Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) - Pdf 41

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

CHU QUANG DUY

GIảI QUYếT TRANH CHấP
TRONG KHUÔN KHổ HIệP ĐịNH CáC BIệN PHáP ĐầU TƯ
LIÊN QUAN ĐếN THƯƠNG MạI (TRIMs)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

CHU QUANG DUY

GIảI QUYếT TRANH CHấP
TRONG KHUÔN KHổ HIệP ĐịNH CáC BIệN PHáP ĐầU TƯ
LIÊN QUAN ĐếN THƯƠNG MạI (TRIMs)
Chuyờn ngnh: LUT QUC T
Mó s: 60 38 01 08

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TIN VINH

H NI - 2016



1.1.1.

Lịch sử ra đời ................................................................................................. 6

1.1.2.

Nội dung của Hiệp định TRIMs ..................................................................... 8

1.2.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO .................................................. 14

1.2.1.

Phạm vi và đối tượng của các tranh chấp .................................................... 16

1.2.2.

Các cơ quan trong quá trình giải quyết tranh chấp ...................................... 18

1.2.3.

Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp ....................................................... 21

1.2.4.

Giải quyết tranh chấp không thông qua các thủ tục tố tụng ........................ 37

1.3.



2.2.1.

Kinh nghiệm liên quan tới quá trình giải quyết tranh chấp ......................... 57

2.2.2.

Kinh nghiệm liên quan tới TRIMs ............................................................... 59

Chƣơng 3: VẤN ĐỀ PHÒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN
QUAN TỚI TRIMS TẠI VIỆT NAM ...................................................... 62
3.1.

Thực tiễn tại Việt Nam .............................................................................. 62

3.1.1.

Thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung
và trong khuôn khổ WTO nói riêng ............................................................. 62

3.1.2.

Sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp ...................... 66

3.1.3.

Pháp luật Việt Nam liên quan tới TRIMs .................................................... 74

3.2.


Cơ chế giải quyết tranh chấp

Dispute Settlement Mechanism

DSU

Quy tắc thủ tục giải quyết tranh chấp Dispute Settlement Understanding

EU

Liên minh Châu Âu

GATT

Hiệp định chung về Thuế quan và General Agreement on Tariffs and
Thương mại
Trade

TRIMs

Hiệp định các biện pháp đầu tư Agreement on Trade-Related
liên quan tới thương mại
Investment Measures

WTO

Tổ chức thương mại thế giới

European Union


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế khách quan của thực
tại. Để phát triển đất nước, cũng như tăng cường vị thế của mình trên trường quốc
tế, các quốc gia trên thế giới không ngừng hợp tác, giao lưu trên mọi lĩnh vực của
đời sống như Kinh tế, Chính trị, Văn hóa – Xã hội, An ninh... Trong đó, quan hệ
Kinh tế quốc tế được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm hơn cả. Hiện nay,
trong các thiết chế Kinh tế quốc tế chúng ta cần phải nói đến Tổ chức Thương mại
Thế giới (World Trade Organization - WTO), được chính thức thành lập và đi vào
hoạt động ngày 01/01/1995 là sản phẩm của vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994).
Tính đến 14/7/2016 WTO có tới 163 thành viên là các quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới (thành viên mới nhất là Liberia) [67].
Việt Nam với tư cách là một quốc gia đang phát triển cũng không nằm ngoài
quy luật khách quan đó. Bằng chính sách mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc
tế, Việt Nam đã nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 01 năm 1995 và trở thành thành
viên chính thức (ngày 11/01/2007) sau 12 năm đàm phán gia nhập. Sau khi là thành
viên của WTO, nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ một nền kinh tế
Kế hoạch hóa tập chung chúng ta đã và đang xây dựng một nền kinh tế thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên việc hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và
gia nhập WTO nói riêng cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức mới trong việc
phát triển đất nước. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế. Một
mặt, cần phải khuyến khích, tạo động lực phát triển và bảo vệ các ngành sản xuất
trong nước trước nhà đầu tư nước ngoài với nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến hơn chúng ta. Mặt khác, cần phải tạo điều kiện thuận lợi, thu hút nguồn vốn đầu
tư nước ngoài, cùng với việc hướng nguồn vốn đó để phát triển kinh tế đất nước
theo mục tiêu đã đề ra. Xét về mặt trong nước, việc tạo các điều kiện thuận lợi, ưu
đãi dành riêng cho các nhà đầu tư trong nước cùng với việc áp đặt một số biện pháp
hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài là việc cần thiết để bảo vệ ngành sản xuất


trong các sách chuyên khảo , các đề tài nghiên cứu khoa học , các bài viết đăng trên
tạp chí. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đó chỉ đi vào tìm hiểu những vấ n đề chung, cơ

2


bản về cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO và đưa ra một số giải pháp nhằm
khắ c phu ̣c khó khăn vướng mắ c và nâng cao hiê ̣u quả trong quá trin
̀ h giải quyế t
tranh chấ p như :
- Nguyễn Tiế n Vinh, “Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu
tiên của Việt Nam tại WTO” (2011), Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 16(201), tr. 1929; “Kinh nghiê ̣m nước ngoài và viê ̣c tăng cường hiê ̣u quả tham gia của Viê ̣t Nam
vào cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” (2012),
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học (28), tr. 165-181; “Vai trò của các thể chế
phi nhà nước trong việc bảo đảm Việt Nam – một nước đang phát triển – hội nhập
thành công sau khi ra nhập WTO” (2013), Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội.
- Lê Thị Hồng Hải, “Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ
WTO” (2009), Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hồng Anh, “Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, các bài
học kinh nghiệm của một số nước và khuyến nghị đối với Việt Nam trong thời gian
tới” (2011), Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội.
- Nguyễn Tiế n Hoàng , “Giải quyết tranh chấp trong tổ chức thương mại thế
giới và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” (2012), luâ ̣n án Tiế n si ̃ bảo vệ ngày
26/4/2012, Trường Đa ̣i ho ̣c Ngoa ̣i thương.
- Nguyễn Hữu Huyên , “Nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO” (2015), đăng tải ta ̣i trang thông tin điê ̣n tử của
Viê ̣n nhà nước và pháp luâ ̣t;...
Hoặc những bài viết nêu ra những nội dung cơ bản của Hiệp định các biện
pháp đầu tư liên quan tơi thương mại , đồ ng thời đưa ra mô ̣t số khuyế n nghi ̣làm thế
nào để thích nghi với hiệp định như:

đinh
̣ các biê ̣n pháp đầ u tư liên quan tới thương ma ̣i (TRIMs)” là mô ̣t trong những đề
tài tuy không mới nhưng la ̣i ít đươ ̣c quan tâm, đề cập cho tới thời điểm hiện tại.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Rút ra được những kinh nghiệm cho Việt Nam, nâng cao hiệu quả việc giải
quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và các tranh chấp liên quan tới
các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần bổ sung và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết
tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và Hiệp định TRIMs nói riêng;
- Đánh giá kết quả việc giải quyết tranh chấp liên quan đến TRIMs;
- Rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những giải pháp mà Việt Nam cần làm
để phòng ngừa rủi ro, giải quyết có hiệu quả các tranh chấp đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương

4


mại; cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO; các vụ việc liên quan đến các biện pháp
đầu tư liên quan tới thương mại trong khuôn khổ Hiệp định TRIMs – WTO.
- Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ Hiệp định các biện pháp đầu tư liên
quan đến thương (TRIMs) – WTO; Thời gian từ khi tổ chức thương mại thế giới ra
đời tới thời điểm hoàn thành luận văn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên quan đến các vấn đề nghiên cứu.
Đồng thời Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: thống


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚI TRIMs TRONG KHUÔN KHỔ WTO
1.1. Hiệp định TRIMs
1.1.1. Lịch sử ra đời
Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (TRIMs) nằm trong
4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức thương mại thế giới được ký kết
tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15/04/1994 (đây là kết quả của vòng đàm phán
Uruguay, đánh dấu sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới – WTO).
Sau khi xem xét các hoạt động của Hiệp định GATT liên quan đến các biện
pháp đầu tư có thể làm hạn chế hoặc bóp méo tự do hóa thương mại, các quốc gia
thành viên đồng ý rằng cần phải đàm phán, xây dựng thêm những quy định cần
thiết, thích hợp nhằm loại bỏ các biện pháp đầu tư có ảnh hưởng xấu đến thương
mại, tại Tuyên bố Punta del Este (vòng đàm phán Uruguay). Hiê ̣p đinh TRIMs với
vai trò mong muố n thúc đẩy, mở rộng sự tự do hoá thương mại, tạo thuận lợi cho
việc luân chuyển nguồn vốn đầu tư qua biên giới quốc tế, với mục đích tạo ra sự
tăng trưởng kinh tế cho các thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển,
đồng thời phải bảo đảm sự cạnh tranh tự do, công bằng. Hiệp định TRIMs cho rằng
một số biện pháp đầu tư nhất định có thể sẽ làm ảnh hưởng xấu và bóp méo sự tự do
hóa thương mại, vì vậy TRIMs quy định các thành viên không được sử dụng các
biện pháp phân biệt đối xử đối với hàng hóa nước ngoài, cũng như việc áp đặt các
biện pháp hạn chế định lượng liên quan tới hàng hóa trong quá trình luân chuyển
qua biên giới.
Trước khi vòng đàm phán Uruguay ra đời, các mối liên kết giữa đầu tư và
thương mại ít được quan tâm trong khuôn khổ GATT. Tại Hiến chương Havana
năm 1948, cũng đã có một chương quy định về đầu tư nước ngoài, tuy nhiên Hiến
chương này đã không được phê chuẩn và chỉ có một số chính sách về thương mại
được đưa vào Hiệp định chung về thuế quan và thương mại – GATT. Cho tới năm


phân biệt đối xử hàng hóa nhập khẩu với hàng hóa trong nước là vi phạm nghĩa vụ
theo GATT. Đồng thời, kết luận của ban hội thẩm khẳng định các yêu cầu thực hiện

7


xuất khẩu không nằm trong phạm vi của GATT. Vòng đàm phán Uruguay về các
biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại đã được đánh dấu bởi sự bất đồng mạnh
mẽ giữa các thành viên trong phạm vi và tính chất của các nguyên tắc. Trong khi một
số nước phát triển đã đề xuất quy định rằng cần phải loại bỏ một loạt các biện pháp
yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa bởi vì không phù hợp với Điều III của GATT, ngược lại
nhiều nước thành viên đang phát triển phản đối điều này.
Tuy nhiên các thỏa thuận sau này về cơ bản đã được giới hạn trong việc giải
thích và làm rõ việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại theo quy
định của GATT trong phạm vi Điều III đối xử quốc gia đối với hàng hóa nhập khẩu
và Điều XI các hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Chính vì
vâ ̣y, Hiê ̣p định TRIMs luôn có mối quan hệ mật thiết , gắn bó v ới Hiê ̣p định GATT
(trong pha ̣m vi Điề u III và Điề u XI). Khi viê ̣n dẫn quy định của Hiệp định TRIMs,
các bên không thể không c ăn cứ vào quy định của Hiê ̣p định GATT. Ngược la ̣i để
làm rõ hơn nô ̣i dung của GATT (trong pha ̣m vi Điề u III và Điề u XI) các bên cần phải
dẫn chiế u tới quy định của TRIMs để giải thích và làm rõ quy định của GATT.
1.1.2. Nội dung của Hiệp định TRIMs
Như đã trình bày ở trên, TRIMs về cơ bản là một Hiệp định nhằm mục đích
giải thích và làm rõ về việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại
trong phạm vi Điều III và Điều XI của GATT 1994. Vì vậy, nội dung của TRIMs
khá ngắn gọn, bao gồm 09 Điều khoản quy định về việc thực hiện TRIMs và một
phụ lục bao gồm danh mục minh họa các biện pháp không phù hợp với nguyên tắc
đối xử quốc gia tại Điều III và hạn chế định lượng tại Điều XI của GATT 1994,
nhằm tạo ra sự bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Phạm vi áp dụng

hóa qua biên giới (ví dụ: áp đặt hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu; yêu cầu cân đối tỉ
lệ hàng hóa xuất nhập khẩu; hoặc cụ thể như yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, đồng nghĩa
với việc thành viên đó đã ưu tiên sử dụng các sản phẩm trong nước), vì vậy các biện
pháp này ảnh hưởng tới thương mại đặc biệt là hàng hóa.
Tóm lại, có thể hiểu rằng “các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại” là
những yêu cầu, biện pháp có tác động, làm ảnh hưởng tiêu cực tới thương mại hàng
hóa, tới đầu tư nước ngoài, tới sự luân chuyển hàng hóa qua biên giới. Làm phương
hại tới lợi ích của các quốc gia thành viên theo các hiệp định có liên quan.

9


Nguyên tắc đối xử quốc gia và quy định về hạn chế định lƣợng
Điều 2.1 của TRIMs quy định rằng “các quốc gia thành viên không được
sử dụng TRIMs trái với quy định tại Điều III và Điều XI của GATT 1994”. Các
biện pháp này được làm rõ thông qua một danh sách các biện pháp minh họa tại
phụ lục của TRIMs [55, Điều 2.2], bao gồm những biện pháp mang tính bắt buộc
hoặc được thực thi thông qua luật trong nước hoặc các quyết định mang tính
hành chính hoặc các điều kiện mà chỉ khi tuân thủ những điều kiện này mới được
hưởng một ưu đãi nào đó.
Điều III của GATT quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế và các
quy tắc trong nước, chủ yếu đề cập tới vấn đề mua hoặc sử dụng các sản phẩm của
doanh nghiệp. Theo đó các sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ một bên ký
kết nào vào lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết khác sẽ được hưởng đãi ngộ không kém
phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ dành cho sản phẩm tương tự ở trong nước về mặt luật
pháp, quy tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở,
phân phối hoặc sử dụng hàng trên thị trường nội địa; bao gồm cả việc áp đặt các
khoản thuế và phí cao hơn đối với các sản phẩm tương tự trên thị trường nội địa; áp
dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp yêu cầu sử dụng các sản phẩm trong nước,
yêu cầu đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định.

để lắp ráp, ví dụ: ô tô, xe máy, các loại thiết bị máy móc khác…). Việc hạn chế này
thường được xác định theo số lượng hoặc giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp (các
sản phẩm được sản xuất trong nước của doanh nghiệp). Có thể thấy rằng có sự
giống nhau về khái niệm giữa khoản này và khoản 1 (b) của Danh mục minh họa
trong đó cả hai đều hướng tới biện pháp cân bằng thương mại. Sự khác biệt là,
khoản 1 (b) với những biện pháp nội bộ ảnh hưởng đến các sản phẩm sau khi đã
được nhập khẩu, trong khi khoản 2 (a) là các biện pháp ảnh hưởng đến việc nhập
khẩu sản phẩm trong quá trình luân chuyển qua biên giới.
Các biện pháp xác định tại khoản 2 (b) của danh mục minh họa liên quan đến
việc hạn chế nhập khẩu trong các hình thức yêu cầu về ngoại hối (việc tiếp cận
nguồn ngoại tệ trong việc nhập khẩu). Doanh nghiệp nhập khẩu các sản phẩm để sử
dụng hoặc để sản xuất bị giới hạn bằng cách hạn chế việc tiếp cận nguồn ngoại tệ để
trao đổi, phải tỉ lệ với giá trị các nguồn thu ngoại tệ của doanh nghiệp này.
Cuối cùng, mục 2 (c) bao gồm các biện pháp liên quan đến hạn chế về xuất
khẩu hoặc bán để xuất khẩu của doanh nghiệp, được quy định dưới hình thức các

11


sản phẩm cụ thể, hoặc khối lượng hoặc giá trị sản phẩm, cần phải tỷ lệ với khối
lượng giá trị sản xuất trong nước của doanh nghiệp.
Bảng 1.1. Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị
cấm áp dụng (TRIMs)
Nhóm các biện pháp
Những yêu cầu về hàm lượng nội
địa
Những yêu cầu về sản xuất
Những yêu cầu bắt buộc về loại
sản phẩm


xuất một số sản phẩm hoặc loại sản phẩm nhất
định ở nước nhận đầu tư
Yêu cầu doanh nghiệp phải bảo đảm khối lượng
hoặc trị giá sản phẩm nhập khẩu tương đương
với khối lượng, trị giá sản phẩm xuất khẩu

Yêu cầu doanh nghiệp phải bảo đảm rằng khối
Những yêu cầu về tiêu thụ trong
lượng hoặc trị giá sản phẩm tiêu thụ trong nước
nước
tương đương với sản phẩm xuất khẩu
Những yêu cầu về xuất khẩu
Yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu
Những hạn chế về chuyển lợi Hạn chế quyền của nhà đầu tư trong việc chuyển
nhuận ra nước ngoài
lợi nhuận thu được từ đầu tư về nước
Những yêu cầu về tỷ lệ vốn trong Ấn định một tỷ lệ nhất định vốn của doanh
nước
nghiệp phải do nhà đầu tư trong nước nắm giữ
(Nguồn: http://www.trungtamwto.vn/)

12


Ngoại lệ của Hiệp định TRIMs
Điều 3 của Hiệp định TRIMs quy định rằng, tất cả các trường hợp ngoại lệ
theo GATT 1994 được áp dụng một cách thích hợp với các quy định của Hiệp định
TRIMs. Ngoài những ngoại lệ quy định bởi GATT 1994, các thành viên có thể sử
dụng TRIMs trong các trường hợp quy định tại Điều 4 (quy định đối với các nước
đang phát triển) hoặc Điều 5 (trong thời kỳ quá độ, chuyển tiếp). Vì TRIMs chỉ

thể đưa ra các biện pháp mới trong vòng hai (02) năm và không được áp dụng quá
năm (05) năm, tuyên bố cũng nêu ra rằng, các biện pháp không phù hợp với TRIMs
sẽ được loại bỏ vào năm 2020. Các thành viên phải cam kết thực hiện nghĩa vụ về
minh bạch hóa đối với thông báo tại Điều X của GATT 1994 [55, Điều 6], các
thành viên phải thông báo tới Ban thư ký các biện pháp (TRIMs) đã được áp dụng
và Ban thư ký sẽ tổng hợp công bố các thông báo đó trong một tài liệu duy nhất.
Theo Hiệp định, Ủy ban về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại sẽ
được thành lập như một diễn đàn kinh tế để kiểm tra hoạt động thực hiện hiệp định
đồng thời có nghĩa vụ báo cáo định kỳ, hàng năm cho Hội đồng thương mại hàng
hóa. Ủy ban sẽ để ngỏ cho tất cả các Thành viên tham gia, Ủy ban có Chủ tịch và
Phó Chủ tịch và sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và họp trong trường hợp có yêu cầu
của bất kỳ Thành viên nào [55, Điều 7].
Tham vấn giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết tranh chấp nói chung của WTO, sẽ được áp dụng đối với
các tranh chấp phát sinh từ Hiệp định [55, Điều 8].
Đánh giá của Hội đồng Thương mại Hàng hóa. Không quá năm (05) năm, kể
từ ngày có hiệu lực của Hiệp định WTO, Hội đồng Thương mại Hàng hóa sẽ xem
xét hoạt động của Hiệp định và khi thích hợp, sẽ đề xuất hội nghị Bộ trưởng về việc
sửa đổi hiệp định. Trong quá trình rà soát, Hội đồng Thương mại Hàng hóa sẽ xem
xét liệu Hiệp định cần bổ sung quy định về chính sách đầu tư và chính sách cạnh
tranh hay không [55, Điều 9].
1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Được hình thành trên cơ sở Nghị định thư về các nguyên tắc và thủ tục giải
quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding - DSU), Phụ lục 02 Hiệp định
Marrakesh thành lập WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute
Settlement Mechanism - DSM) là một trong những thành công cơ bản của Vòng

14





1.2.1. Phạm vi và đối tượng của các tranh chấp
Phạm vi áp dụng
DSM áp dụng cho tất cả các tranh chấp theo các hiệp định có liên quan của
WTO được liệt kê trong Phụ lục 1 của DSU [56, Điều 1.1]. Bằng việc áp dụng
chung, thống nhất cho tất cả các hiệp định có liên quan, DSU đã loại bỏ việc các
nước tự ý thỏa thuận các quy định về giải quyết tranh chấp riêng biệt trong việc ký
kết các hiệp định. Tuy nhiên, DSU cũng áp dụng một số quy tắc thủ tục bổ sung tại
các hiệp định có liên quan trong Phụ lục 2 của DSU [56, Điều 1.2]. Đây là những
quy định cụ thể mang tính chất đặc thù riêng biệt của các tranh chấp theo các hiệp
định cụ thể, và các quy định này chỉ được áp dụng trong các trường hợp riêng biệt
với mức độ cụ thể được xác định. Thông thường, trong mỗi vụ tranh chấp các bên
thường viện dẫn quy định của nhiều Hiệp định có liên quan.
WTO là tổ chức thương mại quốc tế liên chính phủ. Vì vậy, chủ thể tham gia
vào quá trình giải quyết tranh chấp phải là Chính phủ của các nước thành viên WTO
(có thể tham gia với tư cách là bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn hoặc là bên thứ ba
trong vụ tranh chấp). Ban Thư ký WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ
chức quốc tế khác, và các chính phủ khu vực hoặc địa phương không có quyền khởi
kiện, tham gia giải quyết tranh chấp.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc các cá nhân, tổ chức không thể tham gia
với tư cách là một bên trong vụ tranh chấp, mặc dù họ (các doanh nghiệp, nhà nhập
khẩu, xuất khẩu) thường xuyên là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những
biện pháp bị cáo buộc vi phạm. Tuy nhiên, chính họ lại là những nhân tố gây ảnh
hưởng thậm chí là gây áp lực đến Chính phủ nước thành viên nhằm khởi xướng vụ
tranh chấp.
Trên thực tế, các quốc gia cũng đã thông qua các quy định trong nước về
quyền lợi, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc khởi kiện các vụ tranh chấp
thương mại quốc tế. Theo đó, các Doanh nghiệp có thể kiến nghị Chính phủ khởi
xướng một vụ kiện trong WTO nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình.

hay phương hại) đến lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản
trở việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định, điều này không phụ thuộc
vào việc biện pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không;

17


- Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation” complaint):
trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện phải chứng minh về thiệt hại mà mình phải
chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt được một mục tiêu của Hiệp định.
Theo pháp luật quốc tế thì nhà nước sẽ chịu trách nhiệm cho tất cả hoạt động
của Chính phủ, các ngành, chính quyền địa phương, hoặc trong phạm vi lãnh thổ
của quốc gia thành viên. Vì vậy, các biện pháp hành chính do chính quyền địa
phương, hoặc vùng lãnh thổ của nước thành viên ban hành cũng có thể được viện
dẫn trong một vụ tranh chấp [56, Điều 22.9].
Không chỉ những biện pháp đã được ban hành và có hiệu lực mà các biện
pháp có hiệu lực trong tương lai của các thành viên cũng có thể là đối tượng của
khiếu nại. Các biện pháp này đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua, trên thực
tế nó sẽ có hiệu lực trong tương lai, và cũng không quá sớm để ngăn ngừa những
biện pháp đó làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các thành viên, bởi vì các quy
định có hiệu lực trong tương lai cũng sẽ ảnh hưởng tới các bên tham gia vào thị
trường thông qua việc chuẩn bị để thích ứng với những quy định mới.
1.2.2. Các cơ quan trong quá trình giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan
khác nhau, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt
động đánh giá, xem xét, giải thích pháp luật và thông qua quyết định của DSM.
Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body – DSB)
Cơ quan này thực chất là Đại Hội đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả
các quốc gia thành viên. DSB chịu trách nhiệm quản lý, giám sát toàn bộ quá trình
giải quyết tranh chấp: có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua Báo cáo của Ban


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status