B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
DAO HEUANG SOM BATH
PHáT TRIểN ĐộI NGũ HIệU TRƯởNG TRƯờNG TRUNG HọC PHổ
THÔNG
TỉNH BOLIKHAMXAY NƯớC CộNG HòA DÂN CHủ NHÂN DÂN LàO
TRONG BốI CảNH ĐổI MớI GIáO DụC
Chuyờn ngnh:Qun lý giỏo dc
Mó s: 62.14.01.14
LUN N TIN S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: TS. O LAN HNG
H NI - 2016
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin can đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong
luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
DAO HEUANG SOM BATH
2
Hà nội, tháng......năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
DAO HEUANG SOM BATH
3
4
MỤC LỤC
4
5
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
CBQL
CĐ- ĐH
CHDCND Lào
CNH-HĐH
CNXH
CSVC-KT
Đảng CSVN
ĐNDCM
ĐNHT
GD-ĐT
GD-TT
Kinh tế-Xã hội
Nghiên cứu khoa học
Nghị quyết
Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà xuất bản
Quản lý giáo dục
Trước công nguyên
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
United Nations Educational Scientific and
Cultural Organization (tổ chức Giáo dục,
khoa học – Văn hóa của Liên Hợp Quốc)
6
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
6
7
DANH MỤC SƠ ĐỒ
7
dục”[24]
Đại hội lần thứ IX (thứ 9) của Đảng NDCM Lào ngày 18-21 tháng 03 năm 2011
và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm lần thứ 7 (2011-2015) trên tinh thần bốn
“đột phá”. Đột phá về mặt tư duy; đột phá mạnh mẽ về phát triển nguồn nhân lực; đột
phá về việc giải quyết hệ thống cơ chế, chế độ, cải cách thủ tục hành chính Nhà nước;
và đột phá trong việc giải quyết xóa nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để làm
cho đời sống của nhân dân nước CHDCND Lào ngày càng tốt hơn, đưa đất nước thoát
khỏi tình trạng nước chậm phát triển vào năm 2020…” [31]
Báo cáo chính trị Đại hội IX (chín) của Đảng NDCM Lào cũng chỉ rõ, trong
những năm trước mắt sẽ “lấy phát triển hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo con
8
9
người làm trung tâm và là nhiệm vụ trọng tâm trong bước đột phá” [31].
Trong hệ thống giáo dục Quốc dân nước CHDCND Lào, giáo dục THPT là cấp học
nằm trong bậc trung học, nối tiếp giáo dục THCS. Điều 18 Luật Giáo dục nước
CHDCND Lào ghi rõ “Giáo dục phổ thông là hoạt động giáo dục thường xuyên học và
dạy từ giáo dục trung học có yêu cầu thời gian học 3 năm, có nhiệm vụ nâng cấp và mở
rộng nội dung đã học từ trường cấp hai. Ngoài ra còn phải đi sâu vào một số bài học để
phát triển kiến thức, công suất và tài năng của người học” [87]. Giáo dục THPT có vị
trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu giáo dục
THPT được quy định tại Điều 18 chương III của Luật Giáo dục CHDCND Lào “Giáo
dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở bậc tiểu học và trung học
cơ sở, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết chung về văn hóa, toán, lịch sử, kiến
thứ về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật và hướng nghiệp…”[87].
Trong bối cảnh đổi mới, giáo dục THPT phải có trách nhiệm cùng với nền giáo
dục quốc dân đổi mới toàn diện nền giáo dục Lào, đưa nước CHDCND Lào hội nhập
cùng thế giới và các nước lân cận. Để thực hiện được những nhiệm vụ giáo dục quan
trọng đó, bên cạnh yêu cầu về xây dựng, kiện toàn cơ sở vật chất, sử dụng đội ngũ giáo
đất, nước, rừng, khoáng sản và sự đa dạng về sinh thái. Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh
phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, dân trí chưa cao, cơ sở vật chất cho giáo dục còn
nghèo nàn, lạc hậu. Tính đến năm 2013, tỉnh Bolikhamxay có 20 trường trung học phổ
thông với 30.000 học sinh và 687 cán bộ giáo viên. Trong những năm vừa qua, việc
xây dựng phát triển đội ngũ hiệu trưởng nói chung và đội ngũ hiệu trưởng trường trung
học phổ thông nói riêng của tỉnh Bolikhamxay đã có những chuyển biến và đạt được
được những kết quả nhất định. Tuy nhiên trước bối cảnh đổi mới giáo dục, đặt ra cho
đội ngũ hiệu trưởng những cơ hội và thách thức mới. Chất lượng đội ngũ HT trường
THPT tỉnh Bolikhamxay hiện nay không đồng đều, năng lực quản lý nhà trường của
một số HT chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Đa
số HT các trường THPT ít được cập nhật nghiệp vụ QLGD hiện đại, chủ yếu quản lý
dựa vào kinh nghiệm, thiếu các kiến thức về pháp luật, quản trị nhân lực, tài chính, hạn
chế về trình độ ngoại ngữ, tin học…nên chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao. Một
số HT chưa được đào tạo bồi dưỡng về lý luận và năng lực quản lý nhà trường nên
kiến thức quản lý còn kém vì vậy, lung túng, thiếu linh hoạt, sang tạo, ngại đổi mới
trong quản lý, điều hành các hoạt động của nhà trường.
Do đó,việc nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ Hiệu
trưởng trường THPT đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng, có khả
năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao phó và đáp ứng yêu cầu trong
bối cảnh đổi mới giáo dục là một yêu cầu tất yếu và cấp thiết.
Xuất phát từ những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác giáo
dục, trong đó đề cập đến vai trò, vị trí của đội ngũ Hiệu trưởng; xác định tầm quan
trọng của công tác phát triển đội ngũ Hiệu trưởng nói chung, Hiệu trưởng trường
THPT nói riêng.
Xuất phát từ thực trạng công tác quản lý phát triển đội ngũ Hiệu trưởng của các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Bolikhamxay còn những bất cập, đội ngũ Hiệu trưởng
các trường THPT chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ Hiệu trưởng các
trường THPT tỉnh Bolikhamxay chưa được tác giả nào đề cập nghiên cứu cụ thể
Từ những lý do trên, việc lựa chọn và triển khai đề tài“Phát triển đội ngũ Hiệu
cơ cấu và đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đóng góp tốt cho sự
nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bolikhamxay nước CHDCND Lào.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận về phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và phát triển
đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT nói riêng trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT và việc phát
triển đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Bolikhamxay Nước Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
5.3. Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT Nước
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
5.4. Khảo nghiệm và thử nghiệm một số giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng
trường THPT được đề xuất trong luận án.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
- Vấn đề phát triển đội ngũ có thể được xem xét dưới nhiều góc độ, luận án này
nghiên cứu phát triển đội ngũ hiệu trưởng dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực.
- Có nhiều cơ quan quản lý cùng tham gia phát triển đội ngũ hiệu trưởng, luận án
này nghiên cứu công tác phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường trung học phổ thông
của Sở Giáo dục và thể thao.
11
12
6.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu 20 trường THPT trên địa bàn tỉnh Bolikhamxay.
6.3. Giới hạn về đối tượng khảo sát
- Khảo sát trên 700 Cán bộ quản lý và 20 HT trường THPT tỉnh Bolikhamxay
- Khảo sát trên 34 cán bộ quản lý của sở Giáo dục và thể thao tỉnh Bolikhamxay
6.3. Giới hạn về thời gian khảo sát
Các số liệu được rút ra từ kết quả khảo sát trong 2008-2013
Thực hiện hồi cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong quá
trình nghiên cứu các nguồn tài liệu khoa học và các văn bản có tính pháp lý về phát
12
13
triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT, bao gồm:
- Các tài liệu, văn kiện của Đảng (Bộ chính trị, ban bí thư, Ban chấp hành Trung
ương) và Nhà nước (Quốc hội, chính phủ, các Bộ - Ngành) về phát triển giáo dục, xây
dựng đội ngũ CBQL giáo dục các cấp.
- Các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong nước và ngoài nước (nước ngoài, các tổ
chức quốc tế, Việt Nam) về phát triển giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ Hiệu
trưởng trường và CBQL giáo dục.
13
14
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, quan sát
Xây dựng các bảng điều tra phù hợp với nội dung đề tài luận án, phân tích, thống
kê các dữ liệu để có những nhận xét, đánh giá chính xác về đội ngũ Hiệu trưởng
trường THPT tỉnh Bolikhamxaynhững năm vừa qua.
- Phương pháp chuyên gia:
Thông qua hội thảo khoa học, thông qua hỏi ý kiến CBQL giáo dục các cấp có
nhiều kinh nghiệm (bằng văn bản và phỏng vấn) để khảo sát tình hình đội ngũ Hiệu
trưởng các trường THPT tỉnh Bolikhamxay
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Xuất phát từ thực tiễn sinh động của giáo dục THPT, từ người thật, việc thật của
các Hiệu trưởng trường THPT để lấy ý kiến đóng góp bổ ích phát triển đội ngũ Hiệu
15
trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
9. Đóng góp mới của luận án
9.1. Đã hệ thống hóa lý luận, từ đó xây dựng được cơ sở lý luận cho nghiên cứu phát
triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
9.2. Đã phát hiện được thực trạng đội ngũ hiệu trưởng và phát triển đội ngũ hiệu
trưởng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT tỉnh Bolikhamxay nước
CHDCND Lào.
9.3. Đã đề xuất được 7 giải pháp phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT tỉnh
Bolikhamxay. Trong đó giải pháp “Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho hiệu
trưởng trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” đã được thử nghiệm và khẳng
định về tính khả thi và tính hiệu quả.
10. Cấu trúc của luận án
Luận án có cấu trúc các phần và các chương như sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT trong
bối cảnh đổi mới giáo dục
Chương 2:Thực trạng phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT tỉnh
Bolikhamxay nước CHDCND Lào
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh
Bolikhamxay nước CHDCND Lào trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Kết luận và kiến nghị
Danh mục các tài liệu tham khảo, Phụ lục
15
16
Chương 1
David Ross và Richarch Sabot (1995; 1996) [118], đều đi đến một kết luận rằng, một
trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên thần kỳ Đông Á, khiến cho các nước này
có giai đoan phát triển kinh tế với tốc độ thần kỳ Đông Á, khiến cho các nước này có
giai đoạn phát triển kinh tế với tốc độ gấp hai, gấp ba lần các nước phát triển ở ÂuMỹ chính là chính sách phát triển nguồn nhân lực.
Bài viết “Asia ia four little dragons: a comparison of the role of education in their
development” [140] ( Bốn con rồng nhỏ Châu Á: một sự so sánh về vai trò của giáo dục
trong phát triển) của Paul Moris (1996;2000) và “another look at East Asia Miracle”
16
17
(Một cái nhìn khác về thần kỳ Đông Á) của Ranis G (1996) [141], đều đề cập đến Đông
Á dưới góc độ giáo dục và nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng phục vụ quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Ở Việt nam, vai trò quyết định của nguồn lực cũng đã được khẳng định trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nó được thể hiện trong Văn kiện đại hội Đảng
Lần IX (chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Đảng CSVN đã nêu rõ: giáo
dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực được coi là một trong những bước
đột phá quan trọng.
+ Một số tác phẩm, công trình tiêu biểu của Việt nam nhấn mạnh vai trò của nguồn
nhân lực, phát triển nguồn nhân lực như “Phát triển nguồn nhân lực- kinh nghiện thế giới
và thực tiễn Việt Nam” [102] – Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996); “Quản lý và phát triển
nguồn nhân lực xã hội” [92] – GS, TS Bùi Văn Nhơn (2006); “Phát huy nhân tố con
người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” [91]- Phạm Công Nhất
(2007); “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam” [81] – Đoàn Văn Khái (2005); “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ
phát triển kinh tế- xã hội” [67] – Tác giả Phạm Minh Hạc (1996); “Phát triển nguồn nhân
lực giáo dục đại học Việt Nam”, của Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Doando NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2001 [78]; “Quản lý nguồn nhân lực xã hội”, của
Học viện Hành chính Quốc gia, do NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2003
Trung, Nam nước CHDCND Lào” [2] Ban tổ chức Trung ương Đảng nhân dân cách
mạng Lào (2007). Đề tài thuộc chương trình Khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 20052008. Đề tài nhấn mạnh và làm rõ công tác phát triển nguồn nhân lực của CHDCND
Lào trong thời gian qua.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ QLGD, phát
triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT
Nói đến hoạt động này, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C.Mac:
“Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng” [37].
1.1.2.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý, quản lý nguồn nhân lực,
quản lý nguồn nhân lực giáo dục. Cụ thể theo các hướng nghiên cứu như sau:
* Nhóm nghiên cứu về nâng cao chất lượng những người làm công tác quản lý.
- Trong lịch sử Trung hoa cổ đại (những năm 500 đến 300 TCN), đã xuất các tư
tưởng quản lý của Khổng Tử nhằm mục đích đào tạo lớp người cai trị xã hội được xây
dựng trên cái cốt triết lý là đạo nhân. Trên cơ sở đạo nhân, Khổng Tử và các học trò
của Ông đã tiếp cận các yếu tố nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng, tín, lợi và thành vào việc
truyền đạo để có được tầng lớp những người quản lý xã hội chuyên nghiệp như “quân
tử” và “kẻ sĩ”. [79]. Tư tưởng đó của Khổng Tử tuy chưa thực sự chuyên sâu phát
triển đội ngũ CBQL giáo dục, nhưng đã đặt nền móng cho việc hình thành tư tưởng về
nâng cao chất lượng những người làm công tác QL trong xã hội lúc bấy giờ.
Cũng vào thế kỷ 18, Frederick Winslow Taylor (1856-1915) với công trình tiêu biểu
là cuốn sách “The Principles of Scientific Management” (Những nguyên tắc quản lý khoa
học) được xuất bản năm 1911 [112] trong công trình này, F.W. Taylor đã đưa ra bốn
nguyên tắc QL khoa học đề cập đến việc tuyển chọn, huấn luyện công nhân, sự hợp tác
cần thiết của người QL với người bị quản lý nhằm nâng cao chất lượng của người QL.
Tiếp đó, Henri Faylor (1841-1925), một kỹ nghệ gia người Pháp có công trình “tổng
quát về quản lý – hay thuyết quản trị” (Adiministration Industriellet Generale) xuất bản
năm 1916 mà cống hiến lớn nhất của ông là đưa ra 5 chức năng cơ bản QL, 16 quy tắc về
chức trách QL và 14 nguyên tắc QL hành chính. Theo ông, nếu người QL có đủ phẩm
chất, năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, quy tắc và nguyên tắc QL thì chất
hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII,
phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ đã nhấn mạnh: “Đổi
mới mạnh mẽ quản lý Nhà nước về giáo dục” và “Xây dựng và triển khai chương trình
xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện”[51].
+ Chiến lược phát triển KT-XH 2011 - 2020 đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng CHXHCN Việt Nam thông qua, có chỉ rõ “Phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản
lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”[52].
+ Đặc biệt, gần đây Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Nghị quyết số 29/NQ-TW,
ngày 04/11/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết này đã chỉ rõ các quan
điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới giáo dục và đào tạo, trong đó
19
20
có giáo dục phổ thông. Một trong các giải pháp có trong Nghi quyết này là “Phát triển
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong bối cảnh đổi mới giáo dục”[53].
Với xu thế kế thừa, nhiều nhà khoa học Việt nam như: Phạm Minh Hạc, Thái Duy
Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Vũ Bích Hiền, Nguyễn Xuân Thanh, Nguyễn Gia
Quý, Nguyễn Xuân Thức, Trần Kiểm, Trịnh Văn Minh, ...đã chắt lọc những vấn đề
tinh túy nhất của hầu hết các tác phẩm QL của nước ngoài để thể hiện trong các công
trình nghiên cứu của mình về sự phát triển của công tác QL.
+ Tác phẩm “Quản lý đội ngũ”của Nguyễn Quốc Chí , Nguyễn Thị Mỹ Lộc do Dự
án đào tạo giáo viên Trung học cơ sở - LOAN No. 1718 - VIE (SF), Hà Nội phát hành
năm 2003 [42] đã bàn nhiều đến kỹ năng thực hiện các hoạt động trong quản lý đội ngũ
trong công tác tổ chức;
Xét ở góc độ nghiên cứu lý luận QLGD, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –
21
lượng GD; trong đó nêu rõ vai trò, vị trí, chức năng của CBQL trường học, tiêu biểu
có các công trình của các nhà khoa học nổi tiếng như sau:
Ilina T.A với tác phẩm “Giáo dục học” (tại tập 3: Những cơ sở của công tác giáo dục).
Cuốn sách “Quản lý hành chính và sư phạm trong các nhà trường tiểu học” (La
Gestion administrative et Pédgogique des écoles) của Jean Valérien do UNESCO xuất
bản năm 1991 [127] đã phân tích về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người Hiệu
trưởng trường tiểu học; tác giả đã có những gợi ý về quan điểm, phẩm chất và năng
lực của người Hiệu trưởng tiểu học và phương thức phát triển đội ngũ đó.
* Nhóm nghiên cứu về cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm, xây dựng, phát triển, đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ Hiệu trưởng...
+ Phương pháp và cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm Hiệu trưởng có chất lượng tốt cho
các nhà trường bằng việc nghiên cứu, công bố và áp dụng chuẩn lãnh đạo cho từng vùng.
+ Xây dựng và phát triển các Chuẩn Hiệu trưởng để triển khai đào tạo, bồi dưỡng
những Hiệu trưởng với tư cách là nhà quản lý và nhà lãnh đạo trường học đáp ứng
được yêu cầu phát triển nhà trường, đảm bảo cho nhà trường thành công; hoặc nghiên
cứu về xây dựng và phát triển các tiêu chuẩn với các yêu cầu mà Hiệu trưởng phải đạt
được để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà trường trong điều kiện hiện nay [128].
+ Chuẩn về các kỹ năng, phong cách lãnh đạo hoặc những năng lực cần có để đảm bảo
thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của người đứng đầu nhà trường [128], [134] và [139].
+ Chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL giáo dục (cụ thể là Hiệu trưởng
trường học) phải được phát triển và cập nhật như thế nào để đáp ứng với sự phát triển của
khoa học - công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trên cơ sở so sánh các
chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng của nhiều quốc gia [126]. Tại Đại học Nam Florida đã
quy định Chuẩn chương trình đào tạo Hiệu trưởng, cho nhà quản lý trường học là chương
trình tích hợp gồm mười một vùng kiến thức kỹ năng theo bốn lĩnh vực lớn: Lãnh đạo chiến
lược; Lãnh đạo tổ chức; Lãnh đạo giáo dục; Lãnh đạo chính trị và cộng đồng [124]. Có
nghiên cứu về một số chương trình đào tạo nhà lãnh đạo trường học theo các nhóm năng
lực: năng lực sư phạm, giáo dục và thiết lập hoạt động; năng lực kiểm soát; năng lực lãnh
đạo; năng lực tổ chức; năng lực tư vấn [121] và [129]. Cũng là nghiên cứu về chương trình
hoá đất nước được coi là mục tiêu ưu tiên của phát triển nguồn nhân lực, mà trong đó
trách nhiệm cao cả thuộc về giáo dục. Với chủ trương coi giáo dục là điểm mấu chốt trong
việc xây dựng xã hội Lào văn minh hiện đại và để giáo dục Lào đảm đương được nhiệm
vụ đó, trước hết giáo dục phải tập trung phát triển nguồn nhân lực của giáo dục, trong đó
có đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và cán bộ quản lý các trường học nói riêng.
- Đối với Bộ Giáo dục Lào (nay là Bộ Giáo dục và Thể thao Lào) đã có nhiều sách và
văn bản quản lý đề cập đến quản lý phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Tiêu biểu:
+ Năm 2002 Sở giáo dục - Thể thao đã cho xuất bản cuốn “Quản lý giáo dục của
người quản lý cấp Sở giáo dục” [6] đã nêu lên nhưng lý luận về công tác quản lý giáo
dục đối với người quản lý giáo dục cấp Sở giáo dục; trong đó có đề cập đến lý luận và
thực tiễn về công tác quản lý đội ngũ CBQL các trường học do Sở giáo dục quản lý.
+ Năm 2005, Bộ Giáo dục Lào cho xuất bản cuốn “Quản lý giáo dục của cán bộ
quản lý giáo dục - Cuốn sách thứ VI”[7].
+ Đến năm 2007, Bộ Giáo dục Lào cho xuất bản cuốn “Quản lý giáo dục của cán
bộ quản lý giáo dục - Cuốn sách thứ VII”[8]. Các cuốn sách này có nội dung đề cập tới
lý luận, thực tiễn, các quy định của Nhà nước Lào, của Bộ Giáo dục Lào về công tác
quản lý giáo dục. Ngoài việc đề cập tới lý luận và thực tiễn về quản lý các hoạt động
giáo dục và dạy học, quản lý hoạt động cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; các cuốn sách
này có đề cập tới quản lý đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục, trong đó có lý thuyết về
phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý.
+ Năm 2006, Bộ Giáo dục Lào đã ban hành "Kế hoạch chiến lược phát triển giáo
dục 2006 - 2015" [9]. Kế hoạch chiến lược này đã chỉ ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm
vụ và giải pháp phát triển giáo dục trong giai đoạn 2006 - 2015; trong đó có quan điểm
phát triển giáo viên và CBQL giáo dục, có giải pháp cơ bản là đổi mới quản lý giáo dục
và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục.
- Gần đây, đã có một số công trình khoa học (đề án, đề tài KH&CN và luận án tiến
sĩ) đã nghiên cứu về quản lý và phát triển nhân lực giáo dục có thể vận dụng vào phát
triển đội ngũ CBQL, đội ngũ Hiệu trưởng trường như:
+ Cuốn sách “Chính sách giáo dục quốc gia của Đảng và Nhà nước” của tác giả
Khun Mee (Lào) do NXB Quốc gia Lào xuất bản năm 2005 [23] đã bàn đến các chính
Tập trung nghiên cứu sâu các lý luận khoa học liên quan đến HT, ĐNHT; mối tác
động qua lại giữa KT-XH dẫn đến đòi hỏi đổi mới giáo dục; thực trạng đội ngũ HT,
công tác phát triển ĐNHT tìm lý do ĐNHT chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới; đề xuất các
giải pháp giúp ĐNHT phát triển đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chất lượng đáp
ứng yêu cầu đổi mới.
1.2. Đổi mới giáo dục và những yêu cầu đặt ra đối với phát triển đội ngũ hiệu trưởng
1.2.1. Những thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội dẫn đến đòi hỏi phải đổi mới
giáo dục
Từ khi Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (NDCM) lãnh đạo nhân dân Lào tiến hành
thành công cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường và đầy gian nan, thử thách, lật đổ ách
thống trị thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước
CHDCND Lào (tháng 12-1975). Nước CHDCND Lào đã có những bước thay đổi cơ
bản về kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định cụ thể như sau:
Sau khi giải phóng hoàn toàn đất nước, một trong những nhiệm vụ cốt yếu hàng
đầu của Nhà nước Lào là tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội, đưa đất nước sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cải thiện đời sống nhân
dân. Nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc,
Đảng NDCM Lào sớm đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội.
Đi đôi với phát triển kinh tế, Lào đã đẩy mạnh phát triển các hoạt động xã hội, tạo ra sự
24
25
hài hòa trong phát triển. Với chủ trương coi giáo dục là điểm mấu chốt trong việc xây dựng
xã hội Lào văn minh hiện đại, ngành giáo dục Lào đã có bước tiến dài. Hệ thống giáo dục
quốc dân đã được phát triển cả về quy mô và chất lượng. Về số lượng trường lớp, năm
2008-2009 cả nước Lào có 1.123 cơ sở mẫu giáo và nhà trẻ; 8,871 trường Tiểu học; có
1.125 trường trung học. Chủ trương của nước CHDCND Lào là trong những năm tới tập
trung phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo cho tất cả các cấp học. Tuy nhiên
do điều kiện còn khó khăn, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trường còn nhiều
hạn chế. Giáo dục Đại học nước CHDCND Lào có 152 trường cao đẳng, đại học, học viên
nào không đổi mới, hoặc cải cách giáo dục không thành công, nước đó sẽ mất khả
25