Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
20 năm qua với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân,
công cuộc đổi mới ở nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch
sử. Cùng với sự phát triển kinh tế, các vấn đề xã hội nói chung cũng đợc quan tâm
ở mức độ thích đáng; việc làm, thu nhập, đời sống của đội ngũ lao động và sau lao
động không ngừng đợc cải thiện. Là một bộ phận của chính sách bảo hiểm xã hội ,
chế độ hu trí đang là vấn đề bức xúc hiện nay, bởi lẽ nó ảnh hởng rất lớn đến đời
sống ngời lao động khi về già. Trong bối cảnh nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trờngcó sự quản lý của Nhà nớc, khi mà có sự phân tầng và
phân cực xã hội đang diễn ra ngày càng rõ nét giữa ngời lao động và ngời sử dụng
lao động nên chế độ bảo hiểm hu trí phải là sự tơng trợ cộng đồng, là ngời trẻ giúp
ngời già nhằm giảm bớt những bất cập bảo đảm xã hội, bảo đảm cuộc sống vật
chất và tinh thần cho ngời lao động khi về hu an dỡng lúc tuổi già.
Để thực hiện yêu cầu này, trong những năm gần đây Nhà nớc đã đầu t rất
nhiều cho việc nghiên cứu cải cách chế độ bảo hiểm xã hội nói chung, chế độ bảo
hiểm hu trí nói riêng. Cho đến nay, những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hu trí
đã đợc luật hoá và định hình một cách cụ thể bằng việc ban hành luật bảo hiểm xã
hội mới có hiệu lực từ ngày 1/1/2007. Vì chế độ bảo hiểm hu trí giữ vị trí quan
trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội, là vấn đề quan tâm của tất cả mọi ngời lao
động, nên việc đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá những điểm tiến bộ, những mặt
còn tồn tại của các quy định mới về bảo hiểm hu trí, từ đó đa ra phớng hớng hoàn
thiện trong thời gian tới là việc làm cần thiết. Hơn nữa, từ khi luật BHXH 2006 có
hiệu lực cha có tài liệu nào đề cập đến nội dung này, do đó em chọn đề tài cho
khoá luận tốt nghiệp của mình là: Những điểm mới của chế độ bảo hiểm h u trí
trong luật Bảo hiểm xã hội 2006. Mặc dù chế độ bảo hiểm hu trí bao gồm 2 nội
dung: chế độ bảo hiểm hu trí tự nguyện và chế độ bảo hiểm hu trí bắt buộc, nhng
do thời gian có hạn, việc gộp chung chúng lại trong giới hạn một khoá luận tốt
nghiệp sẽ không đảm bảo tính sâu sắc, chi tiết, cụ thể, vì thế em tạm thời chỉ đề
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không kiểm soát nổi làm ảnh hởng lớn đến quá trình sinh sống, làm việc của ngời
lao động. Mặc khác cuộc sống con ngời luôn tuân theo quy luật: Sinh ra, trởng
thành, tuổi già và chết. Khi sinh ra phải dựa vào sự nuôi dỡng và chăm sóc của cha
mẹ, khi lớn lên thì phải tự lao động để nuôi sống mình và những ngời phụ thuộc.
Trong quá trình đó, con ngời không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi mà nhiều khi
gặp khó khăn, bất lợi làm cho bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc các điều kiện
sinh sống khác nh: bị ốm đau, tai nạn, mất việc làm, tuổi già,...Khi rơi vào các tr-
ờng hợp đó các nhu cầu cần thiết của cuộc sống tăng lên, có khi xuất hiện thêm
các nhu cầu mới. Để vợt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh, từ lâu ngời ta thờng
áp dụng các biện pháp phòng ngừa, khắc phục hậu quả khác nhau, trong đó hữu
hiệu nhất là lập quỹ dự trữ và tiến hành bảo hiểm tập trung trên phạm vi toàn xã
hội. Về vấn đề này, Các Mác đã khẳng định: Vì nhiều rủi ro khác nhau nên
dành phải dành một số thặng d nhất định cho quỹ bảo hiểm xã hội để đảm bảo
cho sự mở rộng theo kiểu lũy tiến quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết, phù
hợp với sự phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số
1
1
Xem: C. Mác Ph.Ăngghen tuyển tập, t5. Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hệ thống bảo hiểm xã hội ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ XIX là công
trình của chính phủ Đức dới thời thủ tớng Bismark (1883-1889) với cơ chế 3 bên
(Nhà nớc Giới chủ Giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho ngời lao
động trong một số trờng hợp họ gặp rủi ro. Chế độ bảo hiểm xã hội này bao gồm:
Chế độ bảo hiểm ốm đau (1883), bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884), và bảo
hiểm tuổi già, tàn tật( 1889). Sau đó, trớc tác dụng tích cực của bảo hiểm xã hội
trong quan hệ lao động, nhiều nớc bắt đầu áp dụng hệ thống bảo hiểm xã hội. Từ
những năm 30 của thế kỷ XX, một số nớc còn mở rộng thêm những chế độ khác
ngoài bảo hiểm xã hội và xuất hiện khái niệm mới Social Security (an sinh, an
toàn xã hội). Bản tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp thai sản
8. Trợ cấp tàn tật
9. Trợ cấp tiền tuất
Các quốc gia phê chuẩn công ớc này phải áp dụng ít nhất 3 trong số 9 dạng
trợ cấp nói trên, trong đó phải bao gồm : hoặc trợ cấp thất nghiệp, hoặc trợ cấp
tuổi già hoặc trợ cấp tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp hoặc trợ cấp tàn tật
hoặc trợ cấp tiền tuất. Việc lựa chọn dạng trợ cấp để áp dụng tuỳ thuộc vào từng
quốc gia, nhng nhìn chung là chỉ có thể ở mức cao hơn các quy định trong công ớc
chứ không đợc thấp hơn. Trong đó, trợ cấp tuổi già đợc quy định từ Điều 25 đến
Điều 30 trong phần V của công ớc. Các trờng hợp đợc bảo vệ là tình trạng sống
lâu hơn một độ tuổi quy định. Độ tuổi quy định không đợc quá 65, tuy nhiên các
nhà chức trách có thẩm quyền có thể ấn định một độ tuổi cao hơn, xét theo khả
năng làm việc của những ngời cao tuổi trong nớc đó.
Công ớc số 128 ngày 7/6/1967: công ớc về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền
tuất quy định thêm: nếu độ tuổi quy định bằng hoặc cao hơn 65, độ tuổi đó phải
đợc hạ thấp trong những điều kiện quy định nhằm mục đích cấp trợ cấp tuổi già,
đối với những ngời đã làm những công việc đợc pháp luật quốc gia coi là nặng
nhọc hoặc độc hại.
Ngời đợc bảo vệ đã có một thâm niên 30 năm đóng góp hay làm việc. Mức
trợ cấp tối thiểu so với thu nhập (trớc đó) là 40% (với ngời có vợ ở tuổi về hu). Các
trờng hợp nhận trợ cấp phải đợc trả trong suốt thời gian xảy ra trờng hợp bảo vệ.
Tuy nhiên, trợ cấp có thể bị đình chỉ nếu ngời thụ hởng tiến hành những hoạt động
có thu nhập đã đợc quy định, hoặc có thể giảm bớt trợ cấp có tính chất đóng góp
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khi thu nhập của ngời đó vợt quá một mức quy định và có thể giảm bớt trợ cấp
không có tính chất đóng góp khi thu nhập hay những phơng tiện sinh sống khác
của ngời đó, hoặc cả hai thứ cộng lại vợt quá một mức quy định.
Trên đây là những quy phạm tối thiểu mà tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã
kinh tế còn nghèo nàn nên chính sách bảo hiểm xã hội , bảo hiểm hu trí còn hạn
chế. Sau hoà bình lặp lại, ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ bảo
hiểm tạm thời kèm theo Nghị định số 218/CP về bảo hiểm xã hội cho công nhân
viên chức Nhà Nớc trong đó có chế độ hu trí. Tiếp đến ngày 18/9/1995 cùng với
việc cải cách chế độ tiền lơng , Hội đồng bộ trởng ban hành Nghị định số
236/HĐBT sửa đổi bổ sung các quy định về cách quy đổi thời gian công tác, cũng
nh quy định lại cách tính lơng hu trong chế độ hu trí.
Tuy nhiên, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ bảo hiểm hu trí
nói riêng thực sự có thay đổi căn bản bắt đầu từ năm 1993 với nghị định số 43/CP
(ngày 23/6/1993) và tiếp sau đó là các quy định của Bộ luật lao động và các văn
bản hớng dẫn thi hành . Những đổi mới qua tất cả các thời kỳ đều tập trung vào
các nội dung quan trọng của bảo hiểm hu trí nh đối tợng tham gia, điều kiện tuổi
đời, thời gian đóng và hởng trợ cấp .
Nh vậy, Việt Nam cũng nh các nớc khác, chế độ hu trí là một trong những
chế độ bảo hiểm xã hội đợc Nhà nớc hết sức quan tâm, luôn có sự sửa đổi, bổ sung
và hoàn thiện cho phù hợp với thực tế. Ngời lao động tham gia bảo hiểm khi hết
tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa đợc hởng chế độ bảo
hiểm hu trí 1 lần hoặc hàng tháng theo quy định của pháp luật. Đây là khoản trợ
cấp nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống cho ngời về hu, thay thế cho khoản tiền l-
ơng trớc đây mà họ có đợc khi còn đang tham gia quan hệ lao động.
Có thể thấy ở hầu hết các nớc và theo quan niệm của ILO, bảo hiểm hu trí
đều đợc hiểu là một chế độ bảo hiểm xã hội quan trọng nhằm đảm bảo thu nhập
cho ngời lao động khi hết tuổi lao động hoặc khi không còn tham gia quan hệ lao
động.
Dới góc độ pháp luật, chế độ bảo hiểm hu trí là tổng hợp các quy phạm
pháp luật quy định các điều kiện và mức trợ cấp cho những ngời tham gia bảo
hiểm xã hội, khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động.
1.2. Vai trò, ý nghĩa của chế độ Bảo hiểm hu trí
Trong hệ thống Bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm hu trí giữ vị trí quan
trọng. Tầm quan trọng đó không chỉ vì chế độ hu trí là vấn đề quan tâm của mọi
hiện đợc trách nhiệm của Nhà nớc trong việc thực thi các công việc của xã hội khi
thông qua việc đảm bảo cuộc sống cho ngời già, thực hiện các chơng trình an sinh
xã hội và đề ra định hớng cho sự hoạt động, phát triển của chế độ bảo hiểm hu trí,
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là điều kiện góp phần nhất định vào công cuộc ổn định, phát triển kinh tế chính
trị ... Ngoài ra, Nhà nớc còn ban hành các quy định cụ thể để gắn trách nhiệm của
chủ sự lao động đối với ngời lao động trong và sau quá trình sử dụng lao động, họ
không chỉ phải trả tiền lơng cho ngời lao động khi làm việc mà còn phải đóng quỹ
bảo hiểm để đảm bảo đời sống ngời lao động khi nghỉ hu nhằm bảo vệ lợi ích hợp
pháp của những ngời lao động này. Do đó, chế độ hu trí là cách thức để nhà nớc
quản lý rủi ro xã hội, để có chính sách phù hợp với tình hình kinh tế chính trị
của đất nớc. Hơn nữa, thực hiện tốt tất cả các chính sách, chế độ BHXH, bảo hiểm
hu trí đến với mọi ngời dân không những là mục tiêu của nhà nớc ta mà là mục
tiêu chung của các quốc gia bởi vì nó là thớc đo năng lực và trình độ của mỗi quốc
gia. Chỉ có quốc gia nào có hệ thống BHXH, bảo hiểm hu trí hoàn thiện chứng tỏ
quốc gia đó là quốc gia phát triển.
Xu hớng già hóa của dân số thế giới càng nhiều dẫn đến số lợng những ngời
nghỉ hu ngày càng gia tăng, để đảm bảo ổn định xã hội và an toàn xã hội, đòi hỏi
bảo hiểm xã hội hu trí ra đời là không thể thiếu và ngày càng phải đợc mở rộng,
hoàn thiện hơn để phù hợp với tình hình kinh tế chính trị xã hội. Do đó, chế
độ bảo hiểm xã hội đã thể hiện đợc tính nhân đạo của bảo hiểm xã hội đối với con
ngời. Đồng thời, chế độ hu trí còn khơi dậy và giữ vững đạo lý tốt đẹp của dân tộc
về tơng trợ cộng đồng, săn sóc và quan tâm đến ngời cao tuổi cũng nh phản ánh
trình độ văn minh của một chế độ xã hội.
Nh vậy, chính sách bảo hiểm hu trí nhìn chung phải là một chính sách mang
tính lâu dài, tơng đối ổn định. Chế độ bảo hiểm hu trí là một trong những vấn đề
xã hội, đang dành đợc sự quan tâm rất lớn của ngời lao động, của Nhà nớc, của
ILO và các tổ chức Quốc tế khác.
2. Đánh giá chung về thực trạng bảo hiểm hu trí trớc khi ban hành Luật
Việc quản lý Nhà nớc về bảo hiểm hu trí đã đợc thực hiện thống nhất trên
cơ sở phân định rõ chức năng quản lý Nhà nớc với chức năng hoạt động sự nghiệp
của bảo hiểm xã hội.
2.2. Những vấn đề còn tồn tại
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, chính sách bảo hiểm xã hội còn bộc lộ
những tồn tại, cụ thể nh sau:
2.2.1. Về ban hành chính sách bảo hiểm xã hội
Điều lệ bảo hiểm xã hội đã ra đời từ cách đây hơn 10 năm mà đến năm
2006 vẫn mang tính tạm thời, các văn bản chỉ đạo thực hiện, sửa đổi, bổ sung các
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chế độ cụ thể vẫn là các văn bản dới luật, cộng với sự tuân thủ pháp luật cha
nghiêm đã hạn chế nhiều đến hiệu quả trong thực tế. Mặc khác, chế độ bảo hiểm
hu trí đợc sửa đổi quá nhiều lần trở lên chắp vá, thiếu tính khoa học, nhiều nội
không hợp lý và thiếu thống nhất.
2.2.2. Về phạm vi đối tợng
Trong suốt thời gian qua, đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tuy đã
đợc mở rộng nhng với số ngời tham gia cha nhiều. Hiện nay, trong khoảng hơn 10
triệu ngời có quan hệ lao động thì chỉ mới có 6 triệu ngời tham gia bảo hiểm xã
hội, chủ yếu vẫn là lao động thuộc khu vực Nhà nớc; số lao động làm việc ở khu
vực ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội thấp, chỉ chiếm khoảng 20% tổng
số lao động thuộc diện phải tham gia bảo hiểm xã hội.
2.2.3. Về chế độ bảo hiểm hu trí hàng tháng
Các quy định về quyền lợi và trách nhiệm của ngời lao động đợc quy định
trong chế độ hu trí này cha hợp lý:
+ Công thức đóng/ hởng cha hợp lý:
- Công thức tính lơng hu hàng tháng còn có sự phân biệt giữa lao động nam
và lao động nữ, trong khi tỷ lệ đóng bảo hiểm là nh nhau. Điều đó là không công
bằng giữa các lao động này.
- Đối với ngời lao động hởng hu trí hàng tháng với mức thấp thì sẽ giảm 1%
thì chỉ cần có đủ 15 năm trở lên có đóng BHXH. Qua đó, ta thấy sự cha thống nhất
trong quy định về tời gian đóng bảo hiểm tối thiểu giữa các đối tợng tham gia.
+ Mức lơng trợ cấp 1 lần khi hởng bảo hiểm, hu trí hàng tháng cho ngời có
thời gian đóng BHXH lâu hơn khống chế không quá 5 tháng lơng là không phù
hợp, vì nó không khuyến khích các đối tợng lao động tham gia bảo hiểm xã hội
nhiều hơn, đóng góp công sức nhiều hơn.
+ Tuổi về hu của lao động nữ đợc quy định chung là 55 tuổi là cha linh
hoạt, vì hiện nay, trong một số lĩnh vực, ngành nghề (ví dụ: nghiên cứu khoa học,
bác sĩ, giáo viên, ...) mặc dù đã đến tuổi về hu nhng đa số họ vẫn đủ sức khỏe và
đang phát huy kinh nghiệm làm việc. Nh vậy, quy định này vừa lãng phí lao động,
vừa dẫn đến thất thu và bội chi quỹ bảo hiểm xã hội.
Mức bình
quân tiền lơng
tháng = để
tính lơng hu
Tổng số TL làm căn cứ +
đóng BHXH theo thang
bảng lơng do Nhà nớc
quy định
Tổng số TL làm căn cứ
đóng BHXH không theo
thang lơng bảng do
Nhà nớc quy định
Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.4. Về chế độ bảo hiểm hu trí một lần
+ Về đối tợng hởng hu trí 1 lần, pháp luật cũ còn quy định quá nhiều đối t-
ợng và không có sự thống nhất giữa các văn bản: Theo nghị định số 01/2003/NĐ-
CP thì chỉ có 2 trờng hợp đợc hởng hu trí 1 lần: ngời lao động định c hợp pháp ở n-
xen này là việc giảm tuổi đời hoặc quy đổi thời gian công tác. Điều này góp phần
làm cho mức chi trợ cấp cho các chế độ hu trí và mất sức lao động là rất lớn.
3. Sự cần thiết phải đổi mới chế độ bảo hiểm hu trí theo Luật BHXH 2006
Theo sự phân tích trên, bảo hiểm hu trí còn nhiều vấn đề tồn tại, cha có khả
năng phát triển bền vững. Vì vậy, yêu cầu đổi mới chế độ bảo hiểm hu trí, giải
quyết các tồn tại trên theo hớng:
+ Cần pháp điển hoá các chế định về bảo hiểm hu trí trong một văn bản
thống nhất, trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu đạt đợc.
+ Mở rộng đối tợng tham gia bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hu trí
nói riêng, không chỉ theo hình thức bắt buộc mà còn theo hình thức tự nguyện.
+ Xác định công thức đóng hởng hợp lý trên cơ sở: thống nhất dần cách
tính bảo hiểm giữa các thành phần kinh tế, giải quyết chế độ hu trí cho lao động
nữ một cách hợp lý, thống nhất điều kiện về thời gian đóng để hởng bảo hiểm hu
trí hàng tháng
+ Cần tách chế độ bảo hiểm hu trí với các chế độ, chính sách khác.
+ Cần có quy định về đầu t, quản lý quỹ bảo hiểm xã hội để quỹ phát triển
hiệu quả, đảm bảo cân đối thu chi.
Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua
cũng đòi hỏi bảo hiểm xã hội phải có sự đổi mới tơng ứng.
Qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế nớc ta đã có những thay đổi cơ bản từ một
nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín với cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, chúng
ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trờng, định hớng XHCH, không những đã thoát
khỏi khủng hoảng và lạm phát mà đã có sự tăng trởng. Sau khi kết thúc kế hoạch 5
năm (1991 1995), với hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch đều hoàn thành và hoàn
thành vợt mức, đất nớc ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, 10 năm gần
đây, là 10 năm phát triển kinh tế ổn định với tốc độ cao, GDP đạt bình quân 7,5%/
năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%; mức bình quân theo đầu ngời năm 1995 là 206
nghìn đồng, năm 2005 là 640 USD, năm 2006 là 720 USD. Nh vậy, mức GDP tính
theo đầu ngời năm 2005 gấp 2,2 lần năm 1995. Nguồn vốn đầu t nớc ngoài tăng
nhanh, năm 2005 đạt trên 5,2 tỷ USD, tính chung mọi nguồn vốn cho đầu t phát
rộng đối tợng tham gia là vấn đề rất cần thiết.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nớc ta đang thực hiện chính sách đổi mới, chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trờng theo định hớng XHCN, có sự quản lý của Nhà nớc. Trong bối cảnh đó, quan
hệ lao động theo cơ chế mới cũng hình thành, ngời lao động thuộc mọi thành phần
kinh tế đợc bình đẳng trớc pháp luật Thực tế đó cũng đóng góp không ít thành
công trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bên cạnh đó cũng còn bộc
lộ một số vấn đề cần khắc phục.
Việc thực thi các chính sách còn cha triệt để tạo nhiều kẽ hở cho nhiều đối
tợng lao động và sử dụng lao động dựa vào đó để tìm cách vi phạm pháp luật về
bảo hiểm hu trí, hàng triệu ngời lao động thuộc diện bắt buộc nhng cha tham gia
bảo hiểm xã hội, đặc biệt là khu vực ngoài Nhà nớc.
Hơn nữa, qua gần 20 năm phát triển kinh tế thị trờng và 10 năm tách quỹ
bảo hiểm xã hội độc lập với Ngân sách Nhà nớc, cho thấy Việt Nam đã có kinh
nghiệm để hoàn thiện bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hu trí nói riêng phù
hợp với điều kiện mới củă nền kinh tế thị trờng.
Xuất phát từ tình hình nói trên, việc ban hành luật BHXH nhằm pháp điển
hoá các quy định hiện hành và bổ sung các quy định mới về bảo hiểm xã hội cho
phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN, đáp
ứng nguyện vọng đông đảo của ngời lao động, đảm bảo an sinh xã hội và hội nhập
quốc tế.
16