Vì sao chuồn chuồn chấm chót đuôi lên mặt nước?
Chuồn chuồn thường hay chấm nhẹ chót đuôi lên mặt nước hồ, ao, rạch nước, có người
cho đó là chuồn chuồn uống nước. Cần biết rằng ở chỗ đầu nhọn của đuôi chuồn chuồn
không có vòi hút thì làm thề nào chúng uống nước được. Nguyên do là chuồn chuồn vừa
bay vừa dùng đầu nhọn ở đuôi phóng trứng của chúng vào trong nước. Đó là cách đẻ trứng
hết sức điển hình ở chuồn chuồn, người ta thường gọi đó là cách “chạm nước đẻ trứng”.
Nói chung chuồn chuồn liên tục chạm nước đẻ trứng, nhưng cũng có loại chuồn chuồn vừa
di động vừa dừng từng chỗ để đẻ trứng, lại có chuồn chuồn cả con đực và con cái đều đồng
thời chạm nước đẻ trứng. Mặt ngoài của trứng chuồn chuồn có một lớp màng dính, khi
trứng chìm vào nước, trứng sẽ bám vào mặt đất hay cây cỏ?
Ngoài ra còn có loại chuồn chuồn vừa bay vừa đẻ trứng. Lúc này chuồn chuồn giống như
chiếc máy bay lên thẳng dừng lại một chỗ trong không trung và đẻ trứng. Cũng có loại đậu
trên đất đẻ trứng vào đất bùn hoặc đẻ trứng vào các bộ phận của cỏ cây. Có loại chuồn
chuồn chui hẳn vào nước để đẻ trứng lên cây cỏ trong nước. Loại chuồn chuồn có thể chui
vào nước sâu đến 1 m ở lâu trong nước đến 49 phút.
Vì sao mỗi tổ ong chỉ có một ong chúa?
Khi mùa đông lạnh lẽo đã qua, mùa xuân đã đến, ong chúa của các loài ong vò vẽ, ong
vằn… tự mình xây một tổ con rồi ở trong đó đẻ trứng, nuôi một số ong con. Tại giai đoạn
này, không kể là việc làm tổ hoặc nuôi dưỡng thế hệ sau, mọi việc đều do một mình ong
chúa hoàn thành.
Cho dù các con ong mà ong chúa sinh ra và nuôi dưỡng có cả ong cái, nhưng ong chúa đã
tiết ra một chất đặc biệt để nhằm chế ngự sự phát dục, về giống cái của các con ong này, để
biến chúng thành ong thợ. Sau khi đời ong non thứ nhất đã trưởng thành, chúng có thể tiếp
nhận được công việc mở rộng tổ, chăm sóc ong non, ong chúa lại chuyển sang giai đoạn đẻ
trứng. Lâu dần tổ ong ngày càng lớn, ong thợ ngày càng nhiều.
Nên nói rằng tổ ong chỉ có một ong chúa vì cả bầy ong là đời sau của ong chúa. Nhưng
cũng có một số loài ong, trong tổ đồng thời tồn tại vài ong chúa. Các ong chúa là một
nhóm “nữ vương”, tạo thành một đại “gia đình” trong một tổ ong. Nhưng gia tộc loài ong
không cho phép có sự nhầm lẫn, nên ong chúa có tiết ra một chất đặc biệt để phân biệt với
dòng họ khác, còn chất đặc biệt đó là gì thì cho đến nay người ta vẫn chưa khám phá phát
hiện được.
bật. Ong mật và bướm có thể ngửi thấy mùi thơm của các loại hoa quả, lẽ nào lại nói là
chúng cũng có “mũi”?
Rõ ràng là côn trùng có “mũi”. Nếu bạn bắt các loại côn trùng rồi quan sát tỉ mỉ một chút,
bạn sẽ phát hiện ra trên đầu của chúng đều có hai chiếc râu. Nhưng râu của mỗi loại côn
trùng lại khác nhau: Có loại râu nhỏ và dài, có loại râu lại có rất nhiều nhánh trông như hai
chiếc bàn chải; Có loại râu lại rất ngắn, bên dưới nhọn, bên trên bành to ra, hai chiếc râu
như hai chiếc chuỳ ngắn. Ngoài ra, ở phía dưới miệng của côn trùng còn có 4 chiếc râu bé
và ngắn. Đừng thấy hình dạng của xúc tua và râu khác hoàn toàn với mũi của động vật bậc
cao mà coi thường chúng, chúng cũng có tác dụng ngửi mùi vị như chiếc mũi. Bởi vì bề
mặt của xúc tua và những chiếc rây có rất nhiều lỗ nhỏ, bên trong các lỗ nhỏ có chứa các tế
bào có thể cảm nhận được mùi vị. Khi côn trùng gặp phải không khí có mang theo mùi vị,
nó sẽ phân biệt được mùi vị nhờ vào cấu tạo đặc biệt này.
“Chiếc mũi” đặc biệt này vô cùng quan trọng đối với nhiều loại côn trùng. Ngoài ong mật
và bướm ra, còn có rất nhiều côn trùng đều lợi dụng xúc giác để tìm kiếm thức ăn hay tìm
đối tượng giao phối nhằm phát triển đời sau. Loài kiến mà mọi người quen thuộc có thể
dựa vào khứu giác để phân biệt bạn của mình. Nếu đặt vài con kiến ở tổ này vào trong một
tổ kiến khác, do mùi vị của hai bên khác nhau nên những chú kiến ngoại lai này sẽ bị cắn
chết ngay. Do có cơ quan khứu giác nên côn trùng cũng có thể né tránh các mùi vị mà nó
không thích.
Dựa vào đặc tính côn trùng có thể ngửi thấy mùi vị, con người chế tạo ra rất nhiều dược
phẩm có mùi thơm. Trong đó có một số dược phẩm có thể dụ dỗ côn trùng đến sau đó sẽ
bắt và giết chúng; Một số khác có thể xua đuổi côn trùng, bảo vệ cho con người và vật khỏi
bị chúng gây hại, ví dụ như hương đuổi muỗi…
Không chỉ có thể ngửi được mùi vị, côn trùng còn có thể phân biệt âm thanh. Bởi vì trên cơ
thể chúng có một số bộ phận có tác dụng giống như chiếc tai vậy. “Tai” của côn trùng rất
kỳ lạ, hơn nữa chúng lại có vị trí khác nhau. Tai châu chấu mọc ở hai bên trái phải đốt thứ
nhất dưới bụng, mỗi bên một chiếc, mặt ngoài có vết nứt giống như hình nửa Mặt trăng, có
thể nhìn thấy rất dễ. “Tai” kiến mọc trên hai chiếc râu ở phần đầu, trong đốt thứ hai của
mỗi chiếc râu đều có cơ quan tiếp thu âm thanh. Tai của loài rết lại mọc ở đốt thứ hai của
cặp chi trước. Còn tai của con thiêu thân vừa mọc ở phần ngực vừa mọc ở phần bụng.
bạn sẽ chẳng ngửi thấy mùi gì cả trừ phi gí sát mũi vào bông hoa. Ngược lại, nếu không
khí có độ ẩm càng cao, những lỗ trao đổi khí trên cánh hoa tự động mở to để tinh dầu thơm
thoát ra ngoài. Ban đêm, không còn ánh Mặt trời, độ ẩm không khí tăng cao hơn ban ngày
nhờ vậy hoa huệ bắt đầu mở các túi thơm của mình. Đêm càng về khuya, mùi hoa càng
đậm.
Những hôm trời mưa, độ ẩm không khí cũng cao hơn lúc bình thường, khi đó hoa cũng rất
thơm. Có lẽ vì đa phần chúng ta cảm nhận được mùi thơm của nó về đêm và lúc trời mưa,
nên còn gọi nó là dạ lai hương hoặc vũ lai hương.
Vì sao la không đẻ con?
Thông thường, khi cho mẹ ngựa giao phối với bố lừa, đẻ ra la. Nếu đem mẹ lừa giao phối
với bố ngựa, con lai thu được gọi là “lừa la”, là một loại tuấn mã. Hầu như tất cả chúng
đều không có khả năng sinh sản. Nhưng hãn hữu, vẫn có trường hợp la mẹ tạo ra thế hệ
sau. Còn la bố thì không.
Động vật cấp cao đều do trứng thụ tinh phát triển mà có thế hệ con. Tế bào trứng sinh ra từ
buồng trứng của động vật giống cái, tinh trùng được sản sinh ra từ tinh hoàn của động vật
giống đực. Còn la, bất kể là đực hay cái, đều có hệ sinh dục phát triển không hoàn chỉnh, vì
thế chức năng sinh lý có thể chưa bình thường. Cơ quan sinh dục của những con la đực
không thể sản sinh ra loại hoóc môn động dục, đồng thời không thể sản sinh ra tinh trùng
thành thục, vì thế không thể thụ tinh. Đó là lý do la chỉ có một đời.
Song cũng có một vài trường hợp hiếm hoi la mẹ đẻ. Hơn 1.000 năm trước, trong sách
nông học cổ đại “Tề dân yếu thuật” của Trung Quốc đã có một vài ghi chép về trường hợp
này. Năm 1953 ở thôn Đông Tĩnh, Cam Túc, một con la mẹ giao phối với một con lừa đực
đẻ được một con lừa con. Năm 1954 ở tổng Giao - Đạo, huyện Hương Lương, tỉnh Hà Bắc
(Trung Quốc), một con la mẹ giao phối với một con ngựa đực, đẻ ra một con la cái.
Sự việc này tuy hiếm gặp, nhưng là để nói rằng một số ít la mẹ vẫn có thể sản sinh ra các tế
bào trứng thành thục có khả năng thụ tinh. Điều đáng nói là đến giờ vẫn chưa thấy la đực
sản sinh ra tinh trùng thành thục.
Tại sao mũi chó thường xuyên ướt?
Chó có khứu giác rất nhạy cảm. Cấu tạo mũi chó phức tạp hơn nhiều so với mũi những loài
động vật khác. Bộ phận để phân biệt các mùi vị của nó cũng đặc biệt lớn.
Cá ngủ thế nào?
Giống như các loài động vật khác, cá cũng cần phải ngủ, nhưng lại không hề nhắm mắt, đa
số chúng chỉ chợp mắt chốc lát mà thôi. Chính vì vậy chúng ta có cảm giác rằng cá không
bao giờ ngủ.
Ở Địa Trung Hải có nhiều loài cá vùi mình trong cát khi ngủ. Đáng nể nhất là loài cá vẹt,
ban đêm tiết chất nhầy thành cái “túi ngủ” để che mắt kẻ thù. Nó phải mất 30 phút để tạo
ra cái “túi ngủ” này và ngần ấy thời gian để ra khỏi “giường”.
Các loài cá trích, cá bạc má hay cá chảy ngủ thường thành từng đàn có lính canh dưới đáy
biển. Nhiều loài ngủ trong đám rong rêu phía trên mặt nước, số khác lại nằm im trên cát
nhờ tài hoá trang lẫn vào môi trường xung quanh như cá đuối. Còn loài cá sòng ngủ giữa
những hòn cuội nhỏ.
Bí mật sự hồi sinh của ve sầu
Người Trung Quốc cổ cho rằng ve sầu là con vật biểu tượng của sự hồi sinh do chu kỳ
sống có một không hai của chúng: nằm lặng lẽ dưới mặt đất trong nhiều năm liền, sau đó
trồi lên khỏi mặt đất đi tìm bạn đời giao phối, đẻ trứng rồi… chết! Ngày nay, người ta vẫn
tự hỏi về khả năng kỳ lạ của ve sầu khi chúng luôn xuất hiện trong thiên nhiên vào một
thời điểm chính xác trong năm.
Người ta đào những con nhộng thuộc loài ve sầu Magicicada đã… thọ dưới mặt đất 15
năm. Loài ve sầu này thường chỉ ngoi lên khỏi mặt đất sau 17 năm “tu luyện”. Khi đưa
những con nhộng ve sầu vào một căn phòng được điều khiển khí hậu nhân tạo. Tại đây
những con nhộng được gắn vào bộ rễ của những cây đào (peach) đã được “điều chỉnh” để
có thể ra hoa hai lần mỗi năm. Kết quả những con ve sầu thoát kiếp nhộng sớm hơn một
năm. Loài côn trùng này đã “đếm” thời gian bằng cách theo dõi những tin hiệu sinh lý của
cây.
Cứ vào mùa xuân, khi nhiều loại cây bắt đầu ra hoa, những giọt mật và protein từ hoa sẽ
chảy ra, rơi xuống và thấm vào bộ rễ của cây. Ve sầu ở trong lòng đất hút lấy thức ăn từ rễ
cây và đó chính là lúc chiếc đồng hồ sinh học của loài côn trùng này được “kích hoạt”. Lúc
này ve sầu sẽ hồi sinh, bò lên khỏi lòng đất và bắt đầu một chu kỳ sống mới…
Vì sao chim chấp nhận trứng cúc cu gửi nhờ?
Một số loài chim thà để lại những quả trứng mà cúc cu đẻ nhờ vào tổ của chúng, còn hơn
cực mặc “áo giáp băng”. Do diện tích đất liền hẹp, mặt biển rộng, nên nơi đây có thể coi là
khu vực phồn thịnh nhất trong các thuỷ vực, với nguồn thức ăn phong phú, trở thành vùng
đất tốt cho cánh cụt trú ngụ.
Sau nữa, do kết quả tôi luyện trong gió và bão tuyết qua hàng ngàn vạn năm, lông trên toàn
thân của cánh cụt đã biến thành lớp lớp dạng vảy gắn chặt. Với loại “chăn lông” đặc biệt
này, nước biển không những khó thẩm thấu, mà dù cho nhiệt độ có xuống tới – 100 độ C,
chim cũng không hề hấn gì. Đồng thời, lớp mỡ dưới da của nó rất dày, nên càng đảm bảo
giữ nhiệt cho cơ thể.
Thêm nữa, châu Nam cực không có thú ăn thịt, thế là cánh cụt đã có được một mảnh đất
khá an toàn. Chẳng thế mà khi các nhà nghiên cứu đặt chân lên mảnh đất tận cùng của thế
giới này, chim cánh cụt không những không bỏ chạy, mà còn đón tiếp họ với thái độ rất
thân mật (và tò mò).
Từ khi nào và vì sao cây mọc lá?
Các nghiên cứu về hoá thạch đã chỉ ra rằng cây cối từ đầu kỷ Devon trở về trước (cách đây
khoảng 360 triệu năm) không được sum suê lá như bây giờ. Đa số thực vật đều trơ trụi
trong một khoảng thời gian kéo dài đến 40 triệu năm.
Tại sao cây cối lại có lá và tại sao quá trình “triển khai” lá này lại kéo dài đến như thế? Câu
trả lời từ rất lâu đã là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận khoa học. Mới đây, các nhà nghiên
cứu thuộc hai trường đại học ở Anh đã đưa ra một giả thuyết, theo đó, lá chỉ được hình
thành khi có sự thay đổi mạnh mẽ về lượng CO2 trong khí quyển.
CO2 là khí mà cây cối sử dụng để quang hợp. Vào đầu kỷ Devon, Trái đất có quá nhiều
khí này, nhiều đến mức cây chẳng cần hoặc chỉ cần rất ít lỗ khí (nơi chúng hút CO2 vào và
nhả oxy ra). Vì thế, hầu hết cây cối đều không có lá. Cá biệt, một số thực vật mọc những
bộ phận giống như gai vậy.
Không có lỗ khí, nên nếu cây có lá, nhất là lá rộng, chúng sẽ phải chịu nhiệt độ rất cao của
môi trường thời đó.
Nhưng rồi sau đó, lượng nồng độ của khí CO2 trong bầu khí quyển của Trái đất bắt đầu
giảm dần theo thời gian, cuối cùng chỉ còn lại khoảng 10% so với lượng ban đầu. Do vậy,
cây cối buộc phải tiến hoá sao cho có nhiều lỗ khí hơn để hút đủ CO2, để giữ mát thân. Sự
hình thành lá ở thực vật là một cách thức để thích nghi với môi trường. Nhờ có những
nước theo cách: lấy nước vào lỗ máng qua khe hở bên và cái phễu đặc biệt ở đằng trước
thân, sau đó chúng dùng sức tống tia nước qua cái phễu đó. Như thế, theo định luật phản
tác dụng, chúng nhận được một sức đẩy ngược lại đủ để thân chúng bơi khá nhanh về phía
trước. Ngoài ra con mực còn có thể xoay ống phễu về một bên hoặc về đằng sau và khi ép
mình để đẩy nước ra khỏi phễu thì nó có thể chuyển động theo bất kỳ hướng nào cũng
được.
Chuyển động của con sứa cũng tương tự như thế: nó co các cơ lại để đẩy nước từ dưới cái
thân hình chuông của nó ra và như thế nó bị đẩy về phía ngược lại. Chuyển động của bọ
nước, của các ấu trùng chuồn chuồn và nhiều loại động vật dưới nước khác cũng theo
phương pháp tương tự.
Vì sao cua đi ngang?
Hãy úp sấp bàn tay của bạn xuống mặt bàn và tưởng tượng rằng đó là một nửa con cua. Mu
bàn tay là mai cua, các ngón tay của bạn là chân cua. Di chuyển tay về phía trước. Bây giờ
hẳn bạn đã hình dung ra cách cua đi ngang.
Loài cua được bọc trong một bộ xương ngoài có tác dụng bảo vệ chúng trước kẻ thù. Tuy
nhiên, cái giá phải trả là các chân trên của chúng bị hạn chế cử động. Càng tiến hoá nhiều,
xương ngoài của cua càng có tác dụng bảo vệ hơn và chân cử động càng ít hơn. Trông thì
buồn cười thật, nhưng có thế cua mới sống được.
Cụ thể, chân cua gắn vào mình nó, cũng giống như ở con người chúng ta vậy. Song thật
không may cho anh chàng “8 cẳng 2 càng” này là trong khi tay người có rất nhiều khớp
(vai, khuỷu tay, cổ tay và ngón tay) cho phép chúng ta cử động được thoải mái thì cua lại
có rất ít khớp. Và các khớp chân ấy cũng không được linh hoạt lắm. Chúng chỉ hơi gập lại
theo hướng trước – sau.
Để dễ hiểu, bạn cứ hình dung như thế này: Chân cua cũng tương tự như ngón tay người,
chỉ có thể di chuyển dọc mà rất hạn chế theo chiều ngang. Như vậy, cua đi ngang là do nó
đã chấp nhận hy sinh sự linh hoạt của chân, đổi lại được bảo vệ khỏi kẻ thù.
Vì sao thiên nga trong vườn thú không bay mất?
Trong sở thú, mặt nước hồ trong suốt như gương, từng đôi thiên nga trắng tự do bơi một
cách an nhàn nhởn nhơ, đôi lúc lại vươn dài cổ cao giọng hót, hoặc vẫy cánh, bước lên bờ
để tỉa tót dung nhan. Tại sao chúng không bay đi nhỉ?
giữ mình của các loài thực vật và đấy cũng là một trong những đặc điểm của tạo hoá.
Có một số lá xanh lại biến thành màu đỏ sau khi trời lạnh dần. Người Bắc Kinh (Trung
Quốc) chỉ chờ những ngày thu tới để đến Hương Sơn ngắm lá đỏ, toàn bộ một vùng núi
non trải một màu vàng đỏ rực rỡ.
Tại sao chim bay được?
Con người chúng ta luôn luôn mơ ước được bay trong không trung. Trong nhiều thế kỷ
qua, nhiều phát minh đã phối hợp chế tạo ra những máy móc mô phỏng theo sự quan sát
của con người về các loài chim. Nhưng tất cả các cỗ máy này đều thất bại vì không có
được các cánh như chim để rời khỏi mặt đất. Thân chim hoàn toàn phù hợp với khả năng
bay được của nó, xương chim lại nhẹ nhàng còn đầu chim có một cấu tạo khoang chứa đầy
không khí tạo cho chim giảm được trọng lượng. Sự hô hấp nhanh đảm bảo cung cấp một
lượng ôxy cho những cơ bắp ở lồng ngực chim tác động đến hoạt động của đôi cánh, có
được như vậy thì chúng mới có thể cung cấp được nhiều năng lượng hơn. Nếu các cơ bắp
và các lá phổi của chúng ta cũng hoạt động như vậy thì chúng ta sẽ mạnh lên hàng chục
lần.
Những lông cánh sơ đẳng: - Đó là những chiếc lông lớn ở đầu cánh chim, ở chim bồ câu là
những chiếc lông dài nhất, chúng bảo đảm tạo ra được sức đẩy và hướng bay cho chim.
Những chiếc lông cánh thứ yếu: - Phần sau cánh chim tạo nên bởi những chiếc lông này.
Những lông cánh thứ yếu lại được bao phủ bởi những lông mình.
Những chiếc lông làm bánh lái: - Chim sử dụng lông dưới để điều khiển đường bay của
chúng cũng như để hãm lại. Khi một con chim bồ câu bay qua bay ngang qua một vùng
nhiều cây cối nó sẽ xoè lông đuôi ra để bay ngoằn nghèo giữa những cây cối đó. Trên vùng
cây thưa, chúng sẽ gập những chiếc lông đuôi lại.
Lông chim và xương chim: Nói cho đúng, mỗi chiếc lông chim là một chiếc ống trung tâm
với hàng trăm những sợi tơ. Những sợi tơ này liên kết lại với nhau trên các lông cánh nhờ
những chiếc móc tạo nên một mặt nhẵn. Trên mình chim là lông chim và những sợi tơ rời
móc lại với nhau trông bù xù có tác dụng chống rét cho chim.
Những loài chim bay xa nhất cũng là những con có trọng lượng của cơ thể nhẹ nhất.
Xương của cánh một con chim rất nhẹ nên cũng giảm được trọng lượng cơ thể. Những
xương này lại được tăng cường bởi một mạng xương ngang khiến cho độ cứng chắc của
mèo. Việc “loại bỏ” tới 247 gặp gene cơ sở trong gene có chức năng mã hoá protein T1P2 -
một trong hai cơ sở protein tạo thành cơ quan cảm nhận vị ngọt ở động vật có vú – đã
khiến loài mèo không thể nhận ra các chất có vị ngọt như đường và carbohydrates.
Điều đó giải thích sự thờ ơ mà mèo, sư tử, hổ, báo và báo đốm Mỹ đối với đồ ngọt. Và
phát hiện này cũng giải thích tại sao loài mèo để hết tâm trí vào việc đi săn, Joseph Brand,
Giáo sư khoa lý sinh tại Monell Chemical Senses Center, Philadelphia, US, một trong
những tác giả của nghiên cứu cho biết.
Nhìn vào sơ đồ gia hệ của loài mèo cũng có thể cung cấp những manh mối. Brand cũng đã
phát hiện gene đột biến ở loài báo gêpa, hổ và một người bà con họ xa với mèo – linh cẩu.
Do đó, mặc dù rõ ràng tổ tiên của loài thú họ mèo và linh cẩu sở hữu gene lỗi, Brand
không biết tại nhánh nào trong cây tiến hoá của loài thú họ mèo, gene khiếm khuyết này
xuất hiện.
“Mất cơ quan cảm nhận đồ ngọt lại khiến cho các động vật thuộc họ mèo có một khả năng
tìm mồi mà các động vật khác không có - hầu hết các động vật khác, khi đi săn phải đi theo
đàn, nhưng loài mèo hoang có khả năng săn mồi một mình” – Brand nói với New Scientist.
Mồm không phải là nơi duy nhất để loài mèo nếm các vị, chúng còn có khả năng mếm mùi
vị qua bộ máy tiêu hoá và tuyến tuỵ, nhưng tại hai bộ phận này, cơ quan cảm nhận vị ngọt
cũng bị khiếm khuyết.
Nhưng bù lại việc không cảm nhận được vị ngọt, loài mèo lại có rất nhiều cơ quan cảm
nhận axit amin phức tạp. Chúng có những cơn quan cảm nhận mùi vị tinh vi bởi những
kích thích vị giác mà chúng ta không biết được – Brand cho biết
Vì sao khi kéo cá mắc câu lên bụng nó lại lật ngửa?
Khi chúng ta lặn xuống biển hoặc hồ nước, nếu lặn hơi sâu thì tai cảm thấy đau nhức hoặc
ù tai. Đó là do chúng ta quen sống trong không khí có áp suất bằng 1 apmôtphe. Sau khi
lặn xuống nước, ta phải chịu đựng một áp suất lớn hơn, đó là áp lực của nước nên ta cảm
thấy rất khó chịu. Khi chúng ta lặn xuống biển ở độ sâu 10 m thì sẽ chịu một áp suất bằng
2 apmôtphe, còn khi đến độ sâu 100m, áp lực phải chịu sẽ lên tới 11 apmôtphe.
Loài cá thuộc về động vật biển chia nhau sống tại những tầng nước khác nhau. Có loại ở
tầng trên gần mặt biển, có loại ở độ sâu vài trăm mét, lại cũng có loại sống ở chỗ sâu nhất
của biển cả. Những loại cá này, trong thế giới đáy biển có áp lực rất cao vẫn sống cuộc