ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ THÙY LINH
CHẾ ĐỘ LƢƠNG HƢU HÀNG THÁNG THEO QUY ĐỊNH
CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
TỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI HƢỞNG LƢƠNG HƢU
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌCCán bộ hướng dẫn khoa học: TS.
Nguyễn Xuân Thu
Hà Nội – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.1. Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014Error!
Bookmark not defined.
2.1.1. Lương hưu hàng tháng trong chế độ BHXH bắt buộcError! Bookmark
not defined.
2.1.2. Lương hưu hàng tháng trong chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện . Error!
Bookmark not defined.
2.1.3. Qũy hưu trí và tử tuất ............................ Error! Bookmark not defined.
2.1.4. Tiếp cận chế độ lương hưu hàng tháng theo bảo hiểm hưu trí bổ sung Error!
Bookmark not defined.
2.2. Tác động của chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật
BHXH năm 2014 tới đời sống của người hưởng lương hưuError! Bookmark
not defined.
2.2.1. Tác động đến đời sống vật chất của NLĐError!
Bookmark
not
Bookmark
not
defined.
2.2.2. Tác động đến đời sống tinh thần của NLĐError!
defined.
Tiểu kết Chƣơng 2 ......................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHẾ ĐỘ
Tiểu kết Chƣơng 3 ......................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN .................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 19
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
BHXH
Bảo hiểm xã hội
ILO
Tổ chức Lao động quốc tế
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
Qũy BHXH
Qũy Bảo hiểm xã hội
4
2.3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cũng giống như các chính sách xã hội khác, BHXH có nguồn gốc từ yêu cầu
thực tiễn cuộc sống đặt ra. Từ thời xa xưa con người để chống lại thiên tai, đói rét,
bệnh tật... đã biết đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên sự giúp đỡ này
chỉ mới mang tính tự phát và giới hạn trong một nhóm người chung quan hệ huyết
thống nhỏ lẻ. Khi xã hội chuyển sang giai đoạn phân chia giai cấp, phân công lao
động thì các hình thức tương trợ cộng đồng cũng dần phát triển rộng rãi, phong
phú hơn. Một trong những giải pháp hiệu quả nhất mà con người tìm ra và lựa
chọn áp dụng chính là xây dựng các biện pháp hỗ trợ một đối tượng hoặc nhóm đối
tượng nào đó khi xảy ra rủi ro liên quan đến ốm đau, bệnh tật, tuổi già... Theo thời
gian, các chế độ tương trợ cộng đồng dần được nâng lên trở thành một hệ thống
chính sách gọi chung là Bảo hiểm xã hội, được thể chế hóa thành quy định pháp
luật tại mỗi quốc gia và là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi
nhận trong “Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên Hợp quốc”. Trong thế
giới hiện đại, BHXH là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, có vai trò đặc biệt quan
trọng trong đời sống xã hội của các tầng lớp lao động và dân cư; đồng thời là nhân
tố đảm bảo ổn định chính trị, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững, công
bằng và an toàn cho mỗi quốc gia trên thế giới.
Là một bộ phận của hệ thống BHXH, chế độ bảo hiểm hưu trí đóng vai trò
quan trọng, là chính sách BHXH dài hạn dùng để trả cho NLĐ khi họ không còn
tham gia quan hệ lao động và đủ điều kiện hưởng theo luật định. Bất cứ NLĐ nào
rồi cũng đến lúc hết tuổi lao động (trừ trường hợp NLĐ chết), bởi vậy hưu trí là
chế độ áp dụng cho hầu hết mọi đối tượng và là mục đích chính khi họ tham gia
đóng BHXH. Bảo hiểm hưu trí là một biện pháp khắc phục rủi ro, đảm bảo cho
9
BHXH năm 2014 chính thức có hiệu lực và đi vào áp dụng trong thực tiễn. Có thể
thấy thời gian Luật BHXH năm 2014 được áp dụng chưa phải là dài nên việc triển
khai, thực thi luật trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn; ảnh hưởng của luật đến đời
sống của người hưởng lương hưu nói riêng và xã hội nói chung chưa thể hiện rõ.
Bởi vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của
Luật BHXH năm 2014 không chỉ có ý nghĩa đóng góp cho việc giải thích, tổ chức
thực hiện luật mà còn mang mang tính thời sự cao trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định của Luật BHXH năm 2014 và
những tác động tới đời sống của người hưởng lương hưu” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp cao học Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Bảo hiểm hưu trí là một chính sách quan trọng trong hệ thống pháp luật an
sinh xã hội, nó xuất hiện từ giai đoạn đầu hình thành các chính sách BHXH của
nước ta. Bởi vậy việc nghiên cứu về các chế độ hưu trí cũng đã được nhiều tác giả
nghiên cứu qua nhiều công trình khoa học mang tính tổng quan cũng như các bài
viết về những khía cạnh của chế độ hưu trí và nâng cao chất lượng hưu trí như:
- Tác giả Bùi Ngọc Thanh với bài viết: “Kiến nghị sửa đổi chế độ hưu trí
trong Luật BHXH”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19/2013;
- Tác giả Đặng Như Lợi với bài viết: “Cải cách Luật BHXH để mở rộng bảo
hiểm hưu trí đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12/2014;
Ngoài ra có thể kể đến một số công trình ở cấp độ luận văn thạc sỹ nghiên
cứu về vấn đề này như:
- Tác giả Trần Công Dũng với công trình: “Góp phần hoàn thiện chế độ hưu
10
đưa vào thực hiện từ ngày 01/01/2016 nên đối với tác giả chưa có đủ cơ sở kiến
nghị và hoàn thiện pháp luật. Vì vậy luận văn không đặt ra vấn đề hoàn thiện pháp
luật mà chủ yếu đưa ra một số giải pháp tổ chức, thực hiện, áp dụng luật trong thực
tiễn.
4. Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
Cùng với BHXH nói chung, bảo hiểm hưu trí cũng được mở rộng dần ở nhiều
nước trên thế giới, là một trong năm chế độ bảo hiểm bắt buộc mà hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều thực hiện đối với NLĐ. Bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo hiểm nhằm
đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động, không còn tham gia quan hệ lao
động nữa. Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm hưu trí là tổng hợp các quy định pháp
luật về các điều kiện và mức tài chính cho những người tham gia BHXH khi hết tuổi
lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động. Đối tượng nghiên cứu của luận
văn là các quy định hiện hành của pháp luật điều chỉnh chế độ lương hưu hàng tháng
của NLĐ tại Việt Nam, mối quan hệ và tương quan so sánh với hệ thống pháp luật quốc
tế.
Luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát các vấn đề lý luận về chế độ lương hưu hàng tháng.
- Phân tích những điểm mới về chế độ lương hưu hàng tháng theo quy định
của Luật BHXH năm 2014 so với Luật BHXH năm 2006 (nguyên nhân, nội dung
của những sửa đổi, bổ sung đó).
- Phân tích tác động của chế độ lương hưu hàng tháng theo luật BHXH năm
12
2014 đến đời sống của người hưởng lương hưu.
- Đưa ra một số phương hướng và biện pháp tổ chức thực hiện chế độ lương
hưu hàng tháng theo Luật BHXH năm 2014 trong thực tiễn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phương
pháp luận của triết học Mác – Lênin, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật.
VỀ CHẾ ĐỘ LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG
1.1. Khái niệm chế độ lương hưu hàng tháng
1.1.1. Khái niệm BHXH
Thực tế cuộc sống từ khi tham gia cho đến khi chấm dứt quan hệ lao động
luôn tiềm ẩn những “rủi ro” đến từ các nguyên nhân như: sức khỏe, bệnh tật, tai
nạn, tuổi tác, ảnh hưởng của tự nhiên, khủng hoảng kinh tế… khiến NLĐ không
thể tiếp tục hoặc bị giảm sút năng lực làm việc. Tuy vậy những nhu cầu thiết yếu
của con người không vì thế mà mất đi, nhiều trường hợp còn tăng lên hoặc xuất
hiện nhu cầu mới. Điều đó khiến cho khả năng tự giải quyết rủi ro của NLĐ là hết
sức khó khăn, cần có sự chung tay giúp đỡ từ cộng đồng và xã hội.
Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công
nghiệp, hệ thống BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Mối quan
hệ kinh tế giữa người làm thuê và chủ sử dụng lao động ngày càng trở nên phức
14
tạp, xuất hiện những mâu thuẫn về lợi ích. NLĐ muốn mình được đảm bảo quyền
lợi ngày càng nhiều hơn và tốt hơn, còn chủ sử dụng lao động lại mong muốn có
được lợi ích kinh tế cao nhất, chi phí bỏ ra thấp nhất. Sự mâu thuẫn này đòi hỏi
phải có một bên thứ ba đứng ra can thiệp và điều hòa, đó chính là Nhà nước. Nhà
nước buộc cả người làm thuê và giới chủ phải đóng góp một khoản tiền nhất định
hàng tháng, được tính toán dựa trên xác suất rủi ro xảy ra đối với NLĐ. Số tiền
đóng góp đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung; ngoài hai khoản thu chính từ
người làm thuê và giới chủ, quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách nhà nước khi
cần thiết. Sự vận hành của quỹ thể hiện rõ nét tính đoàn kết, san sẻ rủi ro trong
cộng đồng không phân biệt già trẻ, nam nữ, lao động phổ thông, lao động kỹ thuật,
người khỏe, người yếu. Như vậy, BHXH xuất hiện là một tất yếu khách quan, là
nhu cầu và quyền lợi chính đáng của NLĐ. BHXH được thừa nhận là một trong
do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc
chết.
Theo Luật BHXH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014,
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH (khoản 1, Điều 3).
Nhắc đến BHXH là nhắc đến một trụ cột cơ bản, là “xương sống” của hệ
thống an sinh xã hội mỗi quốc gia; không có BHXH thì không thể có một nền an
sinh xã hội vững mạnh. Trước hết BHXH đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và
gia đình họ, đặc biệt là người làm công ăn lương. Khi có sự cố làm thu nhập bình
thường bị hao hụt hoặc không có thu nhập (ốm đau, tai nạn, hết độ tuổi lao
động...); người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được một số tiền từ quỹ BHXH nhằm
16
mục đích san sẻ, hỗ trợ giúp NLĐ có thể giảm bớt khó khăn về mặt tài chính. Bên
cạnh đó, các chế độ BHXH còn gián tiếp góp phần tăng năng suất và hiệu quả lao
động, thúc đẩy mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước – NLĐ và NSDLĐ trở nên gắn
bó hơn. Khi tham gia BHXH, NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận
tình với công việc; làm cho mối quan hệ thị trường trở nên lành mạnh hơn, thị
trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế
hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế
thị trường.
BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp; tạo cho những người bất hạnh
có thêm điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, nhanh
chóng hòa nhập cộng đồng. BHXH không chỉ tạo sự an tâm, tin tưởng của NLĐ
vào chính quyền mà còn tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, giữa
con người với con người nhằm hướng tới xây dựng một xã hội nhân văn nhân ái
không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, vị thế xã hội... Ngoài ra phần quỹ BHXH
nhàn rỗi có thể được sử dụng đầu tư phát triển kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc
hiểm hoặc có tính chất đặc biệt sẽ được tạo điều kiện nghỉ hưu sớm hơn so với
NLĐ làm việc trong điều kiện bình thường.
Cơ sở kinh tế - xã hội biểu hiện ở trình độ dân trí và nhận thức xã hội của
NLĐ cũng như NSDLĐ, ở tiềm lực và sức mạnh kinh tế của đất nước, ở khả năng
tổ chức và quản lý an sinh xã hội của mỗi quốc gia… Những yếu tố này không chỉ
quyết định một quốc gia nào đó có thể thực hiện được bao nhiêu chế độ BHXH mà
còn ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và khả năng thực thi của từng chế độ. Nền
18
kinh tế phát triển, thu nhập của NLĐ ngày càng được nâng cao thì khả năng đóng
góp cho quỹ BHXH sẽ ngày càng nhiều, từ đó có thể nâng cao được các mức
hưởng trợ cấp BHXH trong từng chế độ và ngược lại. Cơ sở kinh tế - xã hội còn
ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách cứu trợ xã hội trong hệ thống an sinh nói
chung.
- Quá trình hình thành:
Hưu trí là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử tồn tại
và phát triển của BHXH. Đặc biệt từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống an sinh
xã hội đã có nhiều cơ sở để hình thành và phát triển. Sự hẫng hụt về tiền lương trong
các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già… đã trở thành
mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập
nào khác ngoài tiền lương.
Trên thế giới, năm 1850 lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm
đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập do
bệnh tật; dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro
nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau
đó sang các nước Mỹ - Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của
thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, an sinh xã hội đã lan rộng sang các
nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê [1]. Đạo luật đầu tiên
về an sinh xã hội trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ, quy định thực hiện chế
phương hướng nhiệm vụ năm 2016.
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2014), Báo cáo tổng kết đánh giá
thi hành luật Bảo hiểm xã hội, tr. 26-32.
20
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2014), Báo cáo đánh giá tác động
dự án luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), tr. 4-8, tr. 11-18
6. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), “Hai phương án tăng
lương hưu từ năm 2016”.
7. Nguyễn Hùng Cường (2012), “Tuổi nghỉ hưu với cân đối quỹ Bảo hiểm
xã hội ở Việt Nam”.
8. Điều Bá Được (2013), “Bảo hiểm hưu trí ở Việt Nam: Thực trạng và
Thách thức”.
9. Nguyễn Thị Hà (2013), Pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay,
Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
10. Bùi Cẩm Hường (2013), “Nỗ lực cải cách hệ thống hưu trí Việt Nam:
Bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm hưu trí bổ sung”, Tạp chí Tài chính – Bảo hiểm,
(3), tr. 15-17.
11. Ngô Hoàng Hưng (2002) , Thực trạng và giải pháp về chế độ BHXH hưu
trí tại Việt Nam, Luận văn Tốt nghiệp, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr. 6-7,
tr. 19-21.
12. TS. Nguyễn Lan Hương (2009), “Tuổi nghỉ hưu của lao động nữ Việt
Nam: Bình đẳng giới trong chính sách bảo hiểm xã hội”, Quảng Ninh.
13. Nguyễn Lệ Huyền (2015), Bảo hiểm hưu trí – Thực trạng và kiến nghị,
Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
14. Bùi Sỹ Lợi (2013), “Cần sớm triển khai thí điểm thực hiện chính sách
bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính – Bảo hiểm, (3), tr. 1821.
15. Bùi Sỹ Lợi (2013), “Những quan điểm lớn và sự cần thiết sửa đổi Luật
Bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội.
23