ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN VĂN NGOẠN
KHAI THÁC NGHỆ THUẬT CẢI LƢƠNG
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHAN VĂN NGOẠN
Đặc biệt, lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới Tiến sỹ
Mai Mỹ Duyên - người đã hết sức tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng luận văn của tôi không thể
tránh khỏi những khiếm khuyết. Kính mong nhận được sự chỉ dẫn,
đóng góp quý báu của Quý Thầy, Cô, bạn bè và đồng nghiệp.
Một lần nữa xin chân thành biết ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Tác giả Phan Văn Ngoạn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện.
Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa
từng được công bố ở các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên Phan Văn Ngoạn 1
2
2.1.1. Công tác quản lý 48
2.1.2. Đào tạo chuyên môn 51
2.1.3. Các hoạt động nâng cao chất lượng nghệ thuật Cải lương 55
2.1.4. Nguồn nhân lực biểu diễn Cải lương ở Đồng bằng sông Cửu Long 57
2.2. Thực trạng khai thác Cải lƣơng trong hoạt động du lịch ở các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long 59
2.2.1. Về cơ sở vật chất, kỹ thuật du lịch 59
2.2.2. Về lực lượng hướng dẫn và giải pháp tiếp thị thu hút khách du lịch tại các
điểm du lịch 62
2.2.3. Những vấn đề đặt ra khi khai thác nghệ thuật Cải lương trong du lịch 63
2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch và Cải lƣơng ở ĐBSCL 70
2.3.1. Thành tựu 70
2.3.2. Hạn chế 71
2.3.3. Những triển vọng của việc khai thác Cải lương trong tương lai 72
Tiểu kết chương 2 73
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ KHAI THÁC NGHỆ THUẬT CẢI
LƢƠNG ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 75
3.1. Căn cứ đề xuất giải pháp 75
3.1.1. Căn cứ chính sách phát triển du lịch của vùng ĐBSCL 75
3.1.2. Căn cứ chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc 76
3.1.3. Căn cứ điều kiện thực tế của ĐBSCL 78
3.2. Các giải pháp khai thác Cải lƣơng trong hoạt động du lịch ở Đồng bằng
sông Cửu Long 86
3.2.1.Khai thác Cải lương tại điểm du lịch hiện tại 86
3.2.2. Đầu tư xây dựng nhà hát, khán phòng trình diễn Cải lương 86
3.2.3. Sáng tác kịch bản Cải lương 87
3.2.4. Trang bị lại các rạp hát cũ 87
3.2.5. Tổ chức tập huấn hướng dẫn chuyên môn theo mô hình kết hợp Tài tử và Cải lương 88
ĐHVH
Đại học Văn hóa
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
HCV
Huy chương vàng
HCB
Huy chương bạc
HCĐ
Huy chương đồng
HTV
Kênh truyền hình TP HCM
NSND
Nghệ sỹ nhân dân
NSUT
Nghệ sỹ ưu tú
NTCL
Nghệ thuật Cải lương
NTSK
Nghệ thuật sân khấu
NTTH
Nghệ thuật tổng hợp
NXB
Nhà xuất bản
NCKH
Nghiên cứu khoa học
SKCL
Sân khấu Cải lương
SV
Sinh viên
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam, đất nước giàu tiềm năng du lịch với bao danh lam thắng cảnh, di
tích lịch sử văn hoá, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trải dài khắp cả nước. Nhà
thơ Như Ý(Mỹ Tho) đã tự hào về dân tộc mình qua bài thơ Dân tộc Việt Nam sau:
Con cháu Rồng Tiên trải bốn ngàn,
Trời Nam lừng lẫy một giang sơn,
Bình Ngô trăm trận lòng không nãn,
Kháng Pháp mười năm dạ chẳng sờn,
Oanh liệt Lý Trần bao tuấn kiệt,
Uy linh Trưng Triệu mấy hồng nhan,
Gương xưa lớp lớp soi kim cổ,
Tô nét hùng anh đẹp sử vàng. [12,tr 368]
Lịch sử đất nước ta không chỉ tô đậm bằng những trang sử chống ngoại xâm
mà mỗi vùng quê của Việt Nam đều có các loại hình văn hóa đặc trưng của địa
phương mình, nổi trội trong số đó chính là nền nghệ thuật của dân tộc Việt. Khi nói
đến miền Bắc là nói đến sân khấu Chèo - một thể loại sân khấu dân gian có lịch sử
lâu đời hay những làn điệu Quan họ, Ca Trù “đắm say như đứt ruột gan nguời” của
quê hương Kinh Bắc. Khi nói đến miền Trung nắng gió là nói đến những câu hò,
điệu Ví dặm, hát Bài Chòi, Ca Huế, ca kịch Bình Trị Thiên … luôn là chất keo gắn
kết cộng đồng giúp họ vượt qua bao gian khổ, khó khăn để vươn lên trong cuộc
sống. Khi nói đến miền Nam là nói Đờn ca Tài tử - một thể loại âm nhạc kết hợp
hòa quyện hai tính chất bác học và dân gian, hay sân khấu Cải lương năng động,
luôn thích ứng với đời sống xã hội hiện đại. Cùng với các thành tố văn hóa khác,
nghệ thuật dân tộc - truyền thống ở các vùng miền đã tạo thành diện mạo văn hóa
Việt Nam, khẳng định được bản sắc dân tộc trong quá trình giữ nước và dựng nước.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một vùng kinh tế, văn hoá… trọng điểm
của khu vực phía Nam, nối liền với thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ
- khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng. Nơi đây
có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường khách du lịch trong nước, khu
dẫn của dân tộc cho đến ngày nay vẫn còn bỏ ngỏ ở dạng tiềm năng trong kinh
doanh du lịch. Việc đưa nghệ thuật Cải lương vào khai thác kinh doanh du lịch
không chỉ nhằm quảng bá về một loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo mà còn giúp 8
khai thác Cải lương như một sản phẩm du lịch văn hóa đặc biệt của vùng đồng bằng
sông Cửu Long - là cái nôi của loại hình nghệ thuật này.
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu vấn đề: “Khai thác nghệ thuật Cải
lương ở đồng bằng sông Cửu Long phục vụ phát triển du lịch” là cấp thiết trong
bối cảnh hoạt động văn hóa và du lịch hiện nay. Học viên là người Nam Bộ, sinh
trưởng ở Mỹ Tho - vùng đất từng được xem là "cái nôi" của nghệ thuật Cải lương
cũng mong muốn đóng góp sự học của mình đối với việc bảo tồn văn hóa địa
phương, nên đã chọn đề tài nói trên làm luận văn tốt nghiệp ngành Du lịch học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống được những vấn đề lý luận về du lịch, văn hóa-nghệ thuật; quá trình
hình thành, phát triển nghệ thuật Cải lương đồng thời khái quát những cống hiến có
tính văn hóa, dân chủ, giải thoát tinh thần con người trong diễn trình lịch sử của sân
khấu Cải lương.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá thực trạng bảo tồn và khai thác Cải lương hiện nay ở một số địa
phương có bề dày lịch sử về nghệ thuật Cải lương.
Nhìn nhận Cải lương dưới góc độ là một phần của tài nguyên du lịch văn hóa,
nêu bậc vai trò quan trọng của Cải lương với phát triển du lịch. Thông qua hoạt
động du lịch, Cải lương sẽ đuợc truyền bá rộng rãi trên khắp cả nước và bạn bè
quốc tế. Góp phần giữ gìn một nét đẹp văn hoá, một loại hình nghệ thuật đặc sắc
dân tộc đang dần mai một trong thời đại giao lưu và hợp tác quốc tế như hiện nay.
Dựa trên những điều kiện thực tế ở ĐBSCL đề xuất một số giải pháp nhằm
vận dụng khai thác Cải lương trong hoạt động du lịch; đáp ứng nhu cầu thưởng thức
Hát bội và Cải lương để minh chứng cho phần nhận định về vai trò xã hội của sân
khấu Việt Nam. Quyển sách là nguồn tài liệu đáng tin cậy, giúp học viên hình dung
được diễn trình lịch sử của sân khấu Cải lương để có thể phản ánh trong luận văn
của mình.
- Cuốn Bước đầu tìm hiểu Sân khấu Cải lương của Sỹ Tiến (1984), cung cấp
những thông tin và cụ thể về buổi đầu hình thành SKCL đặc biệt là quá trình hình
thành Cải lương lan tỏa đến miền Bắc và dần phát triển định hình một “ dòng sân
khấu Cải lương Bắc” đặc sắc. Tác phẩm được viết bởi người trong nghề, “ cánh
chim đầu đàn” của sân khấu Cải lương Bắc – Nghệ sỹ nhân dân (NSND) Sỹ Tiến –
nên rất chi tiết và sống động vì đều gắn bó với những sự kiện đã được chính tác giả 10
trải nghiệm. Tuy chỉ tập trung vào SKCL miền Bắc nhưng đã giúp cho học viên có
một cái nhìn tổng quan về SKCL thuở sơ khai.
- Cuốn Nghệ thuật sân khấu Cải lương-những trang sử của Trương Bỉnh Tòng
(1997), tác giả đã mô tả khá rõ nét những chặng đường của SKCL từ khi ra đời vào
đầu thế kỷ XX đến cuối thập niên 90. Qua từng cột mốc lịch sử, tác giả đã nêu lên
hoạt động chủ yếu của SKCL cũng như đặc trưng từng thời kỳ, những gương mặt
nghệ sỹ nổi bật. Đặc biệt, tác giả đi sâu vào hoạt động đấu tranh yêu nước trên
SKCL: hoạt động của các đoàn hát cách mạng ở miền Bắc, trong vùng giải phóng;
SKCL đề cao lòng yêu nước, thể hiện khát vọng thống nhất đất nước, khéo léo đấu
tranh công khai với kẻ thù ở vùng tạm chiếm…Thể hiện dưới dạng lược sử nên sách
chủ yếu liệt kê, mô tả chứ chưa phân tích sâu những yếu tố tác động đến tiến trình SKCL.
- Cuốn 23 năm cuối của 300 năm Văn hóa – Nghệ thuật Sài Gòn –
TPHCM(1998) của Trần Trọng Đăng Đàn, tác giả đã phân tích khá sâu sát tình hình
hoạt động và xu hướng phát triển SKCL dưới góc nhìn của một nhà lý luận, phê
bình. Không chỉ mô tả hoạt động, nêu lại các sự kiện mà đi sâu phân tích, đánh giá
vấn đề dưới cái nhìn biện chứng, vạch ra những yếu tố xã hội tác động đến sân khấu
và cả dự đoán xu thế phát triển. Những bài viết của tác giả đã giúp cho học viên
vào thập niên 60 của thế kỷ XX. Tuy là một hồi ký, không phải công trình nghiên
cứu khoa học, chủ yếu đề cập đến chuyện hậu trường sau cánh màn nhung hơn là
những sự kiện chính thức của đời sống sân khấu nhưng đây vẫn là một trong những
tác phẩm nổi bật nhất về Cải lương, luôn nằm trong danh mục tài liệu sưu tập của
những người thích tìm hiểu nghệ thuật SKCL.
- Cuốn Vang bóng một thời 1,2,3,4 và 5 (2007) của Huỳnh Công Minh, là năm
tập sách ảnh đăng nhiều hình ảnh tư liệu cùng viết về thời hoàng kim của SKCL Sài
Gòn trước năm 1975. Tuy chỉ là sách ảnh nhưng cũng đã cung cấp nhiều kiến thức
về tính chất, đặc điểm của SKCL xưa ( đặc biệt là những bức ảnh còn rõ đến chi tiết
những hoa văn trang trí trên phông cảnh ngày trước thể hiện phong cách tả thực,
sang trọng, lịch lãm của SKCL thời thịnh vượng,…) làm cơ sở để so sánh và nhận
thức những chuyển biến chủ yếu về mặt hình thức trên SKCL giai đoạn sau này.
- Cuốn 100 câu hỏi về sân khấu Cải lương (2007) của Nguyễn Thị Minh Ngọc
– Đỗ Hương đã trình bày cô đọng nhất về SKCL dưới dạng hỏi đáp, chủ yếu xoay
quanh lịch sử hình thành, đặc điểm nghệ thuật, các nhân vật nổi tiếng, những sự
kiện sân khấu, vở diễn nổi bật… 12
- Kỷ yếu tọa đàm khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật
thể nghệ thuật Đờn ca tài tử (2010) do Sở VHTTDL TP.HCM tổ chức với nhiều
tham luận của những nhà nghiên cứu uy tín về ĐCTT: Nghệ thuật Đờn ca Tài tử
trong không gian văn hóa Nam Bộ (GS.TS Trần Văn Khê, Nguồn gốc và quá trình
phát triển của nghệ thuật Đờn ca Tài tử (TS. Mai Thị Mỹ Liêm), Hệ thống bài bản
trong Đờn ca Tài tử (Th.S Huỳnh Khải), Phong cách chơi nhạc Tài tử xưa và nay
(nhạc sỹ Kiều Tấn), Những vấn đề đặt ra từ nghệ thuật Đờn ca Tài tử (TS.Mai Mỹ
Duyên), … đã cung cấp cho học viên những kiến thức khái quát nhất về nguồn gốc,
quá trình phát triển và đặc điểm của nghệ thuật ĐCTT – nền tảng âm nhạc của NTCL.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Nghệ thuật Đờn ca Tài tử và những lối hòa
đàn ngẫu hứng (2011) do Bộ VHTTDL tổ chức, với tham luận của nhiều nhà khoa
tồn và phát triển Đờn ca Tài tử (PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm), , Đờn ca Tài tử
với du lịch băn khoăn và mong mỏi (PGS.TS.Nguyễn Thụy Loan), Giáo dục nhạc
Tài tử, Cải lương – một việc làm cấp thiết (TS. Mai Mỹ Duyên), Phương pháp đào
tạo truyền thống và đào tạo trong nhà trường VHNT – về Đờn ca Tài tử Nam
Bộ(NS Trần Khánh), Nghệ thuật Đờn ca Tài tử gắn với hoạt động du lịch sinh thái
ở Vĩnh Long – giải pháp gìn giữ và quảng bá (CBQL Lê Minh Hùng), Sức sống của
nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam Bộ( Nhà báo Nguyễn Văn Thanh), Kinh nghiệm
truyền nghề trong quá trình đào tạo âm nhạc tài tử ( Th.S Huỳnh Khải),…Tất cả
các bài viết trên khẳng định vai trò, ví trí quan trọng của nghệ thuật ĐCTT – một di
sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Chính vì vậy phải đặt đúng giá trị
của nó bằng cách đưa vào học đường, xã hội, đặc biệt đưa vào du lịch để văn hóa
Việt Nam nói chung và ĐCTT nói riêng được thưởng thức bởi mọi người trên thế giới.
Nghiên cứu hoạt động văn hóa - nghệ thuật để khai thác trong hoạt động du
lịch hiện có các công trình sau:
- Cuốn Một số vấn đề về du lịch Việt Nam(2006) của tác giả Đinh Trung Kiên
đã trình bày bao quát về nhiều vấn đề về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn
hóa trong đó có nghệ thuật sân khấu Cải lương có thể làm du lịch thúc đẩy phát
triển nền kinh tế nước nhà.
- Tham luận Giải pháp đưa Đờn ca Tài tử đến với du khách và phát triển sản
phẩm du lịch đặc thù dựa vào Đờn ca Tài tử(2014) của TS. Hà Văn Siêu và Di sản
Đờn ca Tài tử với du lịch Nam Bộ của PGS.TS Lê Văn Toàn trong hội thảo nói trên
đã đề cập đến việc cần phải đưa ĐCTT và nghệ thuật Cải lương vào sự quảng bá với 14
khách du lịch đến ĐBSCL thông qua hoạt động của ngành du lịch, đồng thời giới
thiệu với bạn bè quốc tế sản phẩm du lịch đặc thù của vùng cư dân sông nước Nam
Bộ là ĐCTT và Cải lương.
- Tham luận Đem di sản văn hóa phi vật thể đến với du lịch hay Đưa du lịch
đến với di sản văn hóa phi vật thể. Kiến giải từ góc nhìn chung về di sản văn hóa
thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5.3. Phương pháp điền dã
Dựa trên quan sát trực tiếp tại các điểm du lịch trình diễn Cải lương, ĐCTT
hoặc gián tiếp qua các phương tiện ghi âm, ghi hình.
5.3. Phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn những người hoặc một nhóm người am hiểu đưa ra nhận xét, đánh
giá… về nghệ thuật sân khấu Cải lương.
5.4. Phương pháp so sánh đối chiếu
Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh du
lịch để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
chính của công trình này gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan nghệ thuật Cải lương ở ĐBSCL
Chương 2. Khai thác nghệ thuật Cải lương vùng ĐBSCL trong hoạt động du lịch
Chương 3. Các giải pháp và khuyến nghị khai thác nghệ thuật Cải lương để
phát triển du lịch ở ĐBSCL
16
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHỆ THUẬT CẢI LƢƠNG
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm về du lịch
1.1.1.1. Du lịch
Theo Luật Du lịch năm 2005: “du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng
thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài
nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ
dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động
sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được
sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Trong các loại kể trên thì nghệ thuật dân tộc,
trong đó có sân khấu Cải lương là loại tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt.
1.1.1.3. Sản phẩm du lịch
Theo Luật Du lịch sửa đổi tháng 6/2005: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các
dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.”
[24, tr7]. Còn theo quan điểm Marketting, sản phẩm du lịch là những hàng hoá và
dịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch
đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu
dùng của khách du lịch. Hay Sản phẩm du lịch:
Là một quá trình trực tiếp cho phép các doanh nghiệp và các cơ quan du
lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và
sáng kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để các
đơn vị này có thể thiết kế và tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao sự hài
lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra. [52]
Như vậy, Cải lương là sản phẩm phi vật chất trong dịch vụ du lịch. Cải lương
nói riêng và các bộ môn nghệ thuật truyền thống Việt Nam nói chung sẽ góp phần
thỏa mãn nhu cầu về tinh thần của du khách. Cải lương một sản phẩm du lịch đặc
thù của ĐBSCL.
1.1.1.4. Khách du lịch (du khách)
Luật Du lịch khẳng định: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi 18
đến.” [24,tr 6]. Song theo Josef Stander, Ogilvie, Ủy ban đánh giá tài nguyên Quốc
gia Hoa Kỳ, Văn phòng kinh tế Công nghiệp Australia,…cho rằng khách du lịch là
Trong kinh tế du lịch, điểm du lịch là một nơi, một vùng hay một đất
nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với dân ngoài địa phương và có những thay
đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động trong du lịch gây nên. Điểm du lịch
bao gồm: Cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và các loại động thực vật; là kết quả
sáng tạo do con người xây dựng nên, đó là bảo tàng, di tích cổ đại, di tích lịch
sử, văn hóa nghệ thuật, du lịch nước, du lịch săn bắn, du lịch leo núi (mạo
hiểm) và những nơi nghỉ mát; Chính phủ sẽ xác định các điểm du lịch và sự
hấp dẫn về mặt du lịch tại các điểm đó. [51 tr 7].
Theo điều 24 của Luật Du lịch(2006), điều kiện để được công nhận là điểm du
lịch là :
- Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch
quốc gia:
a) Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách
du lịch;
b) Có khả năng bảo đảm phục vụ tối thiểu một trăm nghìn lượt khách du lịch
một năm.
c) Có đường giao thông thuận tiện đến điểm du lịch, có các dịch vụ: bãi đỗ xe,
có khu vệ sinh công cộng, phòng cháy chữa cháy, cấp, thoát nước, thông tin
liên lạc và các dịch vụ khác đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch.
d) Đáp ứng các điều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi
trường theo quy định của pháp luật.
- Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa phương:
a) Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch;
b) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục
vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm. [54 tr 22]
Từ khái niệm trên, nhận thấy hệ thống rạp hát, khán phòng biểu diễn sân khấu
Cải lương… có thể xem là điểm du lịch vì nó đáp ứng các điều kiện nêu trên.
quy trình, cách thức tổ chức, con người phục vụ, trang thiết bị và chất lượng phục
vụ khác nhau. Các loại hình du lịch có thể phân loại như sau : 21
Phân loại theo mục đích du lịch: theo sự phân loại về mục đích thăm viếng của
du khách thì du lịch được chia ra: du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại, du lịch
điều trị dưỡng bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch thăm viếng người thân,
du lịch tôn giáo, du lịch thể dục thể thao, và các du lịch khác.
Phân loại theo phạm vi khu vực: căn cứ vào phạm vi khu vực có thể chia du
lịch thành: du lịch trong nước và du lịch quốc tế.
Phân loại theo nội dung du lịch: theo cách này thì có các tiểu loại
Du lịch công vụ: khách nước ngoài nhận lời mời đến thăm viếng, đàm
phán ngoại giao… Tuy chiếm tỉ trọng không lớn trong lợi ích kinh tế của ngành du
lịch nhưng cùng với sự giao lưu quốc tế thì loại hình này sẽ tăng lên.
Du lịch thương mại: thương nhân nước ngoài đến một nước để tìm
hiểu thị trường, kết giao với các nhân sỹ, đàm phán mậu dịch, trong đó có ăn ở
khách sạn, mời tiệc, xã giao, du ngoạn đã trở thành bộ phận hợp thành quan trọng
của hoạt động du lịch ngày nay.
Du lịch du ngoạn: Đến nơi khác để thưởng ngoạn phong cảnh thiên
nhiên,…thông qua lữ hành đạt được sự hưởng thụ cái đẹp, được vui vẻ, nghỉ ngơi.
Đó chính là hình thức du lịch chủ yếu nhất hiện nay.
Du lịch thăm viếng người thân: Ở nước ngoài người ta còn gọi là là du
lịch tìm về nguồn cội. Những năm gần đây số người du lịch tìm về nguồn cội và
thăm viếng người thân ngày càng tăng, trở thành hình thức du lịch đặc biệt.
Du lịch văn hóa: Những người tiến hành du lịch văn hóa phần nhiều là
những người có học. Họ đến một nơi khác để tìm hiểu văn vật, cổ tích, văn hóa
nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa học kỹ thuật, giáo dục với mục đích khảo sát văn
hóa và giao lưu văn hóa.
Du lịch hội nghị: Một số nơi tận dụng dịp tiếp đãi hội nghị gắn hội