ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀNỘI
KHOA CÔNG NGHỆ
Ngô Văn Bình
Mét sè ph-¬ng ph¸p khai ph¸ d÷ liÖu
vµ øng dông trong bµi to¸n lËp thêi kho¸ biÓu
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2004
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề
tài luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của tập thể cán bộ, giảng viên khoa Kinh tế Đại học
Quốc gia Hà Nội, sự chỉ bảo sâu sắc, nhiệt tình của giảng
viên hướng dẫn - PGS, TS Vũ Hồng Tiến. Tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Kế hoạch và Đầu
tư tỉnh Bắc Ninh cùng toàn thể đồng nghiệp đã cho tôi
những số liệu cập nhật, những kiến thức thực tiễn và
những ý kiến đóng góp quý báu. Tôi xin cảm ơn gia đình
và bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi hoàn
thành luận văn này.
Do trình độ kiến thức có hạn nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô cùng toàn thể bạn bè đồng môn.
cầu về vốn đầu tư là rất lớn. Trong khi nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ chỉ đáp ứng được khoảng
50% - 60% tổng vốn đầu tư ước tính đến năm 2010, số còn lại phải huy động từ bên ngoài. Với
ưu thế nổi trội hơn so với các loại hình hoạt động kinh tế đối ngoại khác, FDI trở thành nguồn
vốn quan trọng. Những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đem lại những hiệu quả nhất
định cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, so với tiềm năng còn có thể khai thác
được từ dòng vốn này và nhu cầu về vốn đầu tư của tỉnh, thì những đóng góp bước đầu từ FDI,
còn quá nhỏ bé. Đặc biệt trong những năm gần đây, hoạt động ĐTTTNN ở Bắc Ninh có chiều
hướng chững lại và giảm sút. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI một cách gay gắt giữa các
tỉnh thành trên phạm vi cả nước, giữa các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, việc tìm
ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động ĐTTTNN ở Bắc Ninh là vô cùng cần thiết, để khai
thác triệt để mọi nguồn lực của tỉnh, đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH, phấn đấu xây dựng Bắc
Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 và là thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội,
thực hiện được “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2010 và
một số định hướng chiến lược đến năm 2020”, như đã đề ra.
2. Tình hình nghiên cứu
Do tính chất thiết yếu và vai trò đặc biệt quan trọng của vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài
đối với việc phát triển kinh tế, cho nên hoạt động ĐTTTNN đã thu hút sự quan tâm chú ý của
các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, nhiều nhà quản lý, nhà kinh doanh và các nhà
khoa học. Đã có rất nhiều hội nghị chuyên đề, hội thảo khoa học được tổ chức, nhiều đề tài
nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Ngành, một số sách, luận án, bài nghiên cứu, đăng trên các
báo, tạp chí… nghiên cứu về FDI ở Việt Nam, tiêu biểu như:
- Mai Ngọc Cường, Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, HN.
- Dương Mạnh Hải, Cơ sở khoa học và các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
của việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình thực hiện chiến lược
hướng về xuất khẩu, LATS Kinh tế, HN, 2003.
- Nguyễn Minh, Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Việt Nam, LVTS Kinh tế, HN, 2001.
- Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp , nhằm thúc đẩy việc thu hút và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn FDI trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, góp phần thúc đẩy mạnh sự nghiệp
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, nhằm phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng Chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và
nghiên cứu.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương I: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và xu hướng vận động FDI ở nước ta.
Chương II: Thực trạng đầu tư ttrực tiếp nước ngoài tại Bắc Ninh và những vấn đề đặt ra.
Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để thu hút và nâng cao hiệu quả FDI ở Bắc
Ninh.
CHƢƠNG I
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀ XU HƢỚNG VẬN ĐỘNG FDI Ở NƢỚC TA
Trong lịch sử phát triển của loài người, con người đã nhận được những quà tặng vô giá của tự
nhiên. Song quà tặng của thiên nhiên không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con
người và con người phải tiến hành sản xuất. Lao động sản xuất chính là cơ sở của sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Sản xuất chỉ có thể diễn ra liên tục và trở thành quá trình tái sản xuất
thực sự khi có đầy đủ các yếu tố như sức lao động và tư liệu sản xuất hay được gọi là vốn.
Không có vốn hoặc thiếu vốn sẽ không thể diễn ra quá trình sản xuất hoặc tác động tiêu cực
đến quá trình sản xuất. Nhưng vốn không phải là một nguồn lực vô tận, vì vậy sự kiếm tìm
và khai thác triệt để mọi nguồn vốn trở thành một vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi quốc
gia trên thế giới, đặc biệt là với các nước đang phát triển. Với điểm xuất phát thấp, tốc độ
tăng trưởng kinh tế chưa cao, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế hầu như chưa đáng kể, thì việc
thu hút và sử dụng vốn nước ngoài là sự lựa chọn thông minh để rút ngắn thời gian tích luỹ
vốn ban đầu cho các nước đang phát triển. Bên cạnh nguồn vốn trong nước mang tính quyết
[11]
Helen Hayward, Duncan Green (2000), Đồng vốn và trừng phạt, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[12]
hội.
Dương Phú Hiệp – Vũ Văn Hà (2001), Toàn cầu hoá kinh tế, Nxb Khoa học xã
[13]
Thuý Hương, Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 11 năm qua và
năm 1998, Tạp chí Thương mại, Số 2+3 tháng 2/1999.
[14]
Vũ chí Lộc (1997), Giáo trình Đầu tư nước ngoài, Nxb Giáo dục.
[15]
Nguyễn Ngọc Mai (1998), Giáo trình kinh tế đầu tư, Nxb Giáo dục.
[16]
Đường Xuân Minh (2000), Giải pháp cho Việt Nam tiến hành hội nhập đầu tư và
tham gia khu vực đầu tư ASEAN, LVTN, ĐHKTQD, Hà Nội.
[17]
Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành
trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Xã hội, Hà Nội.
[18]
Vũ Hữu Ngoạn – Khổng Doãn Hợi (1993), Mấy vấn đề về chủ nghĩa tư bản nhà
nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[19]
hiện đại hoá ở Vệt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[29]
Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh 2001, Tổng hợp các chính sách
ưu đãi, khuyến khích đầu tư các tỉnh đã ban hành.
[30]
Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Hà Nội 2000, Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội Việt
nam đến năm 2010.
[31]
Bộ Kế hoạch & Đầu tư 2000, Thông tin về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng.
[32]
Bộ Kế hoạch & Đầu tư , Trung tâm thông tin, Hà Nội 1996, Một số vấn đề mới về
FDI tại Việt Nam.
[33]
Cục Thống kê Bắc Ninh, Nxb TK 2003, Niên giám Thống kê.
[34]
Cục Thống kê Hà Bắc 1996, Niên giám Thống kê Hà Bắc 1991- 1995,.
[35]
Kinh tế và dự báo, UBND tỉnh Thái Bình 2001, Chính sách khuyến khích đầu tư
tại Thái Bình,
[36]
IX..
Ngô Văn Bình
Mét sè ph-¬ng ph¸p khai ph¸ d÷ liÖu
vµ øng dông trong bµi to¸n lËp thêi kho¸ biÓu
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2004
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề
tài luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của tập thể cán bộ, giảng viên khoa Kinh tế Đại học
Quốc gia Hà Nội, sự chỉ bảo sâu sắc, nhiệt tình của giảng
viên hướng dẫn - PGS, TS Vũ Hồng Tiến. Tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Sở Kế hoạch và Đầu
tư tỉnh Bắc Ninh cùng toàn thể đồng nghiệp đã cho tôi
những số liệu cập nhật, những kiến thức thực tiễn và
những ý kiến đóng góp quý báu. Tôi xin cảm ơn gia đình
và bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi hoàn
thành luận văn này.
Do trình độ kiến thức có hạn nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô cùng toàn thể bạn bè đồng môn.
Tác giả
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
vốn quan trọng. Những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đem lại những hiệu quả nhất
định cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, so với tiềm năng còn có thể khai thác
được từ dòng vốn này và nhu cầu về vốn đầu tư của tỉnh, thì những đóng góp bước đầu từ FDI,
còn quá nhỏ bé. Đặc biệt trong những năm gần đây, hoạt động ĐTTTNN ở Bắc Ninh có chiều
hướng chững lại và giảm sút. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI một cách gay gắt giữa các
tỉnh thành trên phạm vi cả nước, giữa các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, việc tìm
ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động ĐTTTNN ở Bắc Ninh là vô cùng cần thiết, để khai
thác triệt để mọi nguồn lực của tỉnh, đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH, phấn đấu xây dựng Bắc
Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015 và là thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội,
thực hiện được “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2010 và
một số định hướng chiến lược đến năm 2020”, như đã đề ra.
2. Tình hình nghiên cứu
Do tính chất thiết yếu và vai trò đặc biệt quan trọng của vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài
đối với việc phát triển kinh tế, cho nên hoạt động ĐTTTNN đã thu hút sự quan tâm chú ý của
các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, nhiều nhà quản lý, nhà kinh doanh và các nhà
khoa học. Đã có rất nhiều hội nghị chuyên đề, hội thảo khoa học được tổ chức, nhiều đề tài
nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Ngành, một số sách, luận án, bài nghiên cứu, đăng trên các
báo, tạp chí… nghiên cứu về FDI ở Việt Nam, tiêu biểu như:
- Mai Ngọc Cường, Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, HN.
- Dương Mạnh Hải, Cơ sở khoa học và các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
của việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình thực hiện chiến lược
hướng về xuất khẩu, LATS Kinh tế, HN, 2003.
- Nguyễn Minh, Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Việt Nam, LVTS Kinh tế, HN, 2001.
- Nguyễn Huy Thám, Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các nước ASEAN và
vận dụng vào Việt Nam, LATS Kinh tế, HN, 1996.
- Vũ Trường Sơn, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, NXB
hội ở Việt Nam.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và
nghiên cứu.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương I: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và xu hướng vận động FDI ở nước ta.
Chương II: Thực trạng đầu tư ttrực tiếp nước ngoài tại Bắc Ninh và những vấn đề đặt ra.
Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu để thu hút và nâng cao hiệu quả FDI ở Bắc
Ninh.
CHƢƠNG I
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀ XU HƢỚNG VẬN ĐỘNG FDI Ở NƢỚC TA
Trong lịch sử phát triển của loài người, con người đã nhận được những quà tặng vô giá của tự
nhiên. Song quà tặng của thiên nhiên không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con
người và con người phải tiến hành sản xuất. Lao động sản xuất chính là cơ sở của sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Sản xuất chỉ có thể diễn ra liên tục và trở thành quá trình tái sản xuất
thực sự khi có đầy đủ các yếu tố như sức lao động và tư liệu sản xuất hay được gọi là vốn.
Không có vốn hoặc thiếu vốn sẽ không thể diễn ra quá trình sản xuất hoặc tác động tiêu cực
đến quá trình sản xuất. Nhưng vốn không phải là một nguồn lực vô tận, vì vậy sự kiếm tìm
và khai thác triệt để mọi nguồn vốn trở thành một vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi quốc
gia trên thế giới, đặc biệt là với các nước đang phát triển. Với điểm xuất phát thấp, tốc độ
tăng trưởng kinh tế chưa cao, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế hầu như chưa đáng kể, thì việc
thu hút và sử dụng vốn nước ngoài là sự lựa chọn thông minh để rút ngắn thời gian tích luỹ
vốn ban đầu cho các nước đang phát triển. Bên cạnh nguồn vốn trong nước mang tính quyết
định thì vốn nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó phải kể đến hình thức đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
1.1. ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ
[12]
hội.
Dương Phú Hiệp – Vũ Văn Hà (2001), Toàn cầu hoá kinh tế, Nxb Khoa học xã
[13]
Thuý Hương, Tổng quan đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 11 năm qua và
năm 1998, Tạp chí Thương mại, Số 2+3 tháng 2/1999.
[14]
Vũ chí Lộc (1997), Giáo trình Đầu tư nước ngoài, Nxb Giáo dục.
[15]
Nguyễn Ngọc Mai (1998), Giáo trình kinh tế đầu tư, Nxb Giáo dục.
[16]
Đường Xuân Minh (2000), Giải pháp cho Việt Nam tiến hành hội nhập đầu tư và
tham gia khu vực đầu tư ASEAN, LVTN, ĐHKTQD, Hà Nội.
[17]
Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành
trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Xã hội, Hà Nội.
[18]
Vũ Hữu Ngoạn – Khổng Doãn Hợi (1993), Mấy vấn đề về chủ nghĩa tư bản nhà
nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[19]
Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
ưu đãi, khuyến khích đầu tư các tỉnh đã ban hành.
[30]
Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Hà Nội 2000, Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội Việt
nam đến năm 2010.
[31]
Bộ Kế hoạch & Đầu tư 2000, Thông tin về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng.
[32]
Bộ Kế hoạch & Đầu tư , Trung tâm thông tin, Hà Nội 1996, Một số vấn đề mới về
FDI tại Việt Nam.
[33]
Cục Thống kê Bắc Ninh, Nxb TK 2003, Niên giám Thống kê.
[34]
Cục Thống kê Hà Bắc 1996, Niên giám Thống kê Hà Bắc 1991- 1995,.
[35]
Kinh tế và dự báo, UBND tỉnh Thái Bình 2001, Chính sách khuyến khích đầu tư
tại Thái Bình,
[36]
IX..
Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2001, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
[37]