cây trồng, vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất
nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định.

11



trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác (Nguyễn Ích Tân, 2000).

12


1.3.2. Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng,
vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình
thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu
biết về đối tượng sản xuất, thời tiết, điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo
thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng
loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật
nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng
hoá. Theo Frank. and Douglass ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của
kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối
với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm
bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử
dụng đất. Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có
thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật
đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Nguyễn Ích Tân, 2000).
1.3.3. Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức
Nhóm các yếu tố này bao gồm:
- Quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên
cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển
Công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nhân lực và thể chế luật pháp về bảo
vệ tài nguyên môi trường sẽ tạo tiền đề vững chắc cho phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi, khai thác đất một cách đầy đủ,
hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung

Sự ổn định về chính trị xã hội, sự phù hợp của chủ trương, chính sách sẽ khuyến
khích đầu tư phát triển nông nghiệp tạo điều kiện cho các chủ thể đất phát huy năng
lực, lựa chọn các hướng đầu tư có hiệu quả, đồng thời hạn chế được rủi ro trong quá
trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Bên cạnh đó, những kinh nghiệm tập quán sản xuất nông nghiệp và trình
độ dân trí của người dân cũng có tác động đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất
nông nghiệp.
Nhà nước đưa ra các chính sách về đất đai để khuyến khích nông nghiệp phát
triển thể hiện trong Hiến pháp, Luật Đất đai 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/52014 của chính phủ và các văn bản dưới luật.

14


1.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.4.1. Khái niệm hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
1.4.1.1. Khái niệm hiệu quả
Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con người
còn hạn chế người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này khi nhận
thức con người phát triển cao hơn người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và
kết quả. Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của
công việc mang lại (Trung tâm từ điển ngôn ngữ, 1992).
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới, nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là
hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao
động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số
lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc bằng số lượng sản
phẩm được sản xuất ra trong 1 đơn vị thời gian (Trung tâm từ điển ngôn ngữ, 1992).
Kết quả, mà là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của
con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn

nhân, trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng
nông sản thu được, nhất là các loại nông sản cơ bản, có ý nghĩa chiến lược (lương
thực, sản phẩm xuất khẩu, nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến…) để
bảo đảm sự ổn định về kinh tế và xã hội của đất nước.
Hiệu quả sử dụng đất đai là kết quả của một hệ thống các biện pháp tổ chức
sản xuất, khoa học – kĩ thuật, quản lí kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các
khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên; trong những hoàn cảnh thực tế nhất
định, còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân,
cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế… Cùng với các biện
pháp kĩ thuật thâm canh truyền thống, phải coi trọng việc vận dụng các tiến bộ khoa
học – kĩ thuật mới, tiến hành mạnh mẽ việc bố trí lại cơ cấu kinh tế theo hướng khắc
phục tính tự cấp tự túc về lương thực từ lâu đời, biến đổi mạnh nông nghiệp thành
một ngành kinh tế hàng hóa; chỉ trên cơ sở đó mới có điều kiện thực tế tận dụng các
tiềm năng phong phú sẵn có về đất đai và lao động của Việt Nam.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
trên thế giới (Tadon.H.L.S, 1993).

16


Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định
chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân –
những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp.
1.4.2. Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.4.2.1 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trong quá trình khai thác sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mong
muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp
nhất. Điều đó khẳng định khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước
hết phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể

tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc
(Nguyễn Đình Hợi, 1993).
Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở
nước ta đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại nhất là
những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu.
Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có
tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
* Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối quan hệ
này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ
thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C hoặc H = K/C hoặc H = (K - C)/C hoặc H = (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó:
- H: Hiệu quả
- K: Kết quả
- C: Chi phí
- 1, 0 là chi phí về thời gian
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được hiểu là sự so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi
phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu
được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần gíá trị của nguồn lực đầu
vào. Mối tương quan đó cần được xem xét cả về giá trị tuyệt đối và tương đối cũng
như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.

18


Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).



- Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân
- Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu.
Theo (Nguyễn Văn Toàn, 2002) để đánh giá chỉ tiêu hiệu quả xã hội của các
kiểu sử dụng đất nên chọn 3 hoặc 4 chỉ tiêu gồm khả năng thu hút lao động, giá trị
ngày công lao động thu được khi thực hiện kiểu sử dụng đất đã chọn, khả năng tiêu
thụ sản phẩm và mức độ chấp nhận của người dân. Các chỉ tiêu này được phân cấp
thành 3 mức độ, cao thấp và trung bình. Đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu cũng cần có
tiêu chí phù hợp.
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện qua các chỉ tiêu: Loại hình sử dụng đất
phải hạn chế đến mức tối đa tình trạng xói mòn, bảo vệ được độ màu mỡ của đất,
ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu
phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành
phần loài (Nguyễn Văn Bộ và Bùi Huy Hiền, 2001).
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo
chiều hướng khác nhau. Cây trồng được phát triển tốt khi bố trí phù hợp với đặc
tính, tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các
hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh
hưởng rất khác nhau đến môi trường. Hiệu quả môi trường được phân ra theo
nguyên nhân gây nên, gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi
trường và hiệu quả sinh học môi trường. Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá
học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học trong nông nghiệp. Đó là
việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây
trồng sinh trưởng tốt. Cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường. Hiệu
quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với
đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status