MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................................... 3
1.Lý do chọn đề tài ........................................................................................................................................ 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................................................ 5
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................................. 5
3.1 Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................................... 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................................................ 6
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................................................. 6
6. Bố cục bài nghiên cứu khoa học ............................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO XỨ NINH CƢỜNG ............................................................. 8
1.1. Lịch sử và quy mô tổ chức của giáo xứ Ninh Cƣờng .................................................................... 8
1.1.1. Tên gọi và chức năng ........................................................................................................ 8
1.1.2. Lịch sử và quá trình phát triển của nhà thờ Ninh Cường ................................................... 8
1.1.3. Quy mô tổ chức của giáo xứ Ninh Cường ........................................................................ 10
2.1. Sự hòa trộn các giá trị nghệ thuật diễn xƣớng trong lễ hội Công giáo ...................................... 12
2.1.1 Giá trị nghệ thuật diễn xướng trong nghi lễ công giáo ...................................................... 12
2.1.2 Nghệ thuật diễn xướng trong âm nhạc công giáo.............................................................. 12
2.1.3 Nghệ thuật diễn xướng trong vũ đạo công giáo................................................................. 14
2.1.4 Nghệ thuật diễn xướng trong sân khấu ............................................................................ 15
2.2. Các lễ hội diễn ra tại giáo xứ Ninh Cƣờng ................................................................................... 16
2.2.1. Mùa Vọng – Giáng Sinh ................................................................................................. 17
2.2.2. Mùa Chay ....................................................................................................................... 18
2.2.3. Mùa phục sinh................................................................................................................ 21
2.2.4. Lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi ngày 7/10 ................................................................. 22
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CÁC LỄ HỘI CÔNG
GIÁO TẠI GIÁO XỨ NINH CƢỜNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NAM ĐỊNH ... 25
3.1. Thực trạng hoạt động du lịch tại giáo xứ Ninh Cƣờng ............................................................... 25
3.1.1 Công tác quản lý .............................................................................................................. 25
3.1.2 Hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch ........................................................... 25
3.1.3. Thực trạng khai thác du lịch ........................................................................................... 26
3.2. Một số giải pháp khai thác có hiệu quả các lễ hội Công giáo tại giáo xứ Ninh Cƣờng phục
PHỤ LỤC ....................................................................................................................................... 40
2
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Ngày nay cùng với sự hội nhập và chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế, du
lịch đóng vai trò lớn trong thành phần kinh tế của mỗi quốc gia. Với xu hƣớng
chung của toàn cầu việc tìm ra giải pháp đẩy mạnh phát triển ngành du lịch nói
chung và ngành dịch vụ du lịch nói riêng đang là vấn đề cần đƣợc nghiên cứu.
Việt Nam là đất nƣớc có thiên nhiên tƣơi đẹp, nền văn hóa đậm đà bản sắc Á
Đông.
Tuy rằng du lịch nghỉ biển hiện nay vẫn chiếm ƣu thế nhƣng xu hƣớng
chung của du lịch thế giới trong những năm tới là sự phát triển của loại hình du
lịch văn hóa. Đây là một cơ hội cho phát triển du lịch Việt Nam với thế mạnh là
nền văn hóa giàu bản sắc Phƣơng Đông cùng sự giao lƣu tiếp biến có chọn lọc
để tạo nên nét bản sắc văn hóa phƣơng Tây mới lạ, đồng thời cũng đặt ra yêu
cầu cần phải phát hiện và có những biện pháp khai thác tối đa các giá trị văn hóa
tâm linh độc đáo để biến chúng thành sản phẩm hấp dẫn du khách.
Nếu nhƣ du lịch tâm linh ở các nƣớc trên thế giới gắn liền với du lịch tôn
giáo thì ở Việt Nam, du lịch tâm linh hƣớng về cội nguồn, về lịch sử thờ cúng tổ
tiên. Tục thờ cúng tổ tiên vốn có từ lâu đời, đặc biệt trong những năm gần đây,
chùa chiền, đền, miếu là tâm điểm thu hút khách hành hƣơng và du khách nƣớc
ngoài. Mặc dù chƣa có khái niệm du lịch tâm linh nhƣng đối với nhiều ngƣời
Việt Nam, việc đi lễ chùa nhƣ một thói quen để thỏa mãn nhu cầu tín ngƣỡng,
với mong muốn những điều tốt đẹp cho gia đình. Nhu cầu của con ngƣời luôn
biến đổi cùng với thời gian đòi hỏi ta phải tìm ra một yếu tố mới, có thể thu hút
du khách. Trong việc hội nhập Công giáo vào nền văn hóa Việt Nam, Công giáo
chú trọng về đạo hiếu và coi đạo hiếu nhƣ nền tảng của mình, nên Công giáo
đặt ra cấp thiết.
Là một sinh viên Công Giáo sinh ra lớn lên ở vùng Công Giáo Ninh Cuờng
–Bùi Chu, trực tiếp thẩm nhận những giá trị văn hóa đặc sắc của nó. Hơn nữa,
lại đƣợc đào tạo ở khoa Văn hóa du lịch, trƣờng Đại học Văn hóa Hà Nội, đã
giúp tôi thấy đƣợc tiềm năng to lớn trong việc nghiên cứu khai thác các lễ hội
Công Giáo tại đền thánh Ninh Cƣờng phục vụ phát tiển du lịch tại Nam Định.
Từ những lý do khách quan và chủ quan đó cộng với sự gợi ý của giảng viên
hƣớng dẫn khoa học, tôi đã chọn để tài „‟ Khai thác các lễ hội Công Giáo tại nhà
thờ Ninh Cƣờng phục vụ phát triển du lịch Nam Định „‟ làm đề tài cho bài
nghiên cứu khoa học chuyên ngành Văn hóa Du lịch của mình.
4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài nghiên cứu khoa học này là 1 đề tài nghiên cứu đánh giá tiềm năng
khi khai thác các lễ hội Công giáo tại nhà thờ Ninh Cƣờng phục vụ phát triển du
lịch tại tỉnh Nam Định.
-Tác phẩm „‟ Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam‟‟ của
TS Nguyễn Hồng Dƣơng, NXB Khoa học xã hội , Hà Nội, 2001, 390 trang:
Cuốn sách đƣợc chia làm 2 phần chính „‟Nghi lễ Công giáo trong văn hóa Việt
Nam‟‟ và „‟ Lối sống Công giáo vào đời sống văn hóa Việt Nam, nêu lên các
đóng góp của Công giáo với nền văn hóa dân tộc trên các lĩnh vực : kiến trúc,
ngôn ngữ , âm nhạc, báo chí, lối sống….
-Cuốn sách „‟ Tìm nét đẹp văn hóa Thiên Chúa Giáo‟‟ của tác giả Hà Huy
Tú ( Viện Văn hóa), NXB Văn hóa- thông tin, Hà Nội , 2002, 369 trang : Cuốn
sách chia làm hai phần chính: nét đẹp văn hóa và nét đẹp nghệ thuật Thiên chúa
giáo. Trong nội dung đầu tác giả đi từ chuẩn mực đạo đức đến các nét mới của
văn hóa Thiên chúa giáo, lễ hội và lễ tết của giáo dân, bản sắc văn hóa Việt Nam
thể hiện trong đời sống Đức tin…Phần hai tập trung vào nét đẹp nghệ thuật
có hiệu quả các lễ hội Công giáo phục vụ phát triển du lịch tại tỉnh Nam Định.
Đó là mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ mà bài nghiên cứu khoa học này đã
giải quyết để đi đến kết quả sau cùng là tìm ra một hƣớng đi mới, một sản phẩm
mới phát triển du lich cho tỉnh Nam Định.
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài nghiên cứu khoa học
này là các lễ hội công giáo tại nhà thờ Ninh Cƣờng-thị trấn Ninh Cƣờng, huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định.Để thấy đƣợc rõ hơn các giá trị của nó, bài nghiên
cứu khoa học đã mở rộng, kết hợp với một số nhà thờ Công giáo khác và các di
tích lịch sử văn hóa khác trong tỉnh Nam Định.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc các mục đích, nhiệm vụ của đề tài đặt ra, giải quyết các
luận điểm của mình bài nghiên cứu khoa học đã sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu cơ bản nhƣ sau:
-Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp
-Phƣơng pháp khảo sát thực địa
-Phƣơng pháp hệ thống loại hình
-Phƣơng pháp so sánh đối chiếu
Trong khi nghiên cứu, bài nghiên cứu khoa học này cũng sử dụng nhiều tƣ
liệu để tham khảo các thông tin cần thiết: các văn bản pháp quy của Nhà nƣớc,
sách, báo, tạp chí, internet, các niên giám thống kê, các luận văn và đề tài nghiên
6
cứu khoa học…Các thông tin tham khảo chỉ đƣợc sử dụng làm minh chứng rõ
thêm cho luận điểm vừa trình bày, chứ không sử dụng làm luận điểm của mình.
Các nguồn tƣ liệu đều đƣợc lấy từ các văn hóa phẩm đƣợc phép lƣu hành, xuất
bản của cơ quan quản lý nhà nƣớc Việt Nam.
việc phụng thờ Thiên Chúa mà các tín hữu có quyền lui tới để làm việc thờ
phụng, nhất là cách công cộng” (khoản 1214, giáo luật Công giáo, 1986). Ở Việt
Nam, nhà thờ Công giáo đƣợc chia làm ba loại: nhà thờ Chính tòa (nhà thờ
chính của 1 giáo phận lớn, có đặt ngai Đức giám mục), nhà thờ giáo xứ (nhà thờ
của một xứ đạo-đơn vị cấp cơ sở của các giáo phận) và nhà thờ họ đạo (nhà
nguyện ở các họ đạo-cấp cơ sở của giáo xứ).
Căn cứ vào đó thì nhà thờ Ninh Cƣờng ngày nay thuộc hạt Ninh Cƣờng,
Giáo phận Bùi Chu. (Nam Định)
1.1.2. Lịch sử và quá trình phát triển của nhà thờ Ninh Cường
Xứ Ninh Cƣờng xƣa thuộc tổng Quần Anh, huyện Nam Chân, phủ Thiên
Trƣờng (nay thuộc xã Trƣc Phú huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định). Đây đƣợc coi
là nơi đầu tiên đạo Công Giáo truyền vào Việt Nam. Khi giáo hội Việt Nam còn
sơ khai, Ninh Cƣờng đã đƣợc ánh sang Phúc âm chiếu rọi. Theo "Khâm định
8
Việt sử Thông giám Cƣơng mục" thì vào năm 1533 (đời vua Lê Trang Tông),
một giáo sĩ Phƣơng Tây tên là I-nê-khu theo đƣờng biển vào giảng đạo tại làng
Quần Anh – Ninh Cƣờng – Trà Lũ – Nam Định. Ban đầu các linh mục dòng Tên
đến truyền giáo tại Ninh Cƣờng và cho lệ thuộc vào giáo xứ Kiên Lao. Năm
1802, linh mục Orta thuộc dòng Tên qua đời, các cha dòng Đa-minh đến thay
thế. Đầu tiên cha thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần coi xứ Lác Môn và kiêm xứ
Ninh Cƣờng. Năm 1838 Ninh Cƣờng sát nhập vào Lác Môn. Năm 1858, linh
mục Vinh Valentino – Berrio – Ochoa cử hành lễ thụ phong giám mục ban đêm
với gậy tre, mũ giấy tại nhà ông huyện Hinh.
Quan thầy: Đức Mẹ Mân Côi. Nhà thờ làm năm 1894, 10 gian rộng 4 hàng
cột gỗ lim, xà ngang và các đầu trụ đƣợc trạm trổ tinh vi theo các bƣớc hoạ cổ
trong Đạo. Bàn thờ là một toà sơn son thiếp vàng, hai nhà hội quán cạnh nhà
thờ. Nhà xứ xây năm 1950, gồm có nhà chính 2 tầng và 3 nhà phụ. Diện tích khu
+ Phục hồi “hội quán Ninh Cƣờng” chính là nhà lƣu niệm cổ để kỉ niệm
Đức cha Thánh Vinh thụ phong truyền chức linh mục(13/8/1858). Đây là nhà
lƣu niệm cổ có lƣu giữ đồ dùng của các Cha trong thời kì đầu đi giảng đạo.
Ngoài ra, còn có nhiều đồ cổ ở đây đƣợc giáo dân quyên góp nhƣ: cối xay cổ,
dần, sàng, mâm gỗ cổ, chén đĩa…
1.1.3. Quy mô tổ chức của giáo xứ Ninh Cường
Tổ chức giáo xứ đứng đầu gồm có: Cha xứ, Cha phó, các thầy giảng, các
thiếu niên chuẩn bị vào chủng viện và những ngƣời giúp việc. Ngày nay còn
thêm các “sơ” là phụ nữ để dạy hát cho các đoàn hội và hát lễ ở nhà thờ.
Ban hành giáo xứ gồm có các vị kì mục và các giáo dân có hạnh kiểm tốt.
- Một chánh trƣơng: đứng đầu ban chấp hành, thi hành những nhiệm vụ
thƣờng ngày trong xứ, chủ toạ các phiên họp hội đồng hàng phủ và thay mặt
hàng phủ để giao thiệp với các xứ khác.
-Một phó trƣơng: phụ giúp các chánh trƣơng trong công tác, khi chánh
trƣơng vắng mặt hoặc khuyết tịch thì phó trƣơng đảm nhiệm công việc của
chánh trƣơng để thi hành trong giáo xứ.
-Một tổng thƣ ký: lƣu giữ hồ sơ, sổ sách và biên bản của các phiên họp định
kì hay bất thƣờng của hội đồng ban hành giáo, trình bày các hoạt động của giáo
xứ trong các phiên họp về công tác văn hoá, giáo dục xã hội, ngoại giao.
-Một thủ quỹ (quản thủ tài chính): có nhiệm vụ ghi chép các khoản thu chi
trong giáo xứ.
Ninh Cƣờng là một xứ lớn có 9 họ và 8 họ lẻ khác nữa mà ngƣời dân địa
phƣơng gọi là “giâu‟‟. Tổng số giáo dân trên 15,000 ngƣời.
Chín họ trong giáo xứ gồm:
10
+ Họ Đông Đƣờng: quan thầy thánh Gio-an-Kim.
quan trọng trong đời sống sinh hoạt của giáo dân địa phƣơng.
2.1.1. Giá trị nghệ thuật diễn xướng trong nghi lễ công giáo
Mỗi tôn giáo đều có nghi lễ thờ phụng riêng. Nghi lễ đƣợc biểu đạt với các
hình thức khác nhau. Nếu trong đạo phật có các hình thức nhƣ: cúng, bái, dâng
hƣơng, tế, lễ… thì trong Công giáo có những nghi lễ thờ phụng nhƣ: hát kinh,
hát thánh ca, …
Trong việc thực hành các nghi lễ đó, để phù hợp với những điều kiện của
địa phƣơng thì nhà thờ Ninh Cƣờng đã có những thay đổi cho phù hợp nhƣng
vẫn giữ nguyên bản chất của nghi lễ Roma. Đó là những gì liên quan tới nghi
thức dâng bánh rƣợu, bẻ bánh và hiệp lễ. Trƣớc hết là các nghi thức bài đọc kinh
mang tính chất ngân vịnh, đọc theo các cung giọng khác nhau, theo mùa để giáo
dân dễ hiểu, dễ nhớ và thể hiện lòng thành kính với Thiên chúa. Nhƣ trong mùa
thƣơng khó giáo dân sẽ đọc sách ngắm theo cung giọng thƣơng sầu để tƣởng
niệm cuộc thƣơng khó của chúa Giê – su chịu nạn. Nghi lễ còn đƣợc Việt hoá ở
phần trang phục, nghi trƣợng cho đến cách thức tiến hành. Nghi thức này khác
với các nghi thức công giáo trên toàn cầu, thấm đấm ảnh hƣởng của truyền
thống của ngƣời Việt Nam từ bao đời.
2.1.2. Nghệ thuật diễn xướng trong âm nhạc công giáo
Trong các hình thức diễn xƣớng âm nhạc ở nhà thờ Ninh Cƣờng, trƣớc hết
phải kể đến những bài hát thánh ca. Lời thánh ca đƣợc rút ra từ các văn bản
phụng vụ, trong đó phần lớn trích từ Thánh Kinh. Nhạc thánh ca hoán cải từ chỗ
12
lai căng, mƣợn nhạc Rô ma đƣa lời Việt vào đến chỗ sáng tác bằng lời Việt dựa
trên những làn điều dân ca Việt Nam để giáo dân dễ thuộc và có thể cùng hát.
Các bài hát thánh ca phải hội tụ đủ yếu tố thánh thiện và hình thức hoàn mỹ cả
2.1.3. Nghệ thuật diễn xướng trong vũ đạo công giáo
Khao khát dùng những giá trị văn hoá truyền thống của mình để biểu đạt
niềm tin tâm linh là nguồn gốc để giáo dân Ninh Cƣờng tạo dựng nên những giá
trị diễn xƣớng độc đáo, lƣu giữ những giá trị cổ truyền thể hiện đậm nét trong vũ
đạo công giáo.
Trƣớc hết phải kể đến hình thức múa hát dâng hoa, đây là một hình thức
công giáo Ro-ma trong tháng 5 nhằm tôn kính Đức Mẹ nhƣng cũng đƣợc Việt
hoá. Đây là những điệu múa đƣợc cải biên từ những điệu múa dân gian Việt
Nam, chủ yếu là các điệu múa dân gian Bắc Bộ có trong chèo, chầu văn.
Tại Đền thánh Ninh Cƣờng có rất nhiều đội hình múa hoa với trang phục áo
dài có màu sắc riêng nhƣ: hội “Con Đức Mẹ lên trời” là các bà, các mẹ trong độ
tuổi từ 40-55 tuổi với áo dài màu đỏ; hội “Con Đức Mẹ Fatima” áo hồng; hội
“Khấn” là các em thiếu nhi nhỏ tuổi từ lớp 1 đến lớp 4 sẽ mặc váy trắng nhƣ
thiên thần, cổ tay buộc dải lụa, đầu cài nơ hoa, chân đi hài. Và đặc biệt hơn nữa
tại đền thánh Ninh Cƣờng có hội “Huynh Đoàn Đa Minh” mà giáo dân quen gọi
là hội “Gia Trƣởng” là hội dâng hoa của nam giới, các ông các bác trong độ tuổi
35-55 sẽ thắt ca-vát, quần âu, áo sơ mi trắng, đi giầy tây và có bài hát dâng hoa
riêng. Mỗi đoàn hội đều có bài dâng hoa riêng, đạo cụ chính là những bông hoa
huệ tƣơi, nến, quạt…
Bên cạnh đó vũ đạo công giáo còn phong phú với hình thức múa trống, múa
trắc. Giáo xứ Ninh Cƣờng có khoảng 17 hội trống, mỗi hội gồm từ 15 đến 20
nam giới thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, mỗi ngƣời điều khiển một chiếc trống
phù hợp với vóc dáng của mình. Ngƣời khoẻ, cao to thì đeo trống to trƣớc cổ,
trống tròn vừa cho các em học sinh lớp 8&9, trống gỗ hình cá chép cho các em
lớp 6&7, thanh niên thì chơi thanh la lão bạt bằng đồng. Đi đầu hội trống sẽ có 1
trống lớn nhất đặt trên xe kéo do một nam giới có sức khoẻ tốt điều khiển, ngƣời
ta gọi là trống cái. Ngƣời ta vừa đánh trống vừa có ngƣời nhảy múa xoay tròn
“ông Trƣơng là ngƣời đứng đầu hội trống sẽ thổi còi và bắt nhịp để hội đánh
Trong đêm Giáng sinh (24/12 dƣơng lịch) có những vở kịch diễn lại tích
Chúa Hài Đồng (lấy hình tƣợng từ một đứa trẻ Việt Nam) sinh ra trong máng cỏ
tại hang Bê-lem tuyết rơi lạnh giá khi cha mẹ Ngƣời đang trốn chạy khỏi sự truy
bắt của vua Herod. Vở kịch có sự tham gia của nhiều đối tƣợng giáo dân từ
ngƣời già, trẻ nhỏ, thanh niên, phụ nữ xen kẽ các bài thánh ca tuyệt vời làm cho
ngƣời xem cảm nhận đƣợc một cách trực quan niềm hân hoan khi chúa sinh ra
đời. Lối diễn tả qua hình thức sân khấu từ năm này qua năm khác. Năm nay
ngƣời này diễn ngƣời kia xem, sang năm sẽ có sự thay đổi nên ai cũng đƣợc thể
hiện tài năng của mình trƣớc cộng đồng giáo dân xứ Ninh Cƣờng. Du khách có
15
thể tham gia vào các cuộc rƣớc, diễn ca trực tiếp cảm nhận sức hút của loại hình
diễn xƣớng này.
2.2. Các lễ hội diễn ra tại giáo xứ Ninh Cƣờng
Lễ hội là dịp ngƣời dân quê từ già tới trẻ quanh năm suốt tháng bán mặt cho
đất, bán lƣng cho trời đƣợc thi thố tài năng, sum họp gia đình, thể hiện tài nghệ
của mình trƣớc cộng đồng. Với ý nghĩa nhƣ vậy lễ hội công giáo là dịp làng giáo
xứ đạo biểu dƣơng sức mạnh cộng đồng. Lễ hội công giáo mang hầu hết nội
dung của một lễ hội truyền thống: hát, hò, trò, tích. Ở đó có hát thánh ca, có múa
mõ, múa trắc, trống thuật lại các việc làm khi chúa Giê-su truyền giáo. Áo lễ là
áo giành riêng cho các linh mục mặc khi cử hành thánh lễ. Áo lễ có nhiều màu
khác nhau và đƣợc dùng cho từng mùa phụng vụ theo truyền thống công giáo
hội. Lễ hội công giáo góp phần hun đúc đức tin của ngƣời công giáo truyền tải
nội dung công giáo. Nó làm cho bộ phận cƣ dân Việt Nam – công giáo không
những đƣợc củng cố mà còn góp phần liên kết cộng đồng cƣ dân Việt Nam công
giáo với cộng đồng dân tộc.Vì vậy, ngƣời Việt Nam công giáo ở làng giáo xứ
đạo ai cũng háo hức đón chờ, tham dự lễ hội công giáo. Họ tự nguyện dọn dẹp
mùa Vọng là chuẩn bị kỉ niệm sự giáng sinh của chúa Giê – su. Mùa Vọng theo
quan niệm công giáo là mùa chuẩn bị mừng lễ trọng Giáng sinh, và mùa các tín
hữu trông đợi chúa Ki – tô đến lần II trong ngày tận thế. Lễ Vọng cử hành vào
chiều ngày 24/12(trƣớc hoặc sau giờ kinh chiều), lễ Giáng sinh diễn vào đêm
ngày 24/12 nên giáo dân Ninh Cƣờng gọi chung mùa Vọng – Giáng sinh.Và bắt
đầu từ lễ Vọng (ngày 24/12) đến hết ngày lễ hiển linh vào ngày 6/1 năm sau.
Ngày 25/12 là ngày ngƣời châu Âu thờ thần Mặt trời, thiên chúa giáo chọn
ngày này là ngày sinh của Chúa Giê – su. Khi mọi ngƣời ăn mừng thần mặt trời
thì ngƣời Ki – tô hữu ăn mừng chúa ra đời. Tại giáo xứ Ninh Cƣờng để chuẩn bị
cho lễ giáng sinh chín họ trong giáo xứ sẽ làm hang đá tại nhà nguyện của giáo
họ, tám giâu sẽ đƣợc phân công làm hang đá ở nhà thờ Ninh Cƣờng.
Hang đá biểu tƣợng cho hàng Bê – lem nơi chú hài đồng sinh ra đời. Giáo
dân chẻ muồng tre dùng dây thép ghép các thanh tre lại làm thành bộ khung của
hang đá, vỏ bao xi măng đƣợc dùng để tạo hình đá giả và đƣợc phun sơn trắng
sau đó đƣợc ghép vào các khung tre. Có một vài họ lẻ, để tiết kiệm kinh phí thì
ngƣời ta dùng vỏ chấu hoặc rơm vào túi nilon màu đen và cũng ghép vào khung
tre để mô phỏng hình tảng đá. Sau đó là trang trí hang đá bằng đèn điện, đèn
nháy, cây cảnh…Trong hang đá bày các tƣợng ở hai bên gồm: Đức Mẹ Maria
(mẹ Đồng Trinh đƣợc thiên thần báo tin sẽ thụ thai, nhờ màu nhiệm và sinh ra
17
chúa Giê – su), ông thánh Giu – se (là một thợ mộc đƣợc thiên chúa chọn để làm
cha của chúa Giê – su để tránh quân của vua Herod nhận ra), ở giữa là tƣợng
chúa hài đồng đƣợc đặt nằm trong máng cỏ, tƣợng con bò, con cừu ngụ ý khi
chúa sinh ra đời giữa cái giá rét lạnh buốt vạn vật đều tề tựu hoan mừng, nghênh
đón Chúa giáng trần. Trên đầu mỗi hang đá ngƣời ta sẽ làm một ngôi sao năm
cánh nhƣ là một sự ứng nhiệm với lời tiên tri Ê - sai“Dân đi trong nơi tối tăm đã
thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự
gia nhập đạo, tín đồ thực hiện Bí tích thanh tẩy. Thời gian này các cuộc hành
hƣơng là dấu hiệu của sự ăn năn, tự nguyện ăn chay, làm phúc bố thí. Ngƣời
công giáo thực hiện phép chỉ ăn chay vào ngày thứ Tƣ lễ Tro và thứ Sáu tuần
Thánh, phải kiêng thịt, hình thức ăn chay là: ăn một bữa trong ngày với một chế
độ ăn uống thanh đạm vào buổi sáng và buổi tối, không đƣợc ăn no, không ăn
thịt động vật, không ăn ngoại bữa (ngoại trừ trƣờng hợp bệnh tật, trẻ em dƣới 9
tuổi).
- Lễ Lá: Tƣởng niệm việc chúa Giê – su đã cùng các môn đệ vào đền thờ
Jerusalem một cách trọng thể để làm ứng nhiệm lời tiên tri. Chủ Nhật lễ Lá còn
gọi là chủ Nhật Thƣơng khó vì trong lễ có bài đọc phúc âm tƣờng thuật về sự
thƣơng khó chúa Giê – su. Tám giâu sẽ cầm một cành lá dừa kết hình thánh giá
có trang trí hoa, lả, Cha xứ sẽ cầm một cành lá to nhất, đẹp nhất sau đó sẽ là
phép và chia cho ngƣời dân mang về đặt lên bàn thờ nhƣ sự hiện diện của Chúa
luôn có trong nhà mình. Sau đó diễn ra lễ nhƣ bình thƣờng.
- Lễ Tro: Ngày mở đầu của mùa Chay (thứ tƣ), gọi là lễ Tro vì giáo hội có
thói quen dùng Tro đã làm phép để ghi dấu lên trán tín hữu. Cử hành vào thứ tƣ
là là tuỳ vào lễ Phục sinh đƣợc mừng vào ngày nào.
- Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa nhật lễ Lá đến Chúa nhật Phục sinh, kỉ niệm
Chúa Giê – su vào thành Jerusalem rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê – su chịu
nạn, chịu chết rồi sống lại. Trong tuần thánh có những ngày lễ riêng.
- Thánh lễ Tiệc Ly và nghi thức rửa chân cho 12 tông đồ diễn ra vào thứ 5
(theo lịch công giáo) sẽ có cuộc “Rƣớc Chiên”. Chiên ở đây là của ngƣời Do
Thái con Chiên bị sát tế để làm của lễ tạ ơn Chúa đã cứu họ khỏi ách nô lệ. Tại
giáo xứ Ninh Cƣờng thì mỗi đoàn hội sẽ chuẩn bị một con Chiên, đó là xôi đỗ
xanh đƣợc tạo hình có kích thƣớc to nhƣ con cừu và ngƣời ta dải bông trắng lên
trên để tƣợng chƣng cho lông của con Chiên. Con Chiên đặt lên bàn có phủ khăn
trắng và có thể trang trí thêm hoa quả, rƣợu vang nho, cắm cờ đạo nhỏ. Lễ rƣớc
Chiên có khoảng 4-5 hội, mỗi hội tuyển 4 cô gái khoẻ để khiêng 1 bàn Chiên,
sau cùng là 12 tông đồ và các cậu (là một số thanh thiếu niên đƣợc chọn giúp
việc cho Cha trong thánh lễ) và Cha xứ mặc áo lễ màu đỏ (để thể hiện lòng yêu
gặp nhau trƣớc khi Chúa Giê-su vác tiếp thập giá đi chịu đóng đinh (Chúa Giêsu bị Tòa công luận buộc tội phạm thƣợng vì họ cho rằng Giê – su tự nhận mình
là Vua dân Do Thái). Ca đoàn cử hai đại diện của 2 bên kiệu lên ca bài “than
mồ”. Sau đó kiệu tƣợng Chúa vái lạy kiệu tƣợng Đức Mẹ, rồi rƣớc tƣợng Chúa
vào nhà thờ, ngƣời ta đƣa tƣợng Chúa lên gian thánh, đóng đinh lên cây thập tự
20
giá. Và lúc này, tất cả mọi giáo dân đều đeo khăn tang trắng để tƣởng niệm cái
chết của chúa Giê – su. Sau đó sẽ là Ngắm. Ngắm là kể lại những đoạn thƣơng
khó của Chúa khi vác thánh giá qua 14 chặng đƣờng, Ngắm theo giọng thảm
thiết, sầu bi, ngân dài. Thƣờng sẽ là những ngƣời cao tuổi mới biết cách Ngắm
và điểm vào đó sẽ có tiếng trống để cắt lƣợt Ngắm.
Nghi thức dâng Hạt: mƣời em gái mặc áo dài trắng, đầu đội khăn tang, tay
cầm nến xếp thành 2 hàng trƣớc tƣợng Chúa bị đóng đinh sẽ quỳ lạy, cúi đầu
theo nhịp trống và bài dâng Hạt để tỏ lòng xót thƣơng trƣớc những thống khổ và
cái chết của Chúa cứu thế. Đến 12h đêm ngƣời ta sẽ tháo xác Chúa trên thập giá
xuống và đặt vào một quan tài bằng kính (kích thƣớc bằng ngƣời thật) có trang
trí đèn điện, điện nhiều màu sắc. Ngƣời ta sức nƣớc hoa vào tƣợng chúa và đổ
bỏng nhỏ lên trên mà ở Ninh Cƣờng quen gọi là “nả”. Cuộc rƣớc “táng xác
Chúa” đi vòng quanh nhà thờ, giáo dân đeo khăn tang trắng vừa đi vừa đọc
kinh, các đoàn hội cũng vậy.Quan tài Chúa đƣợc đƣa vào hang đá mọi ngƣời
xếp hàng, rất đông giáo dân kể cả trẻ em vẫn thức và mong đƣợc “hôn chân”
chúa đầu tiên, giáo dân quỳ trƣớc quan tài và thơm vào chân của tƣợng Chúa rồi
bốc 1 nắm bỏng trong quan tài mang về nhà ăn gọi là thụ lộc của Chúa, cứ nhƣ
vậy cuộc viếng xác Chúa diễn ra kéo dài tới tận chiều thứ Bảy, các ca đoàn hội
sẽ Ngắm, nguyện – đọc hát bài “nguyện trầu”. Khi giáo dân lên viếng xác Chúa
không khí lúc này rất tôn nghiêm, mọi giáo dân chỉ đọc kinh và đi đúng hàng
lối, ở nhà thờ Ninh Cƣờng các nhà thờ họ cũng tổ chức viếng xác Chúa vào thứ
Sáu. Giáo dân tin rằng khi viếng xác ở nhiều nhà thờ thì sẽ càng nhận đƣợc
thờ thắp điện sáng lên, giáo dân sẽ thổi tắt nến còn cây nến phục sinh vẫn thắp
sáng cho hết mùa phục sinh. Thánh lễ Phục sinh mừng Chúa sống lại đƣợc tổ
chức nhƣ thánh lễ thƣờng ngày. Vào chiều chủ nhật có rƣớc tƣợng Chúa gặp lại
Đức Mẹ, ngụ ý cuộc hội ngộ của mẹ Maria và chúa Giê – su. Thánh lễ diễn ra
nhƣ chúa nhật thƣờng ngày.
2.2.4. Lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi ngày 7/10
Giáo xứ Ninh Cƣờng tuy không phải là giáo xứ chính toà. Nhƣng do nhà thờ
Ninh Cƣờng có vị thánh quan thầy Đức Mẹ Mân Côi là thánh quan thầy địa
phận (tƣơng tự nhƣ vị thành hoàng làng bảo hộ cho ngƣời dân trong làng) nên lễ
kỉ niệm thánh quan thầy của xứ là lễ kỉ niệm của quan thầy Bùi Chu. Đây là lễ
hội mang yếu tố vùng, thu hút hàng vạn giáo dân thuộc địa phận Bùi Chu và cả
nƣớc tham dự.
22
Vì là lễ kỉ niệm thánh quan thầy địa phận nên quy mô và hình thức tổ chức
rất lớn vƣợt ra ngoài quy mô lễ hội xứ đạo thông thƣờng. Từ mấy ngày hôm
trƣớc, giáo dân của tám giâu đã bó cột bằng những cây muồng tạo nên cây cột
thánh giá cao, to, bọc vải, có trang trí đèn điện với nhiều màu sắc đặt quanh
khuôn viên nhà thờ. Đầu ngọn cột thánh giá có treo cờ đạo. Các đƣờng làng
cũng dựng những cột muồng nhỏ 2 bên trang trí dàn điện nhấp nháy, buổi tối
ngƣời ta thắp điện sáng cả một vùng lung linh huyền ảo. Đƣờng xá đƣợc dọn
dẹp để đón khách hành hƣơng đến dự lễ. Tất cả các giáo xứ trong địa phận đều
tề tựu, năm 2013 có 150 Cha tại các xứ đến tham dự, Cha chủ tế sẽ là đức Cha
đứng đầu giáo phận Bùi Chu là Đức cha cố Giu – se Hoàng Văn Tiệm. Cuộc
rƣớc diễn ra long trọng, đi đầu cuộc rƣớc là Nghi trƣợng do ông trùm của nhà
thờ cầm, rồi đến hội trắc, hội mõ vừa gõ vừa múa rồi đến đội trống, 2 hội kèn
đồng, kiệu Đức Mẹ Maria đƣợc trang hoàng lộng lẫy, tham gia đi kiệu này là
tôn giáo của giáo dân vẫn đƣợc thể hiện một cách mạnh mẽ nhiệt thành thông
qua các hình thức diễn xƣớng này. Bên cạnh đó, các lễ hội này còn mang giá trị
tâm linh sâu sắc, Ninh Cƣờng là chốn linh thiêng với các tín đồ Công giáo, họ
vẫn hành hƣơng đến đây để xin đƣợc bình yên khi gặp những điều không may
mắn trong cuộc sống hay để tâm hồn trở lại trạng thái cân bằng, hƣớng thiện.
24
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
KHAI THÁC CÁC LỄ HỘI CÔNG GIÁO TẠI GIÁO XỨ NINH
CƢỜNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NAM ĐỊNH
3.1. Thực trạng hoạt động du lịch tại giáo xứ Ninh Cƣờng
Với những điều kiện có tiềm năng du lịch văn hóa độc đáo , kết hợp với một
số điểm tham quan tại tỉnh Nam Định sẽ mở ra một hƣớng mới cho các nhà kinh
doanh du lịch lữ hành khi xây dựng các chƣơng trình du lịch đến Nam Định nói
riêng và vùng du lịch Bắc Bộ nói chung.
3.1.1 Công tác quản lý
Công tác tổ chức quản lý của mỗi điểm du lịch đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển hoạt động du lịch tại điểm du lịch đó.Bởi chỉ có sự quản lý tập
trung, nhất quán và chặt chẽ mới đẩm bảo điểm du lịch phát triển một cách ổn
định, hiệu quả. Tuy nhiên, công tác tổ chức, quản lý du lịch ở Đền thánh Ninh
cƣờng mới chỉ con mang tính chất nhỏ lẻ, là sự phục vụ cho các đoàn khách
hành hƣơng. Chỉ có cha xứ Đinh Ngọc Hoàn và các ông Quản làm việc trong
nhà thờ tiếp đón các đoàn khách hành hƣơng. Với cơ cấu nhỏ gọn, hoạt động
trên tinh thần tự nguyện (không thu bất cứ một khoản thù lao nào, kể cả vé tham
quan, vé gửi xe, …. ) nên du lịch ở đây hầu nhƣ chƣa phát triển. Nhƣ vậy thực
trạng công tác tổ chức quản lý tại đây vẫn còn ở hình thức sơ khai, đòi hỏi cần
có giải pháp mới, thích hợp cho điểm du lịch đặc thù này, có nhƣ vậy hoạt động