Bảo tồn nghệ thuật hát Dô trong đời sống văn hóa cộng đồng tại xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai – Hà Nội - Pdf 41

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 3
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................... 4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 4
5. Kết cấu của đề tài .......................................................................................... 5
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT HÁT DÔ VÀ.. 6
TỔNG QUAN VỀ XÃ LIỆP TUYẾT HUYỆN QUỐC OAI – HÀ NỘI .... 6
1.1. Tổng quan về xã Liệp Tuyết huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội ............. 6
1.1.1. Vị trí địa lý .............................................................................................. 6
1.1.2. Dân cƣ ..................................................................................................... 7
1.1.3. Đời sống kinh tế ...................................................................................... 7
1.1.4. Truyền thống văn hóa – giáo dục ............................................................ 8
1.1.5. Đời sống tâm linh, tín ngƣỡng ................................................................ 8
1.2. Khái quát chung về nghệ thuật Hát Dô ...................................................... 9
1.2.1. Khái niệm ................................................................................................ 9
1.2.2. Truyền thuyết ........................................................................................ 10
1.3. Hình thức và đặc điểm của hát hội Dô ..................................................... 11
1.3.1. Tổ chức hội Dô ...................................................................................... 11
1.3.2. Những hình thức của hát hội Dô ........................................................... 13
1.3.2.1. Lề lối .................................................................................................. 13
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG NGHỆ THUẬT HÁT DÔ TRONG ĐỜI
SỐNG CỘNG ĐỒNG XÃ LIỆP TUYẾT HUYỆN QUỐC OAI –
HÀ NỘI .......................................................................................................... 16
2.1. Đặc trƣng của nghệ thuật hát Dô.............................................................. 16
2.1.1. Nội dung của hát ................................................................................... 16

1



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi vùng quê sản sinh ra một loại hình dân ca khác nhau đều mang bản
sắc riêng của mảnh đất đó. Nếu nhƣ dân ca quan họ chỉ nảy sinh từ vùng đất
Kinh Bắc, hát Xoan sinh ra ở vùng đất Phú Thọ, hát Dậm chọn quê hƣơng Hà
Nam… thì hát Dô lại nảy sinh ở xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây
cũ (nay là Hà Nội).
Hát Dô là một loại dân ca nghi lễ đặc sắc, gắn với tín ngƣỡng thờ Tản
Viên sơn thánh. Lời ca của nó thể hiện sự tôn kính của nhân dân đối với vị
thần đứng đầu trong tứ bất tử Việt Nam, đồng thời phản ánh nhận thức của
ngƣời dân về thiên nhiên, và ƣớc mơ của ngƣời dân về một cuộc đời êm ấm,
thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, con cháu đông đúc. Hát Dô còn là
tiếng ca trữ tình, nồng nàn về tình yêu nam nữ, về hạnh phúc lứa đôi của
ngƣời nông dân dƣới chế độ phong kiến. Nội dung này đã trở thành nội dung
chủ đạo trong phần hát Bỏ bộ, đƣợc tiến hành sau những diễn xƣớng có tính
chất nghi lễ của hát Hội Dô trong những ngày lễ hội… Tìm hiểu về hát Dô
cũng chính là một cách để chúng ta có thể thấy đƣợc thực trạng hiện tại của
dân ca này, cũng nhƣ cách thức bảo tồn và duy trì vốn văn hóa cổ không chỉ
có giá trị với riêng Liệp Tuyết mà còn đối với nền văn hóa dân tộc. Bƣớc vào
nền kinh tế thị trƣờng, sự giao thoa và ảnh hƣởng của các nền văn hóa đang
tác động mạnh mẽ đến đất nƣớc ta. Nhiều loại hình nghệ thuật du nhập và
phát triển rầm rộ đang làm cho một số môn nghệ thuật truyền thống đang
đứng trƣớc nguy cơ mai một trong đó hát Dô. Việc nghiên cứu về điệu hát cổ
này đang nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Tìm hiểu về đề
tài “Bảo tồn nghệ thuật hát Dô trong đời sống văn hóa cộng đồng tại xã
Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai – Hà Nội ” cũng là một cách tác giả đóng góp
một phần của mình vào công tác bảo tồn và giữ gìn loại dân ca đặc sắc này.

3




- Phƣơng pháp thực địa.
- Phƣơng pháp thu thập, xử lý, phân tích tài liệu.
- Phƣơng pháp điều tra.
- Phƣơng pháp hồi cố
- Phân tích thống kê, chứng minh, đối chiếu, so sánh.
- Kế thừa, tổng hợp các tài liệu, ấn phẩm đã công bố hoặc còn ở dạng
tƣ liệu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề
tài đƣợc kết cấu 3 chƣơng
Chƣơng 1: Khái quát chung về nghệ thuật Hát Dô và tổng quan về xã
Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội.
Chƣơng 2: Thực trạng nghệ thuật hát Dô trong đời sống cộng đồng xã
Liệp Tuyết Huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội
Chƣơng 3. Bảo tồn nghệ thuật hát Dô trong đời sống văn hóa cộng
đồng tại xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai – Hà Nội

5


CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT HÁT DÔ VÀ
TỔNG QUAN VỀ XÃ LIỆP TUYẾT HUYỆN QUỐC OAI – HÀ NỘI

1.1. Tổng quan về xã Liệp Tuyết huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội
1.1.1. Vị trí địa lý
Mảnh đất Liệp Tuyết nằm uốn khúc theo dòng Tích Giang thơ mộng, ,
ở phía Tây Nam của huyện Quốc Oai, là khu vực bán sơn địa.

Trải qua các thời kỳ trong lịch sử cũng chƣa thấy có tài liệu nào ghi
chép về sự hình thành làng xóm ở đây, và nhân khẩu là bao nhiêu. Chỉ đến
giai đoạn sau này, mới có những thống kê cụ thể. Theo điều tra dân số của xã
năm 1957 xã Liệp Tuyết có tổng số 537 hộ với 2355 nhân khẩu. Cho đến năm
2005 theo nguồn niêm giám thì xã đã có số dân gấp đôi năm 1957, với tổng số
dân là 5002 ngƣời. Đến năm 2008, số liệu điều tra của Ủy ban nhân dân xã,
dân số ở Liệp Tuyết là khoảng 1.151 hộ với 5.170 nhân khẩu và có khoảng 20
dòng họ lớn nhỏ. Thành phần dân tộc chủ yếu ở đây là ngƣời Việt. Trong đó
có những dòng họ lớn: Kiều, Nguyễn, Phạm, Đỗ, Tạ, Đặng, Bùi… là những
cƣ dân bản địa. Vì thế tính cộng đồng rất cao, mối quan hệ làng xã gần gũi.
1.1.3. Đời sống kinh tế
Cũng nhƣ những làng quê khác trên đất nƣớc ta, nền kinh tế chủ yếu
của xã là sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích canh tác ở Liệp Tuyết có 1.736
mẫu (tƣơng đƣơng với 6249,6 km2) [3, 9]. Và, diện tích đất phù sa chủ yếu ở
vùng ven sông Tích, vùng này đƣợc chia thành hai:
Vùng ngoài đê sông Tích: Đây là vùng chiếm diện tích lớn, nằm liền kề
với miền bán sơn địa, hay nói cách khác ở đây có sự đan cài giữa những chân
ruộng cao, với một số ruộng trũng lầy lội. Vùng này thƣờng phải chịu úng lụt

7


ở những ruộng thấp, còn ruộng cao thì chớm nắng đã khô và thiếu nƣớc. Rất
khó để có thể sản xuất nông nghiệp một cách thuận lợi.
1.1.4. Truyền thống văn hóa – giáo dục
Xã Liệp Tuyết vốn là một vùng đất cổ, nằm ở phía tả ngạn sông Tích..
Nhân dân quanh đó thƣờng gọi Liệp Tuyết là “nhất xã, lục thôn, bảy trại”.
Cũng theo thần phả Quán Cả (tức thôn Đại Phu) và câu chuyện truyền thuyết
về vị quan lang tên là Chiêu Công đƣợc vua Hùng Vƣơng thứ 6 phong tƣớc
hầu, cho về cai quản vùng đất Lạp Hạ. Chiêu Công lấy vợ ngƣời làng Vĩnh

nằm trong hệ thống chung của nền văn hóa dân tộc. Điều này, chính là môi
trƣờng là cơ sở đặc biêt để hát Dô hình thành.
1.2. Khái quát chung về nghệ thuật Hát Dô
1.2.1. Khái niệm
Hát Dô hay còn gọi Hát Hội Dô là thể loại dân ca nghi lễ, hình thành và
phát triển trên mảnh đất Lạp Hạ xƣa, nay là xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai,
thành phố Hà Nội. Loại dân ca này gắn liền với lễ hội tại đền Khánh Xuân
diễn ra từ ngày 10 đến 15, tháng Giêng, Âm lịch, phải 36 năm mới tổ chức
một lần. Đó là lời hát của những ngƣời thực hiện các hành vi nghi lễ trong các
hoạt động tâm linh. Tƣơng truyền lời ca đó là do Tản Viên sơn thánh, vị thần
đứng đầu trong tứ bất tử linh thiêng của dân tộc ta, truyền dạy cho ngƣời dân
nơi đây.
Có thể nói, trong kho tàng dân ca cổ truyền của dân tộc bao gồm rất
nhiều thể loại nhƣ hát Xoan, Ca trù, Quan họ… Mỗi một thể loại có khái niệm
rõ ràng. Chẳng hạn nhƣ hát Xoan là “một loại hình dân ca nghi lễ ở Phú Thọ,
hàng năm tổ chức đón xuân ở các cửa đình. Phƣờng Xoan có trùm kép và cái
đào hát với nội dung quy định: các bài hát chúc (Giáo trống, giáo pháo,, thơ
nhang..); các quả cách: 14 quả cách; các dạng vật và trò chơi. Xoan là tiếng
xuân đọc chệch để kiêng đi các vị thánh mẫu truyền thuyết nói hát Xoan có từ
lâu đời” [24,114], hay nhƣ quan họ có rất nhiều định nghĩa khác nhau nhìn từ

9


mọi góc cạnh. Tuy nhiên với hát Dô thì không có một khái niệm cụ thể đƣợc
đƣa ra. Những tác phẩm cũng nhƣ bài nghiên cứu chƣa nhiều, ngay cả trong
những tác phẩm đó cũng không thấy một khái niệm cụ thể. Vì vậy, những
điều nói ở trên cũng chỉ là hiểu biết của riêng cá nhân.
1.2.2. Truyền thuyết
Có hai truyền thuyết nói về nguồn gốc hát Dô:

tạ công ơn của Ngài.
Hai truyền thuyết này đã khoác lên mình hát Dô một lớp vỏ thần thoại.
Song có một truyền thuyết khác về hát Dô bớt tính huyền thoại hơn, đó là:
Vào thời Lê (thế kỷ XV), có một ông Cống họ Đỗ, dạy học ở trƣờng Quốc Tử
Giám đã đặt ra loại dân ca này và chính ông đã trực tiếp dạy cho nhân dân
Liệp Hạ. Có thể coi thế kỷ XV là thời kỳ định hình của hát Dô và đến những
thế kỷ XVIII – XIX, lời ca hát Dô phát triển liên tục và hoàn thiện dần.
Nhƣ vậy, từ hình thức sinh hoạt dân dã xa xƣa, hát đơn giản nhƣ: hát
trong nhà vào những lúc gia đình hữu sự, hát trên đồi, trên sông khi trai gái
thổ lộ tâm tình. Hát Dô đã đƣợc đƣa vào hát thờ vị Thánh của làng và trở
thành một nghi thức thiêng liêng.
1.3. Hình thức và đặc điểm của hát hội Dô
1.3.1. Tổ chức hội Dô
1.3.1.1. Mục đích
Hát Dô bắt nguồn từ chính cuộc sống lao động, từ những lời ca tiếng
hát nảy sinh trong môi trƣờng sinh hoạt dân gian. Vì vậy, khi công xã nông
thôn đã thành lập, để phục vụ cho tín ngƣỡng, ngƣời ta thấy xuất hiện những
đề tài chúc tụng nhau. Ấy là lối hát múa gồm hai phần, phần đầu tiến hành
nghi lễ, phần sau là giao duyên. Ở phần đầu bao giờ lề lối hát và tổ chức cũng
hết sức chặt chẽ thể hiện niềm ngƣỡng vọng và tin tƣởng tuyệt đối. Lễ hội mở
ra nhằm mục đích hồi tƣởng lại công lao của các thần, bày tỏ ƣớc nguyện về
một cuộc sống ấm no, giàu đủ và bình yên. Cội rễ của lễ hội ấy là hội mùa, là

11


lễ hội nông nghiệp gắn với những tín ngƣỡng cổ nhƣ tín ngƣỡng phồn thực,
thờ thần lúa. Hơn nữa, trong truyền thuyết nhân dân cũng nói đến công lao
sáng tạo ra cây lúa của Tản Viên Sơn Thánh, điều này càng khẳng định rằng
lễ hội mà có hát Dô ấy là lễ hội cầu mùa. Hát Dô mang những đặc trƣng riêng

1.3.2.1. Lề lối
Khảo sát nội dung hát Dô chúng tôi thấy phong phú và đa dạng. Cụ thể
nội dung hát Dô đƣợc chia làm hai phần:
Hát Chúc: là những lời hát thuộc phần nghi lễ của diễn xƣớng hát Dô.
Những lời ca này chỉ đƣợc thể hiện trong đền Khánh Xuân, nơi thờ Tản Viên
sơn thánh. Phần nội dung bắt buộc nghi lễ chỉ chiếm phần nhỏ, nội dung cơ
bản của lời ca là ƣớc muốn của mọi tầng lớp ngƣời trong xã hội, là thăng quan
tiến chức, làm nông thuận lợi, buôn bán thuận hoà, là mừng xuân, là vui chơi,
hội hè. “Trong rất nhiều bài hát, chỉ riêng Hát Chúc (bài hát chỉ dùng để hát
trong Cung Sơn Ca) đã mang trong nó đủ cả 36 làn điệu”, bà Lan nói. Đặc
biệt, em Nguyễn Thị Phƣợng, một thành viên trong Câu lạc bộ hát Dô đã phát
biểu rằng: “Em rất thích những bài Hát Chúc vì nó nói lên tinh thần yêu nƣớc
và tình cảm của quê hƣơng đất nƣớc… ”. Điều này, cho chúng ta thấy mặc dù
những lời ca xa xƣa rất khô cứng nhƣng các em vẫn luôn cố gắng để có thể
học tốt những làn điệu đó.
Hát Bỏ bộ: là phần lời ca mang đậm chất trữ tình hơn cả. Tình yêu nam
nữ đƣợc thể hiện tinh tế và rõ nét. Lời ca điêu luyện, thấm đƣợm chất trữ tình.
Sức sống lâu bền của diễn xƣớng hát Dô chính là giá trị hiện thực mang lại
cho con ngƣời. Nội dung lời ca Bỏ bộ rất phong phú, mỗi bài có một ý nghĩa
riêng cho nên việc đặt tên cũng dễ dàng hơn. Có những bài ca ngợi cảnh đẹp
của thiên nhiên, vẻ đẹp của bốn mùa, của cây cỏ hoa lá… Khi đƣợc hỏi, trong
tất cả các phần hát thì thích phần hát nào nhất, hầu hết các em tham gia hát
Dô đều thích những phần hát Bỏ bộ, bởi theo các em nó không bị khô cứng và
vẫn có nhịp điệu, lời ca lại gần gũi. “Em rất thích những lời ca trong hát Bỏ

13


bộ. Em thích nhất là bài “Muỗi đốt tứ (tí) tung”, vì nó rất hay và lời ca cũng
gần gũi”, em Kiều Thị Hoài, thành viên Câu lạc bộ hát Dô xã Liệp Tuyết, đã

Thánh vâng nhà chùa
Giúp lúa, hộ dân
……..
Một nhà trăm lứa
Những lứa tốt thay
Kén chắc lành quay
Là ƣơm đôi guồng
Và nếu văn bản hát Xoan ngày càng đƣợc bổ sung và chỉnh lý, trở nên
rƣờm rà, khó hiểu thì văn bản hát Dô vẫn giữ đƣợc những từ ngữ gốc của
Tiếng việt xƣa kia nhƣ từ “chạ”, là từ dùng để chỉ một đơn vị nhỏ tƣơng
đƣơng với làng. Mặc dù, trải qua thời gian rất lâu (36 năm) mới diễn ra Hội
Dô nhƣng mỗi lần có hát Dô thì nó vẫn chiếm trọn tình cảm của ngƣời dân,
phải chăng chính bởi những lời ca xuất phát từ cuộc sống. Nếu nói thời gian
36 năm làm cho hát Dô chậm phát triển và đổi mới, thì nói một cách khác đó
chính là một cách để bảo lƣu những vốn liếng xƣa kia của dân tộc ta.

15


Chƣơng 2
THỰC TRẠNG NGHỆ THUẬT HÁT DÔ TRONG ĐỜI SỐNG
CỘNG ĐỒNG XÃ LIỆP TUYẾT HUYỆN QUỐC OAI – HÀ NỘI

2.1. Đặc trƣng của nghệ thuật hát Dô
2.1.1. Nội dung của hát
Môi trƣờng kinh tế xã hội đã sản sinh và nuôi dƣỡng hát Dô chính là
nghề trồng lúa nƣớc, kết hợp với làm thủy lợi. Môi trƣờng sinh thái nhân văn
đã sản sinh và nuôi dƣỡng hát Dô là cộng đồng làng xã với những phong tục
tập quán, nghi lễ - tín ngƣỡng,… Các nhân tố này kết hợp với nhau tạo nên
một “hạt giống”, một điểm khởi phát sáng tạo ra hát Dô. Đó chính là lối hát

Áo thời thiếp đắp gối mât đợi chờ
….
Những bài ca thể hiện sự giao lƣu giữa hát Dô với các loại dân ca giao
duyên khác nhƣ: Quan họ…
Trúc trúc mai mai,
Dẫu dãi nắng mƣa
Còn duyên kẻ đón ngƣời đƣa
Hết duyên đi sớm về trƣa mặc lòng
Phạm vi miêu tả đã đƣợc mở rộng. Cảm hứng trữ tình trở nên bao trùm,
trở thành chủ đạo, mọi so sánh liên tƣởng đều đƣợc sử dựng, đƣợc huy động
để phản ánh tâm trạng. Nhìn một chiếc cầu tre ngƣời ta cũng liên tƣởng tới
ngƣời thƣơng:
Cầu tre ai khéo bắc dối
Nó lệch chênh chếch
Nó lệch chênh chênh
Chàng đi khéo ngã lấm mình chàng ơi.

17


Những lời ca trong hát Bỏ bộ hầu hết khá điêu luyện, trong sáng và
uyển chuyển. Rất nhiều câu đã trở thành tài sản chung của kho tàng dân ca trữ
tình, chứng tỏ sự giao lƣu và bổ sung giữa các loại dân ca.
2.1.2. Về người hát
Bất kỳ một loại hình văn hóa dân gian nào cũng có những quy định
riêng, phù hợp với những đối tƣợng mà nó phản ánh. Với hát Dô thì yêu cầu
về ngƣời hát cũng có nhiều điểm đặc biệt. Cách chọn ngƣời hát Dô trong lễ
hội Dô cũng có phần khác với hát Xoan trong hội Xoan, cũng là một loại dân
ca nghi lễ đƣợc biểu diễn trong lễ hội ở đầu xuân.
Việc chọn ngƣời hát trong hát Dô là một vấn đề hết sức quan trọng và

Các thôn lần lƣợt vào hát, đầu tiên là thôn Đại Phu, tiếp đến là thôn
Vĩnh Phúc, sau đó đến Bái Nội, Bái Ngoại, Thông Đạt, Đông Sơn. Khi hát thì
tất cả phải tuân thủ theo trình tự đã ghi trong văn bản. Sau khi các thôn hát
xong thì tế lễ mới bắt đầu. Cuộc hát thƣờng bắt đầu từ sáng sớm cho đến trƣa
mới khắp lƣợt tất cả các thôn. Cũng có cụ nói rằng cứ hát nhƣ thế đến xế
chiều rồi mới xong.
Kết thúc phần hát chúc, hát thờ và tế lễ là chuyển sang phần hát Bỏ bộ,
nhƣ tên gọi, đây là phần hát kèm theo những điệu bộ, cử chỉ và có phần linh
hoạt hơn. Đặc biệt, có ngƣời nói rằng; phần hát này chỉ có thôn Bái Nội, Bái
Ngoại đƣợc hát, bởi các thôn kia đã hát phần hát Chúc, hát thờ. Trong phần
này, hầu nhƣ câu nào cũng có động tác mô phỏng nội dung câu hát.
Các bạn nàng phải mô tả niềm vui, sự háo hức khi đi bẻ cành hái hoa.
Đồng thời đôi tay cũng đƣa ra và diễn tả động tác hái nhƣ thật. Sau mỗi bài
hát thì các bạn nàng thƣờng tập trung lại thành hai hàng và có một nguyên tắc
trong các cuộc hát là không bao giờ đƣợc phép quay lƣng vào ban thờ Tản
Viên Sơn Thánh, sau hai nhịp sênh các bạn nàng cúi đầu cảm tạ Thánh Tản,
cứ làm nhƣ vậy ba lần mới đƣợc giải tán và kết thúc cũng bằng tiếng sênh.
Ngày hôm sau và những ngày tiếp theo cũng đều hát, tế lễ nhƣ ngày đầu tiên.

19


Đến chiều ngày 15 tháng giêng hội mới kết thúc và nhân dân địa phƣơng lại
rƣớc kiệu từ đền về miếu theo thứ tự (Đầu tiên là thôn Đại Phu, sau đó là thôn
Vĩnh Phúc, Bái Nội, Bái Ngoại, Thông Đại và cuối cùng là Đồng Sơn). Sau
hội tháng giêng, đến ngày mồng mƣời tháng sáu âm lịch năm đó nhân dân lại
tổ chức lễ tạ. Lần này vẫn có những cuộc hát nhƣng đơn giản và gọn nhẹ hơn
rất nhiều. Để rồi sau đó 36 năm sau cuộc hát Dô mới lại tƣng bừng.
2.1.4. Hình thức của hát Dô
Các hình thức hát trong hát Dô rất phong phú và đa dạng nhƣng chủ

Bái hồ là huậy
Là huậy dô huậy
Là hỡi i à lên dô
Bái hồ là huầy
Là huầy i i dô huầy
Khi đến những đoạn này, ngoài lời ca cất lên thì các bạn nàng phải mô
phỏng động tác chèo thuyền khá đặc biệt.
Hình thức ca khúc: những đoạn này trong diễn xƣớng hát Dô có thể
tách ra độc lập mang nội dung hoàn chỉnh. Hình thức này nghiêng về nội
dung hơn, bao gồm cả phần Cái hát và phần xô của các bạn nàng trong cả một
chuỗi dài diễn xƣớng. Nội dung lời ca đó thƣờng có một ý chính đủ rút ra một
nhận xét, một suy nghĩ hay một cảm xúc nào đó. Tuy vậy, ở một số bài nhất
định thì cảm giác đầy đủ khi kết cũng đã rõ và hình thức ca khúc do vậy đƣợc
khẳng định. Ví nhƣ một số bài: Hái hoa, Thẳng cánh cung ra, Chèo thuyền,
Xe chỉ, Lên chùa… Bốn hình thức trên diễn xƣớng liên tục nhƣ một bản
trƣờng ca. Vì thế, mỗi bài hát trong hát Dô không mang tính chất dứt khoát
hẳn về mặt khúc thức. Do chỗ kết cấu đƣợc tự do bài ca của hát Dô có thể
đƣợc gói trọn trong nội dung một lời ca có câu mở đầu và kết thúc. Đó là hình
thức thƣờng thấy trong mỗi bài hát Dô, ở đó thƣờng gồm hai hoặc bốn câu lục

21


bát chính và lời ca của câu ca dao đó trở thành chỗ phân định ranh giới của
các bài hát.
2.1.5. Về trang phục, đạo cụ và nhạc cụ
Có thể nói, yêu cầu luật tục của hát Dô rất khắt khe, nên trong tất cả các
khâu ngƣời dân đều chuẩn bị một cách kỹ lƣỡng và điều này đƣợc quan tâm
cả với trang phục, đạo cụ và nhạc cụ:
Về trang phục: Trong cuộc hát luôn gồm cả cái hát và bạn nàng mà cái

khăn màu đỏ chính là biểu tƣợng lộc của thánh. Màu đỏ là màu sáng, màu
tƣơi biểu thị cho sự cân bằng âm dƣơng ở đây, hơn nữa chiếc khăn cũng làm
cho những ngƣời bạn nàng khi thực hiện động tác trở nên khéo léo, điêu luyện
hơn. Ngoài ra, chiếc túi múi cam hay còn gọi là túi đào tiên dùng để đựng trầu
không, hay tƣợng trƣng cho quả đào tiên trong một bài hát của hát Dô. Tất cả
hợp thành một loại trang phục tƣơi tắn, quý phái mà vẫn giản dị, nền nã, vừa
cởi mở lại vừa đoan trang… Nó thể hiện một vẻ đẹp rất riêng nhƣng cũng vẫn
thuần khiết lao động của những ngƣời phụ nữ Việt Nam.
Trang phục của “nam thanh nữ tú” tham gia hát Dô mang những nét
đặc biệt. Tất cả đƣợc sáng tạo nên từ cuộc sống lao động của chính ngƣời dân.
Chất liệu vẫn là những vật liệu gần gũi với thiên nhiên, với đời sống hàng
ngày. Màu sắc cũng là những màu gắn bó với ruộng đồng, với sản xuất nông
nghiệp. Hay nói một cách khác là ngay trong bộ trang phục thì ƣớc mong về
một cuộc sống ấm no, thuận hòa cũng đƣợc thể hiện rất rõ.
Về nhạc cụ: Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… cái hát còn có thêm
một nhạc cụ hết sức đơn giản đó là đôi sênh do cái hát cầm để giữ nhịp hát..
Điều này càng cho ta thấy sự khác biệt với Ca trù: Nếu Ca trù từng
bƣớc tiếp nhận sự đổi mới, và gia nhập vào dòng văn hóa chuyên nghiệp thì
hát Dô vẫn là một thể loại văn nghệ dân gian, gắn bó chặt chẽ với quê hƣơng,
với đời sống của ngƣời dân lao động, đó là nhạc cụ hát Dô bằng tre, có chất

23


liệu gắn bó với sản xuất nông nghiệp, lại đƣợc đẽo gọt đơn giản. Chính là một
biểu hiện của dòng âm nhạc dân gian.
Về đạo cụ: Quạt giấy là đạo cụ của các bạn nàng. Quạt giấy đƣợc làm
bằng chất liệu tre, đƣợc vót bẹt và mỏng, lại dẻo dai, phủ ở bên ngoài là một
lớp giấy, bao quanh những que tre ấy. Mỗi một chiếc quạt có 16 thanh tre.
Chiếc quạt là vật dụng không thể thiếu đƣợc trong đời sống ngƣời dân, nó vừa

sắc thiên nhiên thơ mộng, mà còn là những bài giao duyên trữ tình, đằm thắm.
Nhƣ vậy, chúng ta thấy sự hoàn thiện dần của nội dung hát Dô.
Mặc dù mang những nét đặc sắc riêng nhƣng hát Dô vẫn có những
điểm tƣơng đồng với các loại dân ca nghi lễ khác nhƣ: Hát Xoan…
2.2.2. Mô tả cuộc sống cư dân
Với nền nông nghiệp thô sơ, cha ông ta đã sống dựa vào thiên nhiên và
nghiệm ra rằng, mùa xuân hoa lá tƣơi màu, cây cối đâm trồi nảy lộc, cầm thú
nhảy nhót tƣơi vui, vạn vật đua nở. Mùa xuân ấm áp thiên nhiên nhƣ đang
thai nghén, chuyển động, mọi ngƣời đều đang chờ đón lấy điềm lành, góp sức
mình cùng thiên nhiên xây dựng một năm mới, hoặc tạo cho mình một niềm
tin: năm mới sẽ làm ăn phát đạt hơn.
Đặc biệt, cảnh sắc bốn mùa đƣợc thể hiện rất tinh tế và sâu sắc:
Tháng tƣ nghe một tiếng ve
Trăm cây nghìn mãn đi về phô trƣơng
Hoặc:
Tháng tám nƣớc chảy hây hây
Chàm xanh nƣớc biếc da trời giống nhau
Cứ nhƣ vậy, quy luật cũng nhƣ những đặc trƣng của bốn mùa đƣợc thể
hiện rất rõ qua các lời ca. Tháng giêng thời tiết đẹp, đón những sự tƣơi trẻ của
mùa xuân; tháng tƣ trời bắt đầu nóng bức chuyển sang hè; tháng tám trời lại
dịu nhẹ, những cơn gió thoảng qua nhƣ làm say lòng ngƣời; đến tháng mƣời

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status