A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Để đáp ứng nhu cầu của hoạt động trọng tài trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, ngày 25/02/2003, Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại (có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2003) tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các Trung tâm Trọng tài
thương mại thay cho hoạt động của các Trọng tài kinh tế.
Pháp lệnh Trọng tài thương mại về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế
trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của Trọng tài như: quy định về hiệu lực của thoả
thuận trọng tài, điều kiện trở thành Trọng tài viên, về trọng tài vụ việc, mở rộng thẩm quyền
chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Toà án bằng một loạt các quy
định cụ thể như hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định Trọng tài viên, giải quyết khiếu
nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết
yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài ...
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu việt nói trên, qua 06 năm thực hiện, Pháp lệnh Trọng
tài thương mại đã bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập, cần được khắc phục bằng việc
ban hành một đạo luật mới về trọng tài thương mại – Luật Trọng tài thương mại để thay
thế Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù
hợp với Pháp lệnh kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn.
Vậy ta hiểu thế nào là trọng tài thương mại? Những tranh chấp nào có thể được giải
quyết bằng trọng tài thương mại? Luật trọng tài thương mại năm 2010 có những điểm gì
mới so với pháp lệnh trọng tài thương mại 2003? Tất cả câu hỏi sẽ được giải đáp trong
phần nội dung của bài tập này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1
I./ KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI.
1.Trọng tài thương mại là gì?
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
thương mại tiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của
pháp luật.
Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi Hội đồng trọng tài thuộc một trung
tâm trọng tài nhất định hoặc bởi Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, tùy thuộc vào
Luật không có giới hạn về phạm vi chủ thể tranh chấp. Tổ chức, cá nhân bất kỳ đều
có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp miễn là lĩnh vực tranh chấp
phát sinh từ hoạt động thương mại. Trong khi đó, theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại
năm 2003, chỉ có tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh mới có quyền lựa chọn
trọng tài.
Thực tiễn áp dụng cho thấy, việc giới hạn phạm vi chủ thể tranh chấp chỉ bao gồm
“tổ chức kinh doanh” và “cá nhân kinh doanh” khiến các bên tranh chấp và các trung tâm
trọng tài gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Thứ nhất, về thuật ngữ “cá nhân kinh doanh”. Do Pháp lệnh và các văn bản hướng
dẫn thi hành Pháp lệnh không giải thích thế nào là “cá nhân kinh doanh” nên có nhiều cách
hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Có quan điểm cho rằng, bất kỳ một cá nhân nào bỏ vốn
3
ra để đầu tư, kinh doanh không phân biệt phạm vi và quy mô kinh doanh đều được gọi là
cá nhân kinh doanh. Tuy nhiên, quan điểm khác lại cho rằng để được gọi là “cá nhân kinh
doanh” thì cá nhân đó phải có đăng ký kinh doanh.
Thứ hai, về thuật ngữ “tổ chức kinh doanh”. Trong thực tế, có rất nhiều tổ chức
không phải là tổ chức kinh doanh như các ban quản lý dự án, cơ quan hành chính sự
nghiệp tham gia đấu thầu hoặc giao kết các hợp đồng, kể cả các hợp đồng mua sắm chính
phủ, trong đó sử dụng trọng tài theo khuyến nghị của các nhà tài trợ, định chế tài chính
quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á v.v.... và trên thế giới các
chủ thể này hoàn toàn có quyền lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, tuy nhiên tại
Việt Nam lại không được phép lựa chọn trọng tài vì không phải là tổ chức, cá nhân kinh
doanh. Ngoài ra, với sự xuất hiện của Luật Đầu tư năm 2005 trong đó xác định trọng tài có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp mà một bên chủ thể là cơ quan quản lý Nhà nước nên
quy định của Pháp lệnh trọng tài năm 2003 đã không còn phù hợp nữa.
Những điểm bất cập trên đã khiến các trung tâm trọng tài phải từ chối giải quyết
nhiều vụ tranh chấp do các bên tranh chấp không phải là tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân
kinh doanh. Tuy nhiên, Luật Trọng tài thương mại đã dỡ bỏ những hạn chế và bất cập trên.
Với việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài, số vụ tranh chấp đưa ra trọng tài sẽ nhiều hơn
trong thời gian tới.
định bảo vệ họ trong các tình huống cần thiết.
4. Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003.
5
Luật Trọng tài thương mại vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng
tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính
chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội. Theo đó cá nhân có năng lực hành vi dân
sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên có thể là
Trọng tài viên (Điều 20 khoản 1 (a), 1(b). Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp
có thể lựa chọn Trọng tài viên phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên
môn sâu, Luật có quy định mở đó là trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ
chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu của 1
(a), 1(b), cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên (Điều 20 khoản 3)
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật
Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Điều đó
có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam
nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu
thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Về trọng tài quy chế.
So với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài bổ sung một số nội
dung dưới đây:
Thứ nhất, so với Pháp lệnh năm 2003, Luật Trọng tài thương mại đã đưa ra định
nghĩa pháp lý về Trọng tài quy chế để thay cho khái niệm “Hội đồng trọng tài được thành
lập tại Trung tâm trọng tài” do Pháp lệnh năm 2003 quy định. Theo đó, Trọng tài quy chế
là hình thức trọng tài được tiến hành tại Trung tâm trọng tài và theo quy tắc tố tụng của
Trung tâm trọng tài.
Thứ hai, Luật cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng
tài phù hợp với đặc thù của mỗi trung tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối với các bên tranh
chấp. Chỉ khi nào các bên không có thỏa thuận hoặc Quy tắc tố tụng trọng tài của trung
tâm trọng tài không có quy định khác, lúc đó Luật mới đưa ra quy định hướng dẫn.
6