Ứng Dụng Phân Hệ Sưu Tập Số Của Phần Mềm LIBOL 6.0 Tại Thư Viện Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự - Pdf 41

z

Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN
----------

NGUYỄN THỊ THỦY

ỨNG DỤNG PHÂN HỆ SƯU TẬP SỐ
CỦA PHẦN MỀM LIBOL 6.0 TẠI THƯ VIỆN
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÔNG TIN – THƯ VIỆN
HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY
KHÓA HỌC: QH – 2008 – X

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. CHU NGỌC LÂM

Hà Nội - 2012

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 1


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự


BẢNG GIẢI NGHĨA TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
AACR
CD – ROM
CSDL
DDC
GT - TL
HVKTQS
HTML
ICP
ILL
ISBD

ISSN

ISO
KHKT
LCC
LIBOL
MARC
OCR
OPAC
SP

Nghĩa tiếng Anh
Anglo – American

Nghĩa tiếng Việt
Quy tắc biên mục Anh – Mỹ


Tiêu chuẩn Quốc tế về mô tả

Bibliography Description

thư mục
Nhóm 10 chữ số duy nhất, đại

International Standard
Serial Number
International Organization
for Standardization
Library of Congress
Classification
Library Online
Machine – Readable
Optical Character
Recognition
Online Public Access
Catalogue
Stored Procedure

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

diện cho một tạp chí trên toàn
thế giới
Tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế
Khoa học kỹ thuật
Bảng phân loại của thư viện
Quốc hội (Mỹ)
Thư viện trực tuyến


nhất. Thông tin này thường

Location

dùng để xác định một trang

Extensible Markup
Language

Z39.50

-

trên Web
Văn học, chính trị và xã hội
Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng
Chuẩn dùng để trao đổi thông
tin về sách giữa các thư viện

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, vai trò của thư viện
ngày càng được đánh giá cao.
Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển với tốc độ rất nhanh và được
ứng dụng ngày càng nhiều vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có
ngành thông tin thư viện.

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV


riêng và hoạt động thông tin - thư viện nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 5


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

Số hóa tài liệu trong hoạt động thông tin – thư viện hiện nay vẫn là một
vấn đề mới mẻ ở nước ta. Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này rất ít, có một
số đề tài nghiên cứu khoa học nghiên cứu đến vấn đề này nhưng chỉ là đề cập
đến một khía cạnh nhỏ chưa đi vào cụ thể. Một số công trình nghiên cứu về
vấn đề liên quan đến số hóa tài liệu như “Xây dựng và phát triển nguồn lưc
thông tin điện tử ở Học viện Hậu cần” của Lê Anh Tiến – Luận văn thạc sĩ
năm 2010; “Đề án số hóa tài liệu” của Thư viện Hà Nội năm 2011; “Đề án
nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin của hệ thống thư viện công
cộng giai đoạn 3” của Thư viện Quốc gia Việt Nam năm 2002,…
Phân hệ Sưu tập số là phân hệ mới của phần mềm Libol 6.0, đây là
điểm nổi bật của phần mềm này, là giải pháp cho việc xây dựng thư viện số
trong các cơ quan thông tin thư viện. Thư viện HVKTQS mới ứng dụng Libol
6.0 từ năm 2010, việc nghiên cứu ứng dụng của phân hệ Sưu tập số tại Thư
viện HVKTQS hoàn toàn là mới mẻ, chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.
Vấn đề số hóa tài liệu và việc ứng dụng phần mềm trong việc quản lý
và khai thác bộ sưu tập số là vấn đề đang được nhiều cơ quan thông tin – thư
viện ở nước ta quan tâm, hướng tới mục tiêu xây dựng thư viện thành các thư
viện điện tử.
Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề số hóa tài liệu và ứng dụng phân hệ Sưu
tập số - Libol 6.0 là cần thiết đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động

viện.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên các phương pháp cụ thể như:
- Phân tích, tổng hợp tài liệu
- Trao đổi, phỏng vấn
- Phương pháp thống kê

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 7


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm rõ hơn những vấn đề chung về số hóa, vai trò của số hóa trong
hoạt động thông tin thư viện
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng công
nghệ thông tin và số hóa tài liệu trong Thư viện HVKTQS.
- Làm tài liệu tham khảo cho các thư viện và công tác đào tạo cán bộ
thư viện
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bảng giải thích các từ
viết tắt, khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự với vấn đề số hóa tài liệu.
- Chương 2: Thực trạng ứng dụng phân hệ Sưu tập số - Libol 6.0 tại
Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự
- Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng ứng dụng phân hệ Sưu

 Có thể hiểu theo nghĩa tổng quát: Thư viện điện tử là một loại hình
thư viện đã tin học hóa toàn bộ hoặc một số dịch vụ thư viện. Là nơi người sử
dụng có thể tới để tra cứu, sử dụng các dịch vụ thường làm như với một thư
viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa.Nguồn lực của Thư viện điện tử
bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã được số hóa.

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 9


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

 Thư viện số
Theo định nghĩa của TS. Ian Witten: “Thư viện số là tập hợp những bộ
sưu tập thông tin của các đối tượng số hoặc đã được số hóa có tổ chức và tập
trung. Tập trung theo đề tài hay chủ đề và có tổ chức để thông tin dễ truy cập
và lưu trữ theo những tiêu chuẩn chuyên biệt”.
Thư viện số là một Thư viện điện tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài
liệu của thư viện đã được số hóa và được quản lý bằng một phần mềm chuyên
dụng có tổ chức giúp người dung dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội
dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các
phương tiện truyền thông.
Một Thư viện số hoàn chỉnh phải thực hiện được tất cả các dịch vụ cơ
bản của thư viện truyền thống kết hợp với việc ứng dụng các lợi thế của công
nghệ thông tin trong việc lưu trữ, tìm kiểm và phổ biến nội dung thông tin.
Thư viện số là cơ hội đặc biệt cho thư viện truyền thống đổi mới
phương thức phục vụ cho người dùng tin, đảm bảo hiệu quả, chất lượng cho
đối tượng phục vụ. Quá trình tin học hoá này được thực hiện hầu như không
tách rời với truyền thống và các chuẩn đã định về mô tả và các công cụ thư

Ví dụ: Bộ sưu tập số về chủ tịch Hồ Chí Minh gồm các văn bản, các tác
phẩm văn học, các văn kiện chính trị do Bác viết và do người khác viết về
Bác; Những bài hát, bản nhạc viết về Hồ chí Minh; những đoạn phim, những
băng video phản ánh cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người.
Như vậy, một Thư viện số có thể bao gồm nhiều bộ sưu tập theo các
chủ đề khác nhau, có thể do tập thể hoặc cá nhân tự xây dựng hoặc trao đổi,
mua bán. Có thể nằm trong lưu trữ của thư viện nhưng cũng có thể nằm ngoài
thư viện thông qua một kênh cung cấp từ phía đối tác.
Sự có mặt của các nguồn tin số hoá mở đầu một chiều hướng mới trong
việc quản lý các thư viện được tin học hoá, bởi vì cũng cần đảm bảo việc
quản lý bản thân các nguồn số hoá gắn liền với sự thông báo trong mục lục
truyền thống. Như vậy các thư viện số đã bổ sung vào hệ thống quản lý thư
viện tích hợp một hệ thống quản lý các nguồn số hoá trong quá trình xây dựng
các sưu tập thông tin. Sự hiện diện đồng thời dưới dạng số của một nguồn lực
và hình thức mô tả nguồn đó tác động đến sự tiến triển của các khổ mẫu dữ
liệu.

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 11


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

 Số hóa tài liệu
Số hóa tài liệu của vai trò quan trọng bậc nhất trong quá trình hình
thành các bộ sưu tập số. Thông thường, các dữ liệu dạng chữ, hình ảnh, âm
thanh… sử dụng trên máy tính và được máy tính nhận biết đúng định dạng,
được gọi chung là dữ liệu số. Quá trình chuyển các dạng dữ liệu truyền thống
như các bản viết tay, bản in trên giấy, hình ảnh… sang chuẩn dữ liệu trên máy

số lượng lớn, giá cả hợp lý và đảm bảo chất lượng, thiết bị nhận dạng quang
học OCR. Đặc biệt là công nghệ KIRTAS APT 1200 có một phần mềm biên
tập BookScan Editor cho phép tự động biên tập, tạo siêu dữ liệu theo yêu cầu;
BookScan APT 1200 không làm hư hỏng tài liệu gốc do không phải tháo gáy
tài liệu đối với tài liệu có độ dày trang khi thực hiện Scan.
1.1.2.2. Nhận dạng ký tự quang học
Giai đoạn này cho ra sản phẩm dạng số hóa văn bản gọi là nhận dạng
ký tự quang học – OCR (Optical Character Recognition).
Nhận dạng ký tự quang học (tiếng Anh: Optical Character
Recognition, viết tắt là OCR), là loại phần mềm máy tính được tạo ra để
chuyển các hình ảnh của chữ viết tay hoặc chữ đánh máy (thường được quét
bằng máy scanner) thành các văn bản tài liệu. OCR được hình thành từ một
lĩnh vực nghiên cứu về nhận dạng mẫu, trí tuệ nhận tạo và machine vision.
Mặc dù công việc nghiên cứu học thuật vẫn tiếp tục, một phần công việc của
OCR đã chuyển sang ứng dụng trong thực tế với các kỹ thuật đã được chứng
minh.
Nhận dạng ký tự quang học (dùng các kỹ thuật quang học chẳng hạn
như gương và ống kính) và nhận dạng ký tự số (sử dụng máy quét và các
thuật toán máy tính) lúc đầu được xem xét như hai lĩnh vực khác nhau. Bởi vì
chỉ có rất ít các ứng dụng tồn tại với các kỹ thuật quang học thực sự, bởi vậy
thuật ngữ Nhận dạng ký tự quang học được mở rộng và bao gồm luôn ý nghĩa
nhận dạng ký tự số.
Đầu tiên hệ thống nhận dạng yêu cầu phải được huấn luyện với các
mẫu của các ký tự cụ thể. Các hệ thống "thông minh" với độ chính xác nhận
dạng cao đối với hầu hết các phông chữ hiện nay đã trở nên phổ biến. Một số
hệ thống còn có khả năng tái tạo lại các định dạng của tài liệu gần giống với
bản gốc bao gồm: hình ảnh, các cột, bảng biểu, các thành phần không phải là
văn bản.

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Tài liệu số hóa là một dạng tài liệu hiện đại. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra
đối với một sản phẩm số hóa về cơ bản sẽ mang một số nét đặc trưng giống
với tài liệu nói chung và một số yêu cầu riêng của mình. Yêu cầu đối với một
tài liệu số hóa bao gồm:

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 14


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

- Nội dung;
- Hình thức;
- Sản phẩm số hóa phải phù hợp với phần mềm.
1.1.3.1. Nội dung
Nội dung chứa trong tài liệu là một yêu cầu không thể thiếu trong mỗi
cuốn sách. Nội dung bao gồm toàn bộ tri thức mà cuốn sách muốn truyền đạt
đến bạn đọc. Một cuốn sách hay khi nội dung của nó được đáp ứng đúng yêu
cầu của người đọc, không vi phạm đến những điều luật pháp quy định. Những
yêu cầu về nội dung đối với một sản phẩm số hóa bao gồm:
- Nội dung tài liệu số hóa phải phù hợp với nhu cầu tin chiếm đại đa số
mà người dùng tin tại Thư viện.
- Nội dung trong các tài liệu không vi phạm luật pháp quốc gia và quốc
tế như về bản quyền tác giả, có nội dung tốt,….
- Có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng như nhà xuất bản, tác giả, ….
Tất cả các yêu cầu về nội dung đòi hỏi thư viện phải tiến hành chặt chẽ
để đảm bảo chất lượng cho sản phẩm số hóa.
1.1.3.2. Hình thức
Sản phẩm tài liệu số hóa cũng giống như các tài liệu ở dạng truyền

dạng hình học. Phổ biến hơn cả là:
- Định dạng DXF (Drawing Interchange Format) được sử dụng rộng
rãi trong các chương trình thiết kế bằng máy tính cho các kỹ sư và kiến trúc
sư;
- Định dạng EPS (Encapsulated PortScript) được sử dụng rộng rãi
trong các hệ thống biểu quyết/bầu cử tại bàn;
- Định dạng CGM (Computer Graphics Metafile) được sử dụng rộng
rãi trong nhiều phần mềm đồ họa (ví dụ trong phần mềm Photoshop).
Các định dạng mành, chúng lưu giữ hình ảnh như là tập hợp
những điểm ảnh - pixels. Khi thay đổi kích cỡ ảnh, đồ họa mành bị biến
dạng. Phổ biến hơn cả là:
- Định dạng BMP (Bitmap)- định dạng tương đối kém về chất lượng,
thường dùng vào quá trình soạn thảo văn bản;
- Định dạng TIFF (Tagget Image File Format) sử dụng rộng rãi trong
các ứng dụng phần mềm;

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 16


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

- Định dạng GIF (Graphics Interchange Format) sử dụng rộng rãi
trong các phần mềm dành cho Internet.
 Các định dạng bảng điện tử.
Những file trong định dạng bảng điện tử lưu giữ trong các ô những con
số và mối liên hệ giữa những con số đó. Ví dụ, một ô có thể chứa công thức
thực hiện việc cộng dữ liệu của hai ô khác. Giống như các file cơ sở dữ liệu,
các file bảng điện tử thường có định dạng của chính phần mềm tạo ra nó. Một

theo các tài liệu trong cơ sở dữ liệu, còn các định dạng đồ hoạ (PDF, TIFF
v.v.) giúp nhận được hình ảnh khi scan với toàn bộ những đặc điểm bên ngoài
của nó và giữ tài liệu có dạng đúng như trên giấy với đầy đủ chữ ký, con dấu,
bút tích.
Định dạng MS Word rất tiện cho biên tập tài liệu và xử lý thông tin,
nhưng file MS Word lại chứa đựng nhiều thông tin ẩn (trước tiên về những
thay đổi đã thực hiện trong file) và như vậy, nó rất không an toàn theo quan
điểm thất thoát thông tin công vụ. Ví dụ, trong lúc chuẩn bị tài liệu thương
mại, thông tin ẩn lại cho ta biết những đề xuất khởi điểm, ai có ảnh hưởng
mạnh nhất tới văn bản. Trong chuẩn bị tài liệu theo nhóm, sự phân tích sửa
đổi cho ta khả năng nhận biết không chỉ họ tên những người lập tài liệu mà cả
mức độ đóng góp của từng người vào phương án hoàn chỉnh của tài liệu.
1.1.3.3. Phần mềm quản lý và khai thác
Nếu như bộ sưu tập số là nguồn lực thông tin, là nguồn tài nguyên
thông tin của một Thư viện điện tử, Thư viện số thì Phần mềm thư viện đóng
vai trò như công cụ đi kèm theo giúp hỗ trợ việc sử dụng nó. Trên thực tế thì
phần mềm quản trị Thư viện là một yếu tố đặc biệt quan trọng không thể thiếu
trong hoạt động Thư viện điện tử, Thư viện số. Phần mềm thư viện có những
vai trò như:
+ Tạo siêu dữ liệu bao gồm:
- Siêu dữ liệu mô tả: Mô tả các thông tin về tài liệu;
- Siêu dữ liệu cấu trúc: Mô tả các liên kết giữa các đối tượng thông tin
liên quan của tài liệu như mục lục, chương, phần, trang sách, hình ảnh minh
họa, phụ lục…giúp người dùng dễ dàng di chuyển đến các thành phần của tài
liệu.
- Siêu dữ liệu quản trị: gồm tạo kích cỡ tập tin; Định dạng tài liệu
(PDF); Đặc tính sử dụng và tình trạng của tài liệu.

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV


ngày 28/12/2000 quy định: “Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản
thư tịch của dân tộc, thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng
chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 19


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp
nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài
phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa phục vụ công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Ngoài chức năng, nhiệm vụ của một thư viện nói chung, Thư viện Học
viện Kỹ thuật Quân sự còn thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ mang tính
chất đặc thù như sau:
- Nghiên cứu, thu thập, lưu trữ, xử lý những tài liệu cần thiết phục vụ
cho nhu cầu học tập, nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, học viên, và sinh
viên trong trường.
- Ứng dụng hiệu quả thành tựu của khoa học công nghệ tiên tiến từng
bước hiện đại hóa Thư viện.
- Tuyên truyền phục vụ cho công tác Đảng, công tác chính trị trong
môi trường Quân đội và là công cụ đấu tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng.
Nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến để từng
bước hiện đại hóa thư viện.
- Tổ chức, bổi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thư viện.
- Thư viện là cầu nối đưa sách báo, thông tin chính trị, văn hóa, xã hội
cập nhật vào môi trường quân đội.


Page 21


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

Phòng Thông tin Khoa học Quân sự

Ban Thông tin
khoa học

Ban Thư
viện

Ban Tạp chí khoa học
và kỹ thuật

Nhà H2

Nhà H1
1.101.Phòng
mượn trả GT - TL
Tầng 1

Tầng 2
Tầng 3

2.501.Phòng tự
học 1


1.302.Phòng Trưởng ban
Thư viện
1.401.Phòng đọc mở 2
Tầng 4

1.401.Phòng đọc báo, tạp chí
Sơ đồ cơ cấu tổ chức phòng ban trong thư viện

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 22


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

1.2.4. Cơ sở vật chất và trang thiết bị
1.2.4.1. Cơ sở vật chất
 Cơ sở 1: 100 Hoàng Quốc Việt, Từ Liêm, Hà Nội
Hiện nay, Thư viện Học viện KTQS tại Hà Nội đang sử dụng tòa nhà 5
tầng với tổng diện tích là 2.240 m2/650 chỗ ngồi. Trong đó:
Tên phòng

Diện tích

(m2)/ chỗ

ngồi
Kho sách mượn và trả GT – TL
Phòng đọc mở
Phòng Multimedia, Internet


1.2.4.2.Trang thiết bị và phần mềm ứng dụng
 Trang thiết bị

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 23


Ứng dụng phân hệ Sưu tập số của phần mềm Libol 6.0 tại Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự

Thư viện HV KT QS trang bị với số lượng khá đầy đủ nhằm đảm bảo
cho việc sử dụng các nguồn lực thông tin tại Thư viện được hiệu quả nhất.
Hiện Thư viện có:
Có 300 giá sắt trong đó có 180 giá chuyên dụng, 250 bàn đọc, 500 ghế,
100 máy tính, 6 máy in, 14 máy scan (01máy scan khổ A3, 13 máy scan khổ
A4) , 01 camera kỹ thuật số, 02 máy in mã vạch chuyên dụng, 04 máy hút bụi,
06 máy hút ẩm, 02 máy photocophy, 01 máy ép plastic, 15 máy điều hòa nhiệt
độ, 01 tivi màu 29 inch, 01 tivi Daewoo 20 inch, 01 tivi Samsung 40 inch và
nhiều trang thiết bị khác. Bên cạnh đó Thư viện có 01 hệ thống camera đặt tại
phòng đọc tự chọn, 01 hệ thống mạng INTRANET với 25 máy chủ (01 máy
chủ và 24 máy trạm).
 Phần mềm ứng dụng
Nhằm đảm bảo cho công tác quản lý, khai thác và xây dụng bộ sưu tập
số tiến tới phát triển thư viện theo hướng thư viện điện tử, Thư viện HV
KTQS có trang bị cho thư viện một hệ thống phần mềm đang được nhiều thư
viện và được đánh giá khá cao.
Phần mềm quản lý và khai thác thư viện
Thư viện hiện đang sử dụng phần mềm LIBOL 6.0 với điểm nổi bật là
phân hệ quản lý tư liệu điện tử nhằm phục vụ cho việc quản lý, khai thác và

điện tử y sinh, kỹ thuật điều khiển, cơ khí…
Hiện thư viện có trên 77.047 đầu tài liệu với 554.807 cuốn trong đó:
Sách tham khảo KHKT: 55.916 đầu sách/ 167.511 cuốn;
Sách VH, CT & XH: 5.046 đầu sách/34.269 cuốn;
Giáo trình: 3.150 đầu sách/278.886 cuốn;
Luận án , luận văn: 1000 đấu sách /35.000 cuốn;
Tài liệu mật: 4.003 cuốn;
ĐA tốt nghiệp: 3.394 cuốn;
Báo: 61 đầu;
Tạp chí: 147 đầu.
 Tài liệu điện tử
Hiện nay Thư viện HVKTQS có khoảng gần 3000 tài liệu điện tử
đưa vào khai thác và sử dụng. Các tài liệu điện tử này chủ yếu là các tài

Nguyễn Thị Thủy – K53TTTV

Page 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status