Câu 1: Phân tích và chứng minh tính đúng đắn của cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng.
Bài làm
A. Bối cảnh lịch sử :
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn xâm lược vũ trang,
thực dân Pháp đã thi hành nhiều chính sách thống trị nô dịch và bóc lột nhân dân ta rất
tàn bạo. Đất nước Việt Nam biến đổi từ một xã hội phong kiến thành một xã hội thuộc địa,
mất hẳn quyền độc lập, chủ quyền trở thành một dân tộc bị nô lệ, mất nước.
Các giai cấp xã hội bị biến, xã hội Việt Nam hình thành 2 mâu thuẫn cơ bản là : mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm lược Pháp và bọn tay
sai; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ
phong kiến.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh
chống Pháp dưới nhiều ngọn cờ, tư tưởng khác nhau, hình thức và phương pháp đấu
tranh khác nhau, nhưng các phong trào yêu nước này đều thất bại, chứng tỏ CMVN đang
thực sự lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách
mạng. Từ đó nảy sinh yêu cầu khách quan là cần có một đường hướng cứu nước mới
cho CMVN.
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, Nguyễn
Ái Quốc ra đi tìm con đường cứu nước theo phương hướng mới. Sau nhiều năm bôn ba
hải ngoại, Người nghiên cứu nhiều loại hình chủ nghĩa cả về lí luận và thực tiễn. Cách
mạng tháng Mười Nga thành công, Người đã hướng đến cách mạng tháng Mười và chịu
ảnh hưởng của cuộc cách mạng vĩ đại đó, Người gia nhập Đảng cộng sản Pháp và trở
thành người chiến sĩ cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân và và dân tộc Việt Nam.
Từ khi trở thành người cộng sản, Người thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách
mạng đồng chí hội, thông qua tổ chức này và các báo : Người cùng khổ, Nhân đạo, tác
phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh…truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin
về Việt Nam và đã trở thành tư tưởng cách mạng hướng đạo phong trào dân tộc và các tổ
chức chính trị theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn đến sự ra đời các tổ chức Đảng
cộng sản ở Việt Nam là : Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông
Dương cộng sản liên đoàn.
Các nhiệm vụ trên bao hàm cả nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và
chống phong kiến. Mục tiêu chủ yếu lúc này là đánh đổ ách thống trị của đế quốc xâm
lược và tay sai, giành độc lập dân tộc và dân chủ cho nhân dân. Mục đích cuối cùng là
xây dựng thành công CNXH, CNCS ở Việt Nam. Song, nổi bật lên là nhiệm vụ chống đế
quốc và tay sai phản động, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Vì thế, giữa hai giai đoạn
cách mạng : Giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH không có bức tường ngăn cách (cuộc
vận động trước thành công tạo điều kiện cho cuộc vận động sau giành thắng lợi), không
phải tiến hành một cuộc cách mạng chính trị lần thứ hai để giải quyết vấn đề chính quyền
như cách mạng Nga và Trung Quốc.
Nhận thức của Đảng là do những yêu cầu khách quan của CMVN, với chính sách
thống trị của thực dân Pháp biến Việt Nam từ xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa
nữa phong kiến với nhiều mâu thuẫn tồn tại là : mâu thuẫn giữa nhân dân Việt nam với đế
quốc Pháp xâm lược về độc lập dân tộc; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam mà đa số là
nông dân mâu thuẫn với chế độ phong kiến chung quanh vấn đề dân chủ mà chủ yếu
ruộng đất và dân cày, dân cày hoàn toàn phụ thuộc vào địa chủ, bị trói chặt vào mảnh
ruộng của giai cấp địa chủ với tô thuế nặng nề. Theo tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc thì
nhiệm vụ cách mạng sẽ tiến hành đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến,
làm cho nước Nam hoàn toàn được độc lập, tổ chức ra quân đội công, nông, binh, thâu
hết ruộng đất của đế quốc làm của công chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân
nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật ngày làm 8 giờ.
So với nhận thức của Nguyễn Ái Quốc đã nêu trong Cương lĩnh tháng 2/1930, Luận
cương chánh trị của Đảng cộng sản Đông Dương do Trần Phú soạn thảo là : chủ trương
đánh đổ đế quốc và phong kiến phải thực hiện đồng thời và ngang nhau, không có nhiệm
vụ nào hơn nhiệm vụ nào. Về vấn đề này, là do sự nhận thức và giáo điều về mối quan hệ
giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng thuộc địa, hiểu biết không đầy đủ về tình
hình đặc điểm xã hội, giai cấp và dân tộc ở Đông Dương, lại mang khuynh hướng (tả( của
quốc tế cộng sản trong bối cảnh thời gian lúc đó, cho nên BCHTW Đảng mà đứng đầu là
Trần Phú đã không vạch rõ được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa là mâu thuẫn
giữa dân tộc Việt Nam với bọn thực dân xâm lược Pháp cùng bọn tay sai của chúng, nên
không nêu toát lên được vấn đề dân tộc lên hàng đầu, mà nặng về đấu tranh giai cấp. Về
lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập
hiến) thì phải đánh đổ. Trong khi liên lạc tạm thời với các giai cấp, phải rất cẩn thận,
không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của giai cấp công nông mà đi vào đường lối
thỏa hiệp. Tư tưởng này của Nguyễn Ái Quốc khác với luận cương 10/30 là : Luận cương
tư sản dân quyền cách mạng tháng 10/1930 chưa xác định đầy đủ tính chất giai cấp của
xã hội đương thời, lực lượng cách mạng chỉ dựa vào công nông và thành phần lao khổ
thành phố (như là bọn bán rao ngoài đường, bọn thủ công nghiệp nhỏ không mướn thợ,
bọn trí thức thất nghiệp,…), phủ nhận và phủ định những mặt tích cực của các thành phần
yêu nước khác (thành phần tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tư sản dân tộc…) và chủ
trương không thành lập mặt trận, nên không lợi dụng và huy động được sức mạnh của cả
dân tộc tham gia cách mạng.
Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng cho rằng tất cả những người yêu nước Việt Nam đều
có khả năng trở thành cộng sản, và người cộng sản chân chính là người có tinh thần yêu
nước triệt để. Chính sách Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, là nhân
tố cơ bản và quyết định thắng lợi của CMVN. Chính sách Đại đoàn kết là truyền thống yêu
nước của dân tộc ta đã thực hiện trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc như : Hội nghị Diên Hồng, Hội nghị Bình Than thời nhà Trần đã tập hợp được lòng yêu
nước của nhân dân đánh bại quân Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được mọi tầng lớp quần chúng nhân
dân lao động đánh đuổi đế quốc Pháp xâm lược với cách mạng 8/1945 thành công xây
dựng nên Nước VNDCCH, chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội năm 1954, miền Bắc hoàn
thành cuộc cách mạng DTDC tiến lên CNXH. Đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất
nước nhà, hoàn thành CMDTDCND ở miền Nam, cả nước cùng tiến lên xây dựng CNXH.
4)- Xác định giai cấp lãnh đạo CMVN là giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua đội
tiền phong của họ là Đảng cộng sản Việt Nam, và khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp,
cho nên Đảng có trách nhiệm thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho
giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng, phải thu phục cho được đại đa số dân cày (lúc
cấp hoàn toàn đối lập, là một cuộc chiến đấu không khoan nhượng; phải dùng bạo lực
cách mạng đánh đổ bạo lực phản cách mạng mới giành được thắng lợi hoàn toàn.
Lịch sử Việt Nam đã chứng minh trong quá trình dựng nước và giữ nước; cách
mạng tháng 8/1945 thành lập nước VN.DCCH, trận Điện Biên Phủ 1954 buộc Pháp phải
ngồi vào bàn hội nghị ký kết hiệp định Giơnevơ, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, và
30/4/1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất tổ quốc; Đảng ta đã dùng bạo lực
cách mạng đánh đuổi lần lượt đế quốc Pháp, Nhật, Mỹ và tay sai hoàn thành cuộc cách
mạng DTDC nhân dân, cả nước cùng tiến lên xây dựng chế độ CNXH.
6)- Dùng chủ trương liên minh - đoàn kết với giai cấp vô sản bị áp bức của các dân
tộc thuộc địa trên thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc.
Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì vậy, Hồ Chí
Minh đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam trong sự thống
nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Hồ Chí Minh cho rằng : (Những tư tưởng dân tộc chân
chính đồng thời cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính(. Sự bóc lột thuộc địa không
chỉ là một nguồn sống của bọn tư bản mà còn là cái (nền móng( của CNĐQ. Do đó, cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc không những phải trở thành bộ phận khắng khít của cuộc
cách mạng vô sản mang tính toàn cầu mà còn có vai trò là một trào lưu lớn của cách
mạng trong thế kỷ này. Vì thế phải CMVN phải đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai
cấp vô sản quốc tế, nhất là giai cấp công nhân Pháp. Cách mạng giải phóng dân tộc
không tách rời cách mạng vô sản nhưng chỉ có thể thực hiện bằng nỗ lực của bản thân
các dân tộc thuộc địa; và Người cho rằng CMVN phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa MácLênin phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam mới mang đến thắng lợi hoàn toàn.
Thực tế đã chứng minh rằng, phong trào vô sản thế giới đã giành được nhiều thắng lợi;
sau chiến tranh thế giới II hệ thống XHCN hình thành, và thắng lợi của cách mạng Việt
Nam trong đó có sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các nước XHCN và phong trào liên minh
- đoàn kết với giai cấp vô sản bị áp bức của các dân tộc thuộc địa trên thế giới chống lại
chủ nghĩa đế quốc.
Ngoài ra, theo quan điểm Hội nghị tháng 10/1930 việc đổi tên Đảng cộng sản Việt
Nam thành Đảng cộng sản Đông Dương là bao gồm được Cao Miên và Lào. Việt Nam,
với yếu tố dân tộc, mà còn do xác định đúng hay chưa đúng vị trí của mỗi yếu tố đó trong
điều kiện cụ thể của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa MácLenin, đánh giá đúng hơn và đầy đủ hơn các yếu tố dân tộc trong CMVN. Tuy bị phê
phán, nhưng thực tiễn CMVN đã chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh đầu
tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết (Việc thành lập Đảng
là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử CMVN. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản
ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng(.
Sau đại hội VII quốc tế cộng sản, 7/1936, tại Hương Cảng, đ/c Lê Hồng Phong chủ
trì hội nghị BCHTW đã vạch ra những chủ trương mới về CMVN. Đặc biệt là bắt đầu xem
xét lại quan điểm chỉ đạo chiến lược của hội nghị 10/1930 và đưa ra những quan điểm
mới đúng đắn, phù hợp với tư tưởng chiến lược của cương lĩnh 2/1930, và nó mở đường
cho chiến lược của Đảng ta về sau này.
Hội nghị BCHTW 5/1941 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo đã đi đến quyết
định điều chỉnh lớn về chiến lược (Cách mạng tư sản dân quyền( mà nội dung là nêu cao
nhiệm vụ giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ cốt lõi của cách mạng Đông Dương, xác
định cách mạng Đông Dương trong giai đoạn đầu là cách mạng giải phóng dân tộc. Đây
chính là sự kế tục và phát triển hoàn chỉnh hơn nữa tư tưởng cách mạng giải phóng dân
tộc của Hồ Chí Minh đã vạch ra trong cương lĩnh 2/1930, là một bước trưởng thành vượt
bậc của Đảng ta về lãnh đạo chính trị, xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc,
có ý nghĩa quyết định thành công của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945…
C. Tóm lại :
Thắng lợi của CMVN dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN là bằng chứng không thể
bác bỏ tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn bó sự nghiệp giải phóng dân
tộc với giải phóng giai cấp bằng con đường đi lên CNXH. Đó là cương lĩnh đúng đắn của
Đảng, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước của CMVN, mở ra giai đoạn
mới, giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cũng không thể phủ nhận được
rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã như một thứ động lực tinh thần hợp lòng người nhất, để trên
nền móng đó phát huy sức mạnh của lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Câu 2: Phân tích quá trình nhận thức của Đảng cách mạng dân tộc dân chủ
nghèo, lãnh đạo họ làm cách mạng ruộng đất. Đảng phải hết sức lôi kéo tiểu tư sản, trí
thức, trung nông đi về phía giai cấp vô sản, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung và
tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ.
Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải cẩn thận không được đi vào đường lối thỏa hiệp.
- Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, tổ chức lãnh đạo CMVN đấu tranh
nhằm giải phóng cho toàn thể đồng bào bị áp bức bóc lột. Đảng phải liên kết với các dân
tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt do Hồ Chí Minh soạn thảo là cương lĩnh đầu
tiên của Đảng CSVN, đó là cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng
tạo, phù hợp xu thế phát triển của thời đại mới, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp,
thấm đượm tinh thần dân tộc. Độc lập tự do gắn liền với định hướng tiến lên CNXH, là tư
tưởng cốt lõi của cương lĩnh.
II. Quá trình nhận thức đường lối cách mạng dân tộc dân chủ từ 19301954
1)- Thời kì 1930-1945 :
Sau hội nghị thành lập Đảng, cương lĩnh và điều lệ của Đảng được các cơ sở Đảng
bí mật đưa vào quần chúng. Phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng diễn ra ngày
càng sôi nổi và trên đà phát triển mạnh mẽ. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cộng sản Việt
Nam chỉ phác ra những nét cơ bản nhất về đường lối CMVN. yêu cầu khách quan đòi hỏi
Đảng phải có một cương lĩnh đầu đủ, toàn diện hơn.
Trần phú sau một thời gian dài học ở Liên Xô, được quốc tế cộng sản cử về nước
hoạt động và bổ sung vào BCHTW Đảng, được giao nhiệm vụ soạn thảo (Luận cương
chính trị(. Hội nghị lần thứ nhất BCHTW Đảng họp 10/1930, thống nhất đổi tên Đảng
thành Đảng cộng sản Đông Dương, thông qua Luận cương chính trị, điều lệ Đảng, cử
BCHTW chính thức… BCHTW Đảng đã đánh giá rằng Chánh cương vắn tắt, sách lược
vắn tắt của Hội nghị hợp nhất tháng 2/1930 đã phạm sai lầm chính trị rất (nguy hiểm( vì
(chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu(. Vì vậy đã quyết định thủ
tiêu (Chánh cương, Sách lược vắn tắt của Đảng( và phải dựa vào Nghị quyết của quốc tế
cộng sản, chính sách và kế hoạch của Đảng theo tinh thần hội nghị tháng 10/1930. Luận
cương chính trị 10/1930 xác định :
+ Đảng phải lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tiến lên võ trang, bạo động để giành chính
quyền, phải coi võ trang là một nghệ thuật, phải theo (khuôn phép nhà binh(.
Nhìn chung, qua những nội dung cơ bản nêu trên của luận cương tháng 10/1930, đã
thấy rõ là luận cương chính trị đã khẳng định lại nhiều vấn đề cơ bản thuộc về đường lối
chiến lược cách mạng nước ta mà Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã nêu.
Tuy có mang tính kế thừa Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của hội nghị
tháng 2/1930, nhưng do nhận thức giáo điều về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai
cấp trong cách mạng thuộc địa, hiểu biết không đầy đủ về tình hình đặc điểm của xã hội,
giai cấp và dân tộc ở Đông Dương, đồng thời lại chịu ảnh hưởng khuynh hướng (tả( của
quốc tế cộng sản, cho nên BCHTW Đảng do Trần Phú đứng đầu đã không vạch rõ được
mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn
thực dân xâm lược Pháp cùng bọn tay sai của chúng, nên không nêu toát lên được vấn
đề dân tộc lên hàng đầu, mà nặng về đấu tranh giai cấp. Về cách mạng ruộng đất : không
đề ra được chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống
đế quốc Pháp và tay sai. Từ đó đã phê phán gay gắt quan điểm đúng đắn của Hội nghị
hợp nhất là đặt vấn đề dân tộc lên hàng đầu và đã quyết định thủ tiêu Chánh cương vắn
tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Song, ngay từ đầu, thực
tiễn cách mạng đã khẳng định tính chất khoa học, cách mạng và vị trí lịch sử của Cương
lĩnh đầu tiên của Đảng.
Cao trào cách mạng của quần chúng với đỉnh cao là cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh,
cuộc đấu tranh giữa cách mạng và phản cách mạng quyết liệt thì Ban thường vụ TW
Đảng ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, trong đó nêu lên tư tưởng chiến lược
cách mạng đúng đắn đã được nêu trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, coi việc
đoàn kết toàn dân thành một tổ chức rộng rãi, lấy công nông là động lực chính quyết định
thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc. Chỉ thị cũng phê phán những nhận thức sai
lầm trong Đảng là tách rời vấn đề dân tộc và giai cấp, nhận thức không đúng về vai trò
đoàn kết dân tộc, về vai trò Hội phản đế đồng minh trong cách mạng thuộc địa. Hậu quả là
làm cho tổ chức cách mạng vẫn đơn thuần mầu sắc công nông, thiếu một tổ chức thật
chống phong kiến mà tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tùy vào tương
quan so sánh lực lượng giữa hai bên mà đề cao nhiệm vụ này hay nhiệm vụ kia. Và cho
rằng, nhiệm vụ đấu tranh chống đế quốc là cần kíp cho lúc hiện thời, còn vấn đề điền địa
tuy quan trọng nhưng chưa phải trực tiếp bắt buộc, thì có thể trước hết tập trung đánh đổ
đế quốc rồi giải quyết vấn đề điền địa sau; nhưng có khi vấn đề điền địa và phản đế phải
liên tiếp giải quyết, vấn đề này giúp cho vấn đề kia làm xong mục đích của cuộc vận động.
Nghĩa là cuộc phản đế phát triển tới trình độ võ trang tranh đấu kịch liệt, đồng thời vì
muốn tăng thêm lực lượng tranh đấu chống đế quốc cần phải phát triển cuộc cách mạng
điền địa. Đây là tư duy mới, là một quan điểm đúng đắn phù hợp với tư tưởng chiến lược
của Cương lĩnh tháng 2/1930, và nó mở đường cho chiến lược của Đảng ta từ năm 1939
về sau này.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính
sách thống trị thời chiến. Phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, từ đó nhân dân ta một cổ
hai tròng áp bức Pháp - Nhật. Mâu thuẫn giữa nhân dân ta và Pháp - Nhật gay gắt hơn
bao giờ hết. Hội nghị TW6 (11/1939) do đ/c Nguyễn Văn Cừ chủ trì và đặc biệt là hội nghị
BCHTW lần thứ 8 (5/1941) do Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo đã đề ra những thay đổi mới
về đường lối, chủ trương (cách mạng tư sản dân quyền( ở Đông Dương.
Hội nghị 5/1941 nhận định : (bước đường sinh tồn của các dân tộc ở Đông Dương
không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách
ngoại xâm vô luận là da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc(. BCHTW Đảng
khẳng định : tập hợp toàn dân tộc, đề cao khẩu hiệu đánh đổ đế quốc giành độc lập cho
dân tộc, đề cao khẩu hiệu dân tộc trên hết, nhiệm vụ chống phong kiến rải ra nhiều bước;
trung ương Đảng chủ trương đấu tranh để xây dựng các quốc gia riêng biệt : Việt Nam,
Cao Miên, Lào theo quan điểm thực hiện quyền dân tộc tự quyết, không tổ chức thành
Liên bang Đông Dương; chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh để tập hợp toàn dân tộc
chống Pháp - Nhật, và chỉ ra con đường đấu tranh giành chính quyền là khởi nghĩa võ
trang với hình thức khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa.
Trong thư gửi đồng bào 6/1941, Người viết :( Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải
linh hoạt và khôn khéo với địch, từng bước vượt qua mọi hiểm nguy, chủ động trước mọi
tình thế để giữ vững chính quyền, đưa cách mạng tiến lên. Lúc này, Ban thường vụ TW
Đảng ta xác định : (Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc
giải phóng(. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước ta chưa
hoàn toàn độc lập. Phân tích âm mưu của các đế quốc đối với Đông Dương, Đảng ta nêu
rõ : (Kẻ thù chính của dân tộc lúc này là thực dân Pháp xâm lăng(, (phải tập trung ngọn
lửa đấu tranh vào chúng(. Vì vậy, phải (lập mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân
Pháp xâm lược, mở rộng Việt Minh … Kiên quyết giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân
tộc, độc lập về chính trị, thực hiện chế độ dân chủ cộng hòa, cải thiện đời sống nhân dân(.
Những chủ trương trên của Ban thường vụ TW Đảng được nêu trong chỉ thị (Kháng
chiến kiến quốc(. Ngoài ra, Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc Đảng cũng nêu rõ : cách mạng
muốn đứng vững phải biết tự bảo vệ, phải đồng thời thực hiện hai mặt song song :
- Kiến quốc để phát triển thực lực cách mạng nhằm đủ mạnh để thắng kẻ thù
- Thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân nhượng kẻ thù để nhằm hòa hoãn những kẻ
có thể hòa hoãn được để tập trung lực lượng chống Pháp.
* Về tổ chức thực hiện chỉ thị kháng chiến kiến quốc :
- Về xây dựng và phát triển thực lực cách mạng : ta tổ chức tổng tuyển cử, xây
dựng chính quyền cách mạng, ban hành Hiến pháp (1946) tạo tính hợp hiến, hợp pháp
của Chính phủ Hồ Chí Minh. Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang : Quân đội nhân dân
và Công an nhân dân, diệt nạn đói, giặc dốt.
- Về thực hiện chính sách hòa hoãn : thực hiện thành 2 giai đoạn
+ Giai đoạn I (9/1945-2/1946) : chủ trương hòa với Tưởng để tập trung lực
lượng đánh Pháp ở Nam Bộ, tranh thủ hòa hoãn để tập trung phát triển lực lượng cách
mạng
+ Giai đoạn II (3/1946-12/1946) : kí kết với Pháp Hiệp định sơ bộ 6/3/1946,
đặt cơ sở đi đến đàm phán để kí một Hiệp định chính thức. Cuộc đàm phán chính thức
giữa ta và Pháp tại Phông-ten-nơ-bơ-lo không đi đến kết quả. Nhằm tranh thủ kéo dài thời
gian cho việc tiếp tục xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Chủ
của Đảng như sau :
- Về tính chất và mục tiêu của cuộc kháng chiến : nhân dân Việt Nam xác định cuộc
chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh phi nghĩa xâm lược của thực dân Pháp; chiến
tranh chống Pháp là sự tiếp tục của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm bảo vệ độc
lập dân tộc, giành ruộng đất cho người cày và xây dựng cơ sở đi lên CNXH.
- Về xác định phương châm kháng chiến : kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn
diện, kháng chiến trên tinh thần tự lực cánh sinh, kháng chiến lâu dài và trải qua ba giai
đoạn : cầm cự, phòng ngự và tổng phản công. Đảng ta xác định kháng chiến nhất định
thắng lợi.
Về mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ trong giai đoạn này, tác phẩm : (Kháng
chiến nhất định thắng lợi( của Trường Chinh đã nêu rõ quan điểm của Đảng là : (cuộc
kháng chiến chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, củng cố và mở rộng chế độ
Cộng hòa dân chủ. Nó không tịch thu ruộng đất của địa chủ phong kiến chia cho dân cày,
chỉ tịch thu ruộng đất và các hạng tài sản khác của Việt gian phản động để bổ sung ngân
quỹ kháng chiến hay ủng hộ các gia đình chiến sĩ hi sinh(.
* Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II triệu tập từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại Tuyên Quang. Đại hội quyết định tách ba Đảng bộ
Đảng cộng sản ở Đông Dương để lập ra mỗi nước một Đảng cách mạng riêng. Đảng cộng sản Đông Dương được đổi tên là Đảng lao
động Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng, báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh đã vạch rõ khẩu hiệu chính của ta là tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại
bọn can thiệp Mĩ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên Đảng là Đảng lao động Việt Nam. Báo
cáo chính trị Bàn về cách mạng Việt Nam của Trường Chinh đã trình bày toàn bộ đường lối CMVN. Đó là cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân tiến lên CNXH ở Việt Nam. Nội dung cốt lõi của bản báo cáo bàn về CMVN là Cương lĩnh chính trị thứ ba của Đảng ta.
Đại hội xác định nhiệm vụ cơ bản hiện nay của CMVN là đánh đuổi bọn đế quốc xâm
lược, giành độc lập và thống nhất cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa
phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở
cho CNXH. Ba nhiệm vụ đó khắng khích với nhau, song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn
thành giải phóng dân tộc. Đại hội xác định lực lượng CMDTDCND ở Việt Nam là : GCCN,
giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức và tư sản dân tộc.
học đại chúng.
- Về quân sự : Dựa vào thực lực kháng chiến ngày càng tăng cường, nhất là
sự phát triển của ba thứ quân, Đảng chỉ đạo đấu tranh đi từ đánh nhỏ đến đánh lớn, từ
chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh du kích với
chiến tranh chính quy. Đảng chủ trương dẫn dắt cuộc kháng chiến qua ba giai đoạn :
+ Giai đoạn 1 (9/1945 đến cuối 1947) : chủ động tiến hành cuộc kháng chiến
cục bộ ở miền Nam và sau đó phát động kháng chiến trong cả nước. Ta đã đánh bại kế
hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp (kế hoạch một tuần dạo mát ở Việt
Nam). Đỉnh cao của giai đoạn này là ta đã đánh bại cuộc hành quân Thu Đông 1947 của
Pháp ra miền Bắc.
+ Giai đoạn 2 (1948 đến 1950) : trên cơ sở chiến tranh du kích được mở
rộng, ta đã liên tiếp mở nhiều chiến dịch nhỏ hạ hàng loạt đồn bót, tiêu diệt nhiều sinh lực
của địch, thu hẹp vùng chiếm đóng của chúng ở nhiều nơi. Kết hợp một số chiến dịch nhỏ
ta đã đánh bại kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh
của thực dân Pháp. Năm 1950, ta chủ động mở chiến dịch Biên giới, một chiến dịch tấn
công lớn đầu tiên của quân đội ta. Chiến dịch Biên giới thắng lợi đánh dấu một bước
trưởng thành của về trình độ tác chiến và nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch của quân đội ta.
+ Giai đoạn 3 (1951 đến 7/1954) : chủ động mở nhiều chiến dịch ở vùng
đồng bằng Bắc bộ, sau đó là chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch
Điện Biên Phủ. với chiến dịch Điện Biên Phủ ta đã đánh bại mọi cố gắng quân sự cao
nhất của quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và buộc Pháp phải ngồi vào bàn hội
nghị kí Hiệp định Giơnevơ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi to lớn nhất trong cuộc đọ sức toàn diện và
quyết liệt nhất của quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội xâm lược Pháp. Chiến công
đó mãi mãi được ghi nhớ vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một
Đống Đa trong thế kỉ XX và đi sâu vào lịch sử thế giới như một chiến công hiển hách, một
sự kiện báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân
Câu 3 : Phân tích bối cảnh lịch sử của chỉ thị toàn quốc kháng chiến
- Từ tháng 2 năm 1946, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì đấu tranh với Pháp, liên
tiếp nhân nhượng Pháp những quyền lợi quan trọng để bày tỏ thiện chí hòa bình của
nhân dân Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện chuẩn bị cho cuộc kháng chiến mà ta biết khó
có thể tránh khỏi.
- Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến cùng những thành quả đạt được từ
sau khi giành chính quyền đến ngày kháng chiến toàn quốc đã tạo nên những thuận lợi
mới, căn bản có thể phát huy lâu dài, bảo đảm thắng lợi cho nhân dân ta trong cuộc
kháng chiến. Như : tổ chức tổng tuyển cử, bầu Quốc hội (06/01/1946), ban hành hiến
pháp Nhà nước (11/1946)… đã tạo tính hợp hiến, hợp pháp của chính phủ Hồ Chí Minh.
tích cực xây dựng lực lượng vũ trang bao gồm : Quân đội và Công an nhân dân. Thành
lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (5/1946) thu hút sức mạnh của khối đại đoàn kết dân
tộc. Phát động “tuần lễ vàng”, xây dựng “quỹ độc lập”, diệt giặc đói, khai hoang phục hóa,
phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát hành tiền tệ… đã ngăn chặn được nạn đói,
cải thiện đời sống nhân dân. Tổ chức phong trào bình dân học vụ, kêu gọi “chống nạn thất
học”, xây dựng nếp sống văn hóa mới cho xã hội, xóa bỏ các hủ tục…
( Thế giới :
- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta diễn ra khi chủ nghĩa tư bản thế giới, đặc biệt là
nước Pháp bị suy yếu nghiêm trọng sau chiến tranh thế giới thứ hai, lệ thuộc vào Mỹ trên
nhiều Phương diện.
- Hệ thống XHCN đang hình thành, phong trào giải phóng dân tộc phát triển rất mạnh
mẽ… đã cổ vũ tạo nhiều điều kiện thuận lợi để nhân dân ta góp phần quan trọng cùng
nhân dân các nước thuộc địa đánh thắng chủ nghĩa thực dân (Liên Xô và các nước Đông
Âu).
B- Khó khăn :
( Trong nước :
- Đối tượng của ta là quân đội nhà nghề của thực dân Pháp, có trình độ tác chiến
phương pháp chiến tranh hiện đại, được sự hậu thuẫn bởi một nền sản xuất TBCN phát
triển. Thực dân Pháp lại có kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược và thống trị ở Việt
cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí tự vệ, đòi để cho chúng giữ trật tự ở Hà Nội. Với lực
lượng gần 10 vạn quân được trang bị vũ khí hiện đại, đang đứng trấn ở nhiều vị trí chiến
lược trên đất nước ta, bọn thực dân Pháp quyết lấn chiếm toàn bộ nước ta một lần nữa,
buộc chúng ta phải đầu hàng chúng.
A. Chủ trương của Đảng : Ta không thể nhân nhượng với thực dân Pháp được
nữa và thực chất mọi khả năng duy trì hòa hoãn với thực dân Pháp không còn nữa, chúng
ta càng nhân nhượng, chúng càng lấn tới và vì nhân nhượng nữa thì mất nước hóa thành
nô lệ, Nhân dân Việt Nam chỉ còn một con đường duy nhất là đứng lên cầm vũ khí đánh
thực dân Pháp bảo vệ tổ quốc, giữ vững độc lập chủ quyền và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ
của mình.
18/12/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị triển khai khẩn cấp tại
làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh trên cơ sở đánh giá một cách
khoa học ý đồ chiến lược của thực dân Pháp và so sánh lực lượng giữa ta và địch, Hội
Nghị quyết định phát động cuộc kháng chiến trên quy mô cả nước và vạch ra những vấn
đề cơ bản về đường lối kháng chiến.
Đêm 19/12/1946, Ban thường vụ TW Đảng đã quyết định phát động cuộc kháng
chiến trên quy mô cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Sáng 20/12/1946 lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch qua làn sóng điện
được truyền đi khắp nơi, lời kêu gọi đó chính là tiếng gọi của non sông đất nước, thấu
động những niềm sâu xa và cao đẹp nhất trong lòng mỗi người dân Việt Nam, khơi dậy
mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất, làm cho cả nước sôi sục
đứng lên, bình tĩnh chiến đấu bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, với một ý chí cảm tử cho
tổ quốc quyết sinh, với một thái độ chính trị dứt khoát và kiên định vì độc lập tự do của tổ
quốc. Lời kêu gọi đó là một cương lĩnh kháng chiến, khái quát ở trình độ cao, chứa đụng
những tư tưởng, quan điểm và đường lối chiến tranh nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và của Đảng ta.
Ngày 22/12/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị toàn dân kháng chiến, bản chỉ thị nêu một cách khái quát những
nội dung cơ bản đường lối của cuộc trường kì kháng chiến của Đảng như :
Đảng chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt, cấp bách là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược giành độc lập và thống nhất cho đất nước, đồng thời
trong quá trình kháng chiến phải thực hành cải cách dân chủ, giải quyết từng bước vấn đề ruộng đất để bồi dưỡng sức dân. Cuộc
kháng chiến này là một cuộc kháng chiến nhân dân với phương châm “kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện, kháng chiến tự
lực cánh sinh (dựa vào sức mình) kháng chiến lâu dài”, với đường lối này Đảng ta chủ trương “kháng chiến nhất định thắng lợi”.
( Kết quả của chủ trương “toàn dân kháng chiến”, “toàn diện kháng chiến”
- Thực dân Pháp xâm lược nước ta thì toàn dân ta phải nhất tề đứng lên chống giặc. Đảng ta đánh giá cao vai trò của quần
chúng nhân dân trong chiến tranh cách mạng, tin tưởng vững chắc khả năng vô tận, sức mạnh vô địch của nhân dân, với chiến lược
toàn dân kháng chiến, ta đã tạo nên nguồn sức mạnh to lớn đối trọng với bộ phận phản động xâm lược Pháp, toàn dân kháng chiến,
phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, ta có thể kháng chiến khắp nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ”, “mỗi phố là một
mặt trận”, “mỗi làng là một pháo đài”, toàn dân kháng chiến là nội dung trọng yếu và xuyên suốt toàn bộ quá trình kháng chiến.
- Chiến tranh là một cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến “toàn dân kháng chiến” đi liền với “kháng chiến toàn diện”,
nhờ kháng chiến toàn diện mới phát huy cao nhất sức mạnh toàn dân đánh bại chiến tranh tổng lực của kẻ thù. Đảng ta lãnh đạo tổ
chức cuộc chiến tranh toàn dân đánh giặc trên mọi mặt trận, mọi phương diện, quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, tư tưởng, ngoại
giao ….
(Về chính trị : Ta tiếp tục củng cố phát triển chính quyền dân chủ nhân dân ở vùng tự do, ta đã mở rộng được mặt trận
đoàn kết dân tộc chống Pháp xâm lược bằng việc duy trì Mặt trận Việt minh và xây dựng thêm Mặt trận Liên Việt đã thu hút được mọi
lực lượng đoàn kết chống Pháp. Chúng ta tuyên truyền tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến diễn ra ngay tại trên đất nước mình
trước sự phi nghĩa của kẻ thù xâm lược từ xa đến nhằm cô lập và hạn chế được tối đa những hoạt động của bọn Việt gian.
( Về kinh tế :
- Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến bùng nổ ta bị kẻ thù bao vây bốn phía chưa nhận được sự giúp đỡ trực tiếp của nhân dân
các nước anh em, nên ngay từ đầu Đảng đã xác định đường lối kháng chiến là “phải tự lực cánh sinh”, Đảng chủ trương “phải tự ta
giúp ta rồi người mới giúp ta”. Dựa vào sức mình là dựa vào sức lực của toàn dân, vào sự lãnh đạo của Đảng, vào các điều kiện nhân
hòa, địa lợi thiên thời của đất nước, “tự lực cánh sinh” không có nghĩa là không đồng thời ra sức tranh thủ ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để
nhanh chóng chiến thắng kẻ thù.
- Ta xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp ở vùng tự do với mục tiêu đảm bảo ổn định đời sống nhân dân lao động để nuôi binh
đánh Pháp, phối hợp với hoạt động gia tăng sản xuất là thực hiện sách lược “tiêu thổ kháng chiến”. Còn ở vùng địch tạm chiếm ta đã
đưa lực lượng tấn công đánh phá kho tàng, bến bãi, cầu cống của địch để tiêu diệt lực lượng vật chất của chúng, đồng thời thực hiện
chiến lược “làm chảy máu” nền kinh tế của chúng như thu gom như yếu phẩm, mua thuốc điều trị bệnh, mua vũ khí , đạn dược trang bị
cho ta …
( Về văn hóa tư tưởng : tuyên truyền vận động nhân dân ta đấu tranh xóa bỏ những tàn dư phong kiến lạc hậu, tư tưởng
mạng của chủ nghĩa Mác LêNin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, đồng thời là sự kế thừa khoa học truyền thống đấu tranh
giải phóng dân tộc Việt Nam trong liïch sử, là một bộ phận trong đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến sớm được vạch ra đúng
đắn, khoa học là vấn đề đầu tiên có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến.
B- Kết luận
Phân tích bối cảnh lịch sử của chỉ thị toàn quốc kháng chiến và kết quả của chủ trương ấy cho thấy trên cơ sở nhận thức rõ
bản chất và âm mưu của kẻ thù, nên trong thời kì đấu tranh hòa bình với Pháp, Đảng vẫn luôn quan tâm tăng cường công tác chuẩn bị
kháng chiến, ta chủ động bước vào kháng chiến chống Pháp là sự lựa chọn sáng suốt, thể hiện ý chí quyết tâm, tư tưởng cách mạng
tiến công, ý thức tự chủ của Đảng ta và nhân dân ta trong cuộc kháng chiến ngay sau mệnh lệnh kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí
Minh được ban hành đã mang lại nhiều ý nghĩa và bài học sâu sắc.
- Đảng và nhân dân ta đã biết mở đầu đúng lúc cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp, quân và dân ta không những ít tiêu hao, mà còn làm tiêu diệt được một bộ
phận sinh lực địch. Điều quan trọng là đã cầm chân địch, tạo thời cơ chiến lược chuyển
đất nước sang chiến tranh, xây dựng, bảo tồn và củng cố được lực lượng, đẩy lùi âm
mưu chiến tranh đánh nhanh thắng nhanh của địch, chuyển đất nước vào thời chiến mới
và bước đầu xác lập thế trận chiến tranh nhân dân tạo tiền đề quan trọng để nhân dân ta
đánh bại âm mưu mới của địch
Câu 4a : Phân tích quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ 1954
- 1968. Qua đó rút ra nhận xét.
BÀI LÀM
I. Bối cảnh lịch sử
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ trở thành cường quốc số một trên thế giới. Mĩ có
âm mưu làm bá chủ thế giới, để thực hiện âm mưu này, Mĩ luôn luôn thực hiện chiến lược
toàn cầu, xâm lược Việt Nam nhằm đạt 3 mục tiêu chủ yếu sau :
1)- Tiêu diệt phong trào cách mạng, thôn tính miền Nam, biến miền Nam thành
thuộc địa kiểu mới của chúng.
2)- Biến miền Nam Việt Nam thành một phòng tuyến ngăn chặn sự phát triển của
CNXH xuống vùng này.
* Thời kì hai (từ 7/1956 đến cuối 1958) : đấu tranh chính trị là chính, xây dựng,
củng cố và phát triển lực lượng vũ trang, lập các chiến khu, đấu tranh vũ trang ở mức độ
thích hợp để bảo vệ cách mạng, chuẩn bị chuyển lên giai đoạn mới. Xác định mối quan hệ
chiến lược giữa hai miền và khẳng định cách mạng miền Nam phải phát triển trên cơ sở là
một căn cứ vững mạnh của hậu phương miền Bắc; hai là xác định nhân dân miền Nam
không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng.
* Thời kì ba (từ 1/1959 đến 1960) : nổi dậy khởi nghĩa vũ trang đồng loạt bằng cả
lực lượng chính trị và vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh đổ
chính quyền địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ, hình thành vùng giải phóng rộng lớn, lập
mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. CMMN phát triển nhảy vọt, chuyển hẳn
từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, đồng thời chấm dứt thời kì tạm ổn định của
địch, cuộc “Chiến tranh đơn phương” của địch bị thất bại.
Đặc biệt trong thời kì này, Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng thể hiện sự chỉ đạo
đúng đắn về tình hình, nhiệm vụ của CMMN đã châm ngòi nổ cho phong trào đồng khởi ở
miền Nam đánh bại chiến lược tố cộng, diệt cộng của Mĩ - Diệm.
* Giai đoạn (Từ năm 1960 đến năm 1965) : là giai đoạn Đảng lãnh đạo nhân
dân đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mĩ. chiến lược chiến tranh đặc biệt là một hình thức
chiến tranh thực dân mới trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt của Mĩ” sử dụng
3 hình thức : Chiến tranh tổng lực, chiến tranh hạn chế, chiến tranh dưới mức hạn chế.
Với các thủ đoạn của Mĩ - Diệm như : tổ chức dồn dân, lập ấp chiến lược “tát nước bắt
cá” được coi là quốc sách. Xây dựng quân đội Ngụy theo hình thức 3 thứ quân : chủ lực,
địa phương quân và tự vệ, phong tỏa chặt chẽ biên giới trên bộ và trên biển để ngăn chặn
miền Bắc chi viện cho miền Nam…
Đảng ta chủ trương tại Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) quyết định thành
lập mặt trận giải phóng ở miền nam làm ngọn cờ chính trị thu hút tất cả các lực lượng yêu
nước tiến bộ ở miền Nam đối lập với chính quyền Ngô Đình Diệm. Quyết định thành lập
TW cục miền Nam, cơ quan lãnh đạo cao nhất ở miền Nam thay mặt TW Đảng trực tiếp
chỉ đạo CMMN. Quyết định thành lập quân giải phóng miền Nam với hai lực lượng : Động
viên lực lượng thanh niên yêu nước tại chỗ và chi viện quân từ miền Bắc vào Nam.
- Tiếp theo Nghị quyết Bộ chính trị (1/1961) và Nghị quyết TW lần 9 (12/1963) xác
chúng, ổn định Ngụy quyền, đồng thời phá hoại hậu phương miền Bắc XHCN, ngăn chặn
sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mĩ của dân tộc ta ,
buộc ta phải kết thúc chiến tranh theo điều kiện của Mĩ.
Hội nghị TW Đảng lần thứ 11 (3/1965) đã đề ra quyết tâm chiến lược đánh Mĩ và
thắng Mĩ, phát động toàn dân tiến hành chống Mĩ cứu nước.
Đảng ta đã chỉ đạo quân và dân miền Nam liên tiếp bẽ gãy các cuộc hành quân “Tìm
diệt” và “Bình định” của Mĩ-Ngụy. Sau trận đọ sức trực tiếp đầu tiên với quân Mĩ ở Núi
Thành (Quảng Nam) 5/1965, Vạn Tường (Quảng Ngãi) 8/1965 thắng lợi, một cao trào
đánh Mĩ diệt Ngụy đã dấy lên mạnh mẽ khắp chiến trường miền Nam. Mọi cố gắng điên
cuồng của Mĩ trong cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) và thứ hai (19661967) d0ều bị thất bại. Mùa mưa 1967 buộc Mĩ - Ngụy phải chuyển sang chiến lược
phòng ngự. Lúc này 80% đất đai miền Nam thuộc quyền kiểm soát của Mặt trận dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam. Phong trào đấu tranh chính trị tiếp tục phát triển quyết liệt
ở hầu hết thành thị.
12/1967, Bộ chính trị đã chủ trương chuyển cuộc chiến tranh CMMN sang thời kì
mới, tiến lên giành thắng lợi bằng quyết định tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giáng một
đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đã nổ ra
vào dịp tết mậu thân (1968) ở Sài Gòn và 64 thành phố, thị xã, thị trấn khác trên toàn miền
Nam. Cuộc tập kích chiến lược này làm cho thế chiến lợc của Mĩ bị đảo lộn, ý chí xâm
lược bị lung lay và phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt không điều kiện ném bom
miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta tại Pari. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của
CMMN, song về sau ta cũng bị những tổn thất về địa bàn và lực lượng do có sai lầm trong
đánh giá tình hình, chỉ đạo, xác định mục tiêu và chỉ đạo thực hiện tổng công kích - tổng
khởi nghĩa.
III. Nhận xét và đánh giá chung
Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 8 (khóa II tháng 8 năm 1955) đã xác định “đường lối
xây dựng miền Bắc và củng cố, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước
vững chắc lên XHCN” Đảng ta đã dựa trên các cơ sở lí luận và thực tiễn như sau :
* Về lí luận : Một là đưa miền Bắc tiến lên là xuất phát từ xu thế thời đại quá độ từ
vùng tự do đánh dấu sự kết thúc của cách mạng DTDC để chuyển sang cách mạng
XHCN, nhằm tăng cường củng cố khối liên minh công nông, xóa bỏ quan hệ sản xuất bóc
lột phong kiến, giải phóng nguồn lực sản xuất nông nghiệp nông thôn, cũng chính là góp
phần khôi phục kinh tế và ổn định đời sống cho nhân dân. Đảng ta chủ trương về đường
lối : dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông,
đánh đổ giai cấp địa chủ, tiêu diệt chế độ phong kiến, từng bước có phân biệt; về phương
châm : trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu về ruộng đất của nông dân cần chú trọng phân biệt
đối đãi với các hạng địa chủ, chiếu cố địa chủ kháng chiến một cách đích đáng nhằm
thêm bạn bớt thù.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng ta đã thẳng thắn đánh giá sai lầm
nghiêm trọng kéo dài trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện cải cách ruộng đất, cường điệu tính
chất đấu tranh giai cấp ở nông thôn, dẫn đến mở rộng quá mức đối tượng đấu tranh, gây
ra tình trạng đánh nhầm vào nội bộ nông dân, nhất là trung nông lớp trên, phương pháp
đấu tranh mang tính chất trừng trị, nhẹ tính chất giáo dục. Một số nơi quán triệt đường lối
và phương châm chỉ đạo không đúng, vị phạm nguyên tắc tập trung dân chủ lãnh đạo, để
cho đội cải cách quá nhiều quyền lực, vai trò cấp ủy Đảng lu mờ. Nguồn gốc của sai lầm
là do không xuất phát từ thực tiễn nước ta, đánh giá không sát đúng những diễn biến của
nông dân miền Bắc nhất là chế độ sở hữu ruộng đất. Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng
lần thứ 10 (khóa II 9/1956) đã nghiêm khắc kiểm điểm và kiên quyết sửa chữa sai lầm.
Đến cuối năm 1957 công tác sữa sai đã đem lại kết quả tốt, nông thôn dần dần ổn định,
nội bộ Đảng đoàn kết, lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng được khôi phục, sản
xuất nông nghiệp đẩy mạnh, khối liên minh công nông được củng cố.
Tiếp theo công cuộc cải tạo XHCN ở miền Bắc từ 1958 - 1960, Hội nghị lần thứ 14
của BCH TW Đảng (khóa II 1/1958) xác định “nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân là
ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH…”, trọng tâm trước mắt là đầy
mạnh cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và
cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời phải ra sức phát triển
thành phần kinh tế quốc doanh, lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
sau :
- Kết quả đạt được : Trước hết thông qua cải tạo xã hội chủ nghĩa xóa bỏ
quan hệ sản xuất bóc lột và từng bước hình thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai làm thay đổi kết cấu gai cấp trong xã hội, thay đổi quan hệ giữa con người với
nhau theo hướng tiến bộ. Thứ ba là góp phần hình thành nền văn hóa mới và con người
mới XHCN. Thứ tư là góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, động viên
được sức của, sức người cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
- Những sai lầm : Nhận thức và vận dụng lí luận của Đảng ta không thừa nhận
CNXH còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận dụng không đúng luật
QHSX, cho rằng QHSX đi trước nhằm chủ động kéo theo LLSX (coi quan hệ sản xuất qui
định lực lượng sản xuất) dẫn đến QHSX kiềm hãm LLSX. Trong QHSX đồng nhất sở hữu,
đưa mở rộng sở hữu mà không là rõ được trình độ LLSX đến đâu, không phát huy được
dân chủ trong quản lí, sản xuất, kinh doanh, không quan tâm đúng mức lơị ích của người
lao động dẫn đến càng mở rộng QHSX càng triệt tiêu sức sản xuất xã hội, sai lầm trong
chỉ đạo là nóng vội và chủ quan.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) được triệu tập tại Hà Nội, là
“Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất thống
nhất nước nhà. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ chiến lược cho hai miền Nam, Bắc : “Miền Bắc
xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ quyết định nhất đối với toàn bộ tiến trình cách
mạng Việt nam. Miền Nam tiến hành CMDTDC là trực tiếp đánh đổ đế quốc và tay sai giải
phóng miền Nam bảo vệ miền Bắc thống nhất nước nhà. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có
quan hệ khắng khít với nhau và hỗ trợ cho nhau phát triển. Đại hội nêu 3 đặc điểm cần
quán triệt trong quá trình cải tạo và xạy dựng CNXH ở miền Bắc là : nền kinh tế lạc hậu,
sản xuất nhỏ; nước nhà tạm chi làm 2 miền; có sự giúp đỡ của các nước XHCN. Để triển
khai chỉ đạo thực hiện Nghị quyết đại hội III của Đảng, Ban chấp hành TW Đảng (khóa III)
đã tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp, về lưu thông phân phối... Đại hội III đã ra kế hoạch phát triển
kinh tế - văn hóa - xã hội từ 1961 đến 1965, trong kế hoạch này chỉ có được 4 năm hòa
hành xây dựng kinh tế trong điều kiện đất nước có chiến tranh, phải tập trung sức người,
sức của cho giải phóng miền Nam và chống chiến tranh phá hoại miền Bắc.
* Về chủ quan : Đảng và Nhà nước ta đã mắc một số sai lầm, khuyết điểm, nghiêm
trọng như chính sách cải cách ruộng đất, là bắt nguồn từ những nhận thức còn đơn giản,
duy ý, chí chưa nắm đúng qui luật vận động đi lên CNXH ở một nước vốn là thuộc địa,
nền sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp. Nó còn phản ánh phương pháp tư duy giáo
điều, rập khuôn mô hình xây dựng CNXH của Liên Xô, chưa xuất phát đầy đủ từ hoàn
cảnh điều kiện cụ thể của thực tiễn đất nước ta.
Những thành công và chưa thành công trên đều là những bài học và kinh nghiệm quí
báu cho quá trình đổi mới hiện nay vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh tiến lên CNXH
Câu 5 : Quá trình nhận thức con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Đảng ta từ
1975 đến nay.
Bài làm
A. Đặc điểm tình hình của cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội :
1)- Hoàn cảnh lịch sử :
Đại thắng chiến dịch mùa xuân năm 1975 đã tạo ra bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa
trọng đại, mở ra kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc : Đất nước hoàn toàn độc lập, thống
nhất, đi lên Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong thời kì mới, đất nước chúng ta có nhiều
thuận lợi, song cũng có không ít khó khăn và thách thức mới.
* Thuận lợi :
- Tổ quốc thống nhất là điều kiện thuận lợi quan trọng để huy động các tiềm năng,
sức mạnh của thiên nhiên và con người (rừng và đất rừng, bờ biển, lực lượng lao động…)
trong công cuộc xây dựng đất nước.
- Cơ sở vật chất kiõ thuật của chính quyền chế độ cũ miền Nam hầu như còn
nguyên vẹn được chính quyền cách mạng tiếp thu đã tạo điều kiện thuận lợi cho công
cuộc xây dựng đất nước trong giai đoạn mới.
- Uy tín của Nhà nước Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng được
nâng cao trên trường quốc tế. Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã
Với trách nhiệm là đại biểu tiên phong của GCCN Việt Nam, đại biểu trung thành lợi
ích của dân tộc; Đảng ta đảm đương sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân Việt Nam giải
quyết kịp thời những yêu cầu thực tiễn của cách mạng nước ta trong thời kì mới.
B. Qúa trình nhận thức con đường đi lên CNXH của Đảng ta :
1)- Qúa trình bổ sung, hoàn chỉnh đường lối CM XHCN là qúa trình khách
quan :
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ thống nhất tổ quốc, hội nghị lần thứ 24
của Ban chấp hành TW Đảng đã khẳng định : (Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả
nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH(, hội nghị để ra công tác chuẩn bị
về tư tưởng, tổ chức tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội và Chính phủ trong cả nước. Sau khi
hoàn thành cơ bản những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
(CMDTDCND), cách mạng Việt Nam (CMVN) đã từng bước chuyển sang thời kì qúa độ
tiến lên xây dựng CNXH với đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế còn phổ biến là sản
xuất nhỏ đi lên CNXH. Vì thế Đảng ta cần và có thể tìm ra những nội dung, cách thức và
biện pháp thích hợp với tinh thần nổ lực và sáng tạo cao nhất.
Quá trình đổi mới là cả qúa trình nhận thức bổ sung dần về lượng, biến đổi về chất,
biết cách tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi nhân tố, mọi lực lượng kinh tế xã hội tham gia vào tiến trình CMXHCN ở nước ta. Đây không chỉ là sự kế thừa và phát
triển bài học kinh nghiệm thành công của cách mạng nước ta trong thời kì trước, mà còn
là yêu cầu cấp thiết mang tính tất yếu, hợp quy luật trên bước đường đi lên của nước ta
trong thời kì mới. Trải qua nhiều năm, với thực tế : biết bao khó khăn, phức tạp, cùng với