TÀI LIỆU THAM KHẢO sự PHÁT TRIỂN LÍ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG dư VÀ CÁC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG dư TRONG LỊCH sử CÁC HỌC THUYẾT KINH tế - Pdf 41

1
Sự phát triển lý luận giá trị thặng dư và các hình thức biểu hiện của giá trị
trặng dư trong lịch sử các học thuyết kinh tế
I. Học thuyết giá trị thặng dư và sự phát triển lý luận giá trị trặng dư
của C. Mác.
1. Học thuyết giá trị trặng dư của C. Mác.
Trước Mác, nhà kinh tế học Thom sơn đã nêu ra phạm trù giá trị thặng dư.
Song Ông lại cho rằng, nếu tồn tại phạm trù giá trị thặng dư thì sẽ vi phạm quy
luật giá trị. Vì vậy, Ông chỉ thừa nhận quy luật giá trị, mà không thừa nhận
phạm trụ giá trị thặng dư.
- C. Mác là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh học thuyết giá trị thặng dư và
khẳng định rằng giá trị thặng dư tòn tại và phát triển hoàn toàn tuân theo quy
luật giá trị.
- C. Mác là người đầu tiên phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản
khả biến và hoàn thành việc phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư
bản lưu động, Lý luận về hàng hoá sức lao động.
- C. Mác phát triển lý luận giá trị thặng dư đi từ trừu tượng đến cụ thể, thấy
được sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản trong việc giành giật lợi nhuận với nhau
thông qua nghiên cứu sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình
quân và giá cả sản xuất.
2. Sự phát triển lý luận giá trị thặng dư của C. Mác.
a. Về địa tô:
+ Đã phân biệt được địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phng kiến. Cho rằng, sự
hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là cơ sở hình thành địa tô tư bản
chủ nghĩa.
+ Địa tô tư bản chủ nghĩa chính là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã trừ
đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trng nông nghiệp
phải nộp cho địa chủ
+ Phân biệt được hai hình thức địa tô: Chênh lệch và tuyệt đối ( Địa tô chênh
lệch là một phần của giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra được biểu
hiện thành lợi nhuận siêu ngạch mà địa chủ thu được trên những ruộng đất có

đất chỉ là giá mua địa tô do ruộng đất mang lại theo tỷ suất lợi tức hện hành. Nó
tỷ lệ thuận với địa tôvà tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức tư bản gửi vào ngân hàng.
Ví dụ: Một mảnh đất hàng năm đem lại một địa tô là 200 USD, tỷ suất lợi tức
gửi vào ngân hàng là 5%, thì giá cả mảnh đất là: 200X 100/ 5 = 4000 USD.
2


3
Với số tiền 4000 USD đó đem gửi vào ngân hàng với lãi suất 5%/ năm cũng
thu được một lợi tức 200 USD ngang bằng địa tô thu được khi cho thuê ruộng
đất.
b. Lý luận về lợi nhuận
- Lợi nhuận chính là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư
bản ứng trước. Nếu ký hiệu lợi nhuận là P thì công thức G = c + v + m sẽ chuển
thành G = k + P ( tức là giá trị hàng hốa tư bản chủ nghĩa bằng chi phí sản xuất
tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận). Như vậy P là hình thức biến tướng của M,
nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
- Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng dư
chuyển thành tỷ suất lợi nhuận.
- Nghiên cứu sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, do cạnh tranh giữa
các ngành. Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng hoá chuển
thành giá cả sản xuất.
- Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Giá cả sản xuất là phạm trù kinh tế tương
đương với giá cả. Nó cũng là cơ sở của giá cả thị trường. Giá cả sản xuất điều
tiết giá cả thị trường. Giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất. Khi giá trị
hàng hoá chuển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật
giá cả sản xuất.
II. Sự phát triển lý luận giá trị thặng dư và hình thức biểu hiện M của kinh tế
chính trị học cổ điển.
C. Mác " Tất cả các nhà kinh tế học đều phạm phải cái sai lầm là đã không xét

hình thành là do thu nhập vượt quá tiền lương. Như vậy, số trội hơn đó có thể có
trong trường hợp đặc biệt do vị trí lũng đoạn hay là do thuế quan cao, Trong 2
trường hợp đều hình thành trong điều kiện không có tự do cạnh tranh. Quan
điểm đó của Kênê về lợi nhuận phản ánh trình độ chưa phát triển của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi mà các chủ xí nghiệp nhỏ kiểu công trường
thủ công chiếm địa vị thống trị và các quan hệ phong kiến còn có ảnh hưởng
lớn.Vì thế, Kê nê coi giá trị thặng dư về thực chất chỉ là địa tô. Điều này làm cho
Kênê gần với quan điểm của Petty.
Tại sao Kê nê cho rằng P chủ yếu thu được từ địa tô:
+ Căn cứ vào lý luận giá trị sẽ giải thích được điều đó. Lý luận giá trị của
Kênê Rất sơ lược.
- Kênê xuất phát từ sự tồn tại của 2 quy luật quyết định giá trị. giá trị của
hàng hoá công nghiệp được quy định trên những cơ sở khác với giá trị hàng hoá
nông nghiệp. Khi nói đến công nghiệp: có gía cả cơ bản ( bao gồm giá thành
hàng hoá) và giá bán. Giá bán bao gồm giá cả cơ bản và phần đài thọ cho nhà tư
bản công nghiệp ( tiền lương).
Đối với giá trị nông sản phẩm, nó hình thành một cách độc lập với chi phí sản
xuất, bởi vì nó bao gồm một yếu tố nữa là R. Từ đó, nếu giảm chi phí sản xuất
5


6
thì giá trị hàng công nghiệp giảm xuống chứ giá trị nông sản phẩm không giảm
mà chỉ làm tăng thêm địa tô thôi, bởi vì số cầu về lương thực luôn cao hơn số
cung về lương thực ( Kê nê xác định giá trị trong nông nghiệp trên cơ sở độc
quyền của nông nghiệp, Ông lấy tính đặc thù trong nông nghiệp làm chỗ dựa
chủ yếu). Trong nông nghiệp không có sự kết hợp, mà chỉ có sự tăng thêm về
chất. Do đó xuất hiện chủ nghĩa tự nhiên trong việc giải thích nguồn gốc của sản
phẩm thuần tuý, và tựa hồ như đất đai là nguồn gốc của sản phẩm thuần tuý và
tựa hồ như đất đai là nguồn gốc của sản phẩm thuần tuý.

vạch ra rằng không nên hiểu Kê nê theo quan điểm thuần tuý tự nhiên chủ nghĩa,
đôi khi Kê nê có những ý kiến hợp lý, Ông cho rằng lao động của công nhân
công nghiệp là lao động không sinh lời, nhưng công nhân công nghiệp không
sống nhờ vào giá trị của người khác mà tự tạo ra giá trị cho mình. Như vậy, Ông
đã thấy mối liên hệ giữa lao động sản xuất và giá trị thặng dư ( sản phẩm thuần
tuý). Lao động sản xuất là lao động tạo ra sản phẩm thặng dư.
Pét ty: - Có nhiều cố gắng trong việc giải thích về giá trị thặng dư và là người
đặt nền móng cho việc nghiên cứu vấn đề này.
- Tuy nhiên, Ông chưa thể nghiên cứu bản chất của giá trị thặng dư, mặc dù
đã cố gắng nêu ra khá rõ nét hai hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư là: Địa
tô TBCN và lợi tức cho vay
* Lý luận về địa tô: Petty phân tích địa tô trên cơ sở lý luận giá trị lao động.
Theo Ông, địa tô là một phần của giá trị sau khi đã trừ đi các khoản chi phí về
tiền lương và giống má( Thấy nguồn gốc của địa tô trong sản xuất. Theo Ông,
địa tô là số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm và chi phí sản xuất, bao gồm: Chi
phí tiền công và cây con, giống); Về chất: địa tô là giá trị dôi ra ngoài tiền công,
là sản phẩm của lao động thặng dư. Ông không rút ra được P của kinh doanh
ruộng đất, không trực tiếp đề cập đến bóc lột. Nhưng theo lôgíc phân tích của
Ông, ta rút ra: Công nhân chỉ nhận được tiền công tối thiểu, số còn lại là P của
địa chủ. Lôgic bên trong của quan niệm đó thừa nhận có sự bóc lột. C.Mác:
Petty là người nêu ra mầm mống của lý luận về chế độ bóc lột, dự đoán đúng
đắn bản chất của giá trị thặng dư.
- Ông đã nghiên cứu địa tô chênh lệch và cho rằng, các mảnh ruộng gần xa
khác nhau có mức địa tô khác nhau. Ông chưa biết đến địa tô tuyệt đối.
* Lý luận về lợi tức
- Coi lợi tức là tô của tiền và cho rằng, nó lệ thuộc vào mức địa tô ( Trên đất
mà người ta có thể dùng tiền vay để mua). Trong cuốn bàn về tiền tệ, Ông coi
lợi tức là số tiền thưởng trả cho sự nhịn ăn tiêu, coi lợi tức cũng như tiền thuê
ruộng. Mức lợi tức phụ thuộc vào những điều kiện tự phát và những điều kiện
7

- S. Mith cho rằng, R cũng giống như lợi nhuận công nghiệp, chỉ là một bộ
phận của lao động mà người công nhân gia thêm vào vật liệu, là cái bộ phận mà
" anh ta nhường lại" cho người sở hữu ruộng đất mà không đòi phải trả lại tiền.
8


9
- Như vậy, giá trị thặng dư, tức là lao động thặng dư- phần thặng ra của lao
động đã được thực hiện và đã vật há trong hàng hoá so với lao động đã được trả
công- giá trị thặng dư đó, S.Mith coi như phạm trù chung, mà lợi nhuận theo
đúng nghĩa của danh từ và R chỉ là những chi nhánh. Nhưng S. Mith không tách
bản thân giá trị thặng dư thành một phạm trù đặc biệt mà nó đã khoác lấy trong
lợi nhuận và địa tô.
- A. S.Mith: Tiến bộ hơn, trên cơ sở lý luận giá trị cho rằng, lao động sản xuất
nói chung tạo ra giá trị và giá trị thặng dư
+ Khi ruộng đất bị tư hữu thì địa tô là khoản khấu trừ thứ nhất vào sản phẩm
của lao động. Như vậy Ông đã thấy bản chất bóc lột của địa tô.. Ông đã phát
hiện ra điều quan trọng: Độc quyền tư hữu ruộng đất là điều kiện chiếm hữu địa
tô.
- Quy mô địa tô nhiều hay ít phụ thuộc vào giá cả sản phẩm, địa tô là giá cả
của độc quyền. ( Tức là giá cả sản phẩm nông nghiệp được bán ra khong theo
giá trị mà được bán ra theo giá lũng đoạn do cầu cao hơn cung. Đều này không
đúng vì nó không giải thích được tình hình trong khi có khủng hoảng nông
nghiệp.
- Phân biệt được địa tô chênh lệch do độ mầu mỡ của đất đai và vị trí của
ruộng đất đưa lại.
- Phát triển lớn của Ông là: Chỉ ra mức địa tô trên một` mảnh ruộng là do thu
nhập của mảnh ruộng đó đưa lại, những mảnh ruộng tốt thu được nhiều thu nhập
hơn. Phát hiện ra địa tô trên những ruộng canh tác cây chủ yếu quyết định địa tô
trên ruộng trồng cây khác.

- P tăng hay giảm tuỳ thuộc vào sự giầu có tăng hay giảm của xã hội. Thừa
nhận sự đói lập giữa tiền công và lợi nhuận
- Thấy khuynh hướng thường xuyên đi đến chỗ ngang nhau của " Tỷ suất lợi
nhuận" trên cơ sở sự cạnh tranh giữa các ngành và khuynh hướng tỷ suất lợi
nhuận giảm sút. Theo ông, tư bản đầu tư càng nhiều thì tỷ suất lợi nhuận càng
thấp.
Hạn chế: - Về lý luận lợi nhuận như: Không thấy sự khác nhau giữa P và giá
trị thặng dư. Bởi vì, Ông không phân biệt tư bản bất biến và tư bản khả biến và
Ông cho rằng nguồn gốc của lợi nhuận là do toàn bộ tư bản đẻ ra. Ông không
gắn liền lợi nhuận với việc bóc lột công nhân làm thuê ( S. Mith lẫn lộn là: Chỉ
coi lợi nhuận và địa tô là những hình thái đặc thù của M nói chung, là " những
10


11
khoản khấu trừ vào lao động mà người công nhân đã nhập thêm vào vật liệu". Vì
vậy giá trị mà người công nhân nhập thêm vào vật liệu giờ đây được chia thành
hai bộ phận, trong đó một bộ phận trả cho tiền công của họ, còn bộ phận kia trả
cho lợi nhuận của nhà kinh doanh tính theo tổng số tư bản đã ứng trước dưới
hình thái tiền công và vật liệu dùng việc chế biến. Như vậy phần thặng dư đó chỉ
là phát sinh từ bộ phận tư bản đã đã chi phí cho tiền công.
- Không phân biệt được lĩnh vực sản xuất và lưu thông, tư bản trong sản xuất
cũng như trong lưu thông đều đẻ ra lợi nhuận như nhau.
- Coi P trong phần lớn trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việc mạo hiểm
và cho lao động khi đầu tư tư bản. P là một trong những nguồn gốc đầu tiên của
mọi thu nhập cũng như mọi giá trị trao đổi.
* Lợi tức của tư bản, lợi tức cho vay ( lợi tức của tiền), là một hình thái phái
sinh của M, chỉ là một bộ phận của lợi nhuận , hay của địa tô, do đó, lợi tức chỉ
là một bộ phận lao động thặng dư không được trả công.
* Ri cacđô:

mà họ nhận được
C.Mác nhận xét: So với S. Mith thì Ri cacđô đã đi xa hơn nhiều " Ông coi lao
động không được trả công của công nhân
- Ông có những nhận xét tiến gần đến P bình quân. Ông cho rằng: Những tư
bản có đại lượng bằng nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau. Nhưng Ông không
chứng minh được vì ông không hiểu được giá cả sản xuất. Theo ông sự chênh
lệch giữa giá trị và giá cả sản xuất chỉ là ngoại lệ. Trên thực tế chỉ có giá trị chứ
không có giá cả sản xuất.
Thiếu sót:
+ Mô tả lợi nhuận căn cứ vào năng suất lao động, cho đó là quy luật vốn có
của mọi nền sản xuất, chứ không căn cứ vào quy luật đặc thù của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa: quy luật giá trị thặng dư.
+ Không phân biệt được lợi nhuận với giá trị thặng dư, chỉ nhìn thấy có hình
thức giá trị thặng dư tương đối không nhìn thấy giá trị thặng dư tuyệt đối
+ Không phân biệt tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận lại giảm sút,
Ông giải thích là do tăng tiền lương.
+ Không chú ý đến cấu tạo hữu cơ của tư bản
II. Lý luận M của các nhà kinh tế tầm thường và tiểu tư sản
1. Lý luận của kinh tế chính trị học tầm thường
12


13
- Lý luận về lợi nhuận của Man tuýt
+ Man tuýt đã lợi dụng yếu tố tầm thường của S. Mith về việc quy định giá trị
lao động. Cái mới của Mantuýt là: giải thích thước đo giá trị. Theo Ông, lao
động có thể mua được bằng hàng hoá là do chi phí để sản xuất ra hàng hoá đó
quyết định. Chi phí đó bao gồm: lao động sống và lao động vật hoá đã chi phí để
sản xuất ra hàng hoá cộng với lợi nhuận của tư bản ứng trước. Như vậy,
Mantuýt phủ nhận vai trò của lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị và coi lợi




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status