Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và sự vận dụng của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 41

MỞ ĐẦU
Đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan theo đúng quy luật tiến hoá của
lịch sử. Tuy nhiên, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế kém phát triển như
nước ta là quá trình phấn đấu đầy khó khăn gian khổ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, song
Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam vẫn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội trong suốt hơn 85 năm qua. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc
của Đảng lần thứ IX đã xác định: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”1.
Như vậy, Đảng ta một lần nữa khẳng định rằng, để đi lên chủ nghĩa xã hội nước ta
nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ. Điều đó hoàn toàn đúng với nguyên lý của chủ
nghĩa Mác- Lênin và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam. Sự khẳng định này là hết sức cần
thiết, nhất là trong thời điểm hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến nhanh
chóng, phức tạp và khó lường với những tác động to lớn và sâu rộng. Vì vậy, việc nhận
thức đúng và vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận của Mác về hình thái kinh tế - xã hội trở
thành một nhiệm vụ chính trị cấp bách. Nhiều nhà khoa học đã và đang tích cực nghiên
cứu, hoạt động lý luận để chứng minh sức sống trường tồn, khoa học và cách mạng của
học thuyết nhằm bác bỏ các quan điểm nhận thức sai trái cũng như những tư tưởng tư sản
phản động phủ nhận chủ nghĩa Mác và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Cùng với việc trung thành, kiên định với chủ nghĩa Mác, việc vận dụng và phát triển
lý luận hình thái kinh tế - xã hội để xác định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội và
công cuộc đổi mới ở nước ta cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề mới đòi hỏi chúng ta phải
biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và lý luận về hình thái kinh tế xã hội nói riêng trong những hoàn cảnh cụ thể để tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Với suy nghĩ đó, em lựa chọn chủ đề của tiểu luận là: “Học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội và sự vận dụng của Đảng ta về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.”

1

ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội 2001, Tr 84.


hệ vật chất làm cho xã hội phát triển đó là học thuyết hình thái kinh tế- xã hội.
2

C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, Tập 23, tr 21.

2


Nhận xét về vấn đề này Ăngghen viết: “Chủ nghĩa duy vật đã trải qua một loạt
các giai đoạn phát triển. Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay
cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử- tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không
tránh khỏi thay đổi hình thức của nó; và từ khi bản thân lịch sử cũng được giải
thích theo quan điểm duy vật chủ nghĩa thì ở đây, cũng mở ra một con đường
phát triển mới”3. Rõ ràng xuất phát từ điều kiện kinh tế- xã hội mà các ông đã
có những khái quát các luận thuyết triết học của mình và đưa ra học thuyết về
hình thái kinh tế- xã hội.
Bàn về vấn đề này Lênin đã giải thích rằng mối quan hệ biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, do lực lượng sản xuất quyết định sự vận động,
phát triển của xã hội một cách tự nhiên. Ông viết: “Chỉ có đem quy những quan hệ
xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ
của lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm
sự phát triển của những hình thái kinh tế- xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”4.
Để hiểu được sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội một cách đúng
đắn, triết học Mác với quan niệm đúng đắn về xã hội đã chỉ ra rằng, quy luật của
đời sống xã hội có một đặc điểm khác với quy luật tự nhiên ở chỗ được tác động
thông qua hoạt động của con người, song điều đó không vì thế mà nó không
mang tính khách quan. Trái lại, quy luật vận động của xã hội không những
không phụ thuộc vào ý thức con người mà ngược lại xét đến cùng còn quyết định
cả ý chí, ý thức của con người. Chính con người hoạt động xã hội và hoạt động
sản xuất vật chất, với tư cách là lực lượng sản xuất đặc biệt, con người đã gián

nhiên, quy luật xã hội cũng bị chi phối bởi vô số những ngẫu nhiên. Thông qua vô
số ngẫu nhiên đó, chúng ta phát hiện ra quy luật nội tại bị che giấu. Khi bàn về
động lực của lịch sử Ăngghen phân tích sâu sắc động lực bên trong- nội tại của
lịch sử và ông kết luận: “Nếu như trong tất cả các thời kỳ trước, việc nghiên cứu
những nguyên nhân thúc đẩy ấy của lịch sử đã hầu như không thể làm được, vì
những mối liên hệ phức tạp và bị che lấp giữa những nguyên nhân ấy với những
hậu quả của chúng thì ngày nay, thời đại chúng ta đã đơn giản hoá những mối
liên hệ đó đến một mức mà cuối cùng điều bí ẩn đã có thể giải đáp được”7.
Như vậy, khi nghiên cứu lịch sử xã hội, chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra
quy luật vận động nội tại của xã hội do chính các yếu tố bên trong quy định. Mỗi
hình thái kinh tế- xã hội được coi như một cơ thể xã hội phát triển theo quy luật
vốn có của nó, bởi vì xã hội là một bộ phận của tự nhiên do đó cũng vận động
6
7

C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, Tập 3, tr 11.
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 21, tr 438- tr 439.

4


theo quy luật tự nhiên. Như vậy, một cơ thể xã hội riêng biệt nó cũng sẽ có
những quy luật riêng về sự ra đời của nó, về hoạt động của nó, và bước chuyển
của nó lên hình thức cao hơn, tức là biến thành một cơ thể xã hội khác. Theo đó,
quá trình lịch sử tự nhiên được hiểu là: con người làm ra lịch sử của mình và họ
tạo ra những quan hệ xã hội của mình, đó chính là xã hội. Nhưng xã hội lại vận
động theo quy luật khách quan vốn có không phụ thuộc vào ý thức, hay ý muốn
của con người, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một cá nhân hay
một lực lượng chính trị xã hội nào. Mác viết: “Nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra
cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được, vì khi xét kỹ hơn, bao

thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa. Từ đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác- Lênin đi đến kết luận: hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ được
thay thế bằng hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa, và sự thay thế này cũng là
quá trình lịch sử tự nhiên. Sự thay thế đó thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa mà hai
tiền đề vật chất quan trọng nhất của nó là sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự
trưởng thành của giai cấp vô sản, tác động vào quá trình đó, thúc đẩy quá trình đó sớm
thu được kết quả. Mác viết: “Các quan hệ sản xuất tư sản là hình thức đối kháng cuối
cùng của quá trình sản xuất xã hội, đối kháng không phải với ý nghĩa là đối kháng cá
nhân, mà với ý nghĩa là đối kháng nảy sinh từ những điều kiện sinh hoạt xã hội của các
cá nhân; nhưng những lực lượng sản xuất phát triển trong lòng xã hội tư sản đồng thời
cũng tạo ra những điều kiện vật chất để giải quyết đối kháng ấy. Cho nên với hình thái
xã hội tư sản, thời kỳ tiền sử của xã hội loài người đang kết thúc”10.
Như vậy, hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa là hình thái kinh tế- xã
hội cuối cùng trong lịch sử có quan hệ sản xuất với hình thức đối kháng, là hình
thái xã hội cuối cùng trong lịch sử có sự đối kháng trong quá trình sản xuất xã hội:
còn chiếm hữu tư nhân, còn áp bức bóc lột, và chính sự phát triển của lực lượng
sản xuất trong lòng xã hội tư bản sẽ tạo điều kiện vật chất để xoá bỏ quan hệ sản
xuất, thiết lập quan hệ sản xuất mới- quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Nói
cách khác, Mác đã dự báo rằng hình thái kinh tế- xã hội tư bản chủ nghĩa nhất
định sẽ bị diệt vong do chính sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất ở
ngay trong lòng xã hội đó và sự diệt vong là không thể tránh khỏi. Mặt khác,
chính giai cấp tư sản đã tạo ra những cơ sở vật chất để tự thủ tiêu mình. Đó là phát
hiện thiên tài của Mác. Xã hội cũ chưa mất đi khi tiền đề vật chất của nó chưa mất
đi, xã hội mới chưa ra đời khi tiền đề vật chất của nó chưa xuất hiện. Mác viết:
“Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản
xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát
10

C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 16.


hội trong sự phát triển của lịch sử.
11

C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1993, tr 15- tr 16.

7


Như vậy, nếu xem xét ở phạm vi lịch sử toàn nhân loại thì lịch sử xã
hội loài người đã phát triển qua bốn hình thái kinh tế- xã hội một cách tuần
tự từ thấp đến cao. Song, do đặc điểm về lịch sử, về không gian và thời
gian, không phải quốc gia nào cũng phải trải qua tuần tự các hình thái kinh
tế- xã hội đó từ thấp đến cao theo lược đồ chung. Thực tế lịch sử xã hội loài
người đã chứng minh một số quốc gia trong quá trình phát triển đã bỏ qua
một vài hình thái kinh tế- xã hội để phát triển đến hình thái kinh tế- xã hội
cao hơn như: Nga, Ba Lan, Đức từ hình thái kinh tế- xã hội cộng sản
nguyên thuỷ tiến lên hình thái kinh tế- xã hội phong kiến bỏ qua hình thái
kinh tế- xã hội chiếm hữu nô lệ. Việt Nam trong tiến trình phát triển lịch sử
đã bỏ qua hình thái kinh tế- xã hội chiếm hữu nô lệ tiến lên hình thái kinh
tế- xã hội phong kiến v.v..
Mác và Ănghen cũng đã dự báo những vấn đề về quá độ của chủ nghĩa
xã hội. Mác viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một
trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải
khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực,
xoá bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những
tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra” 12. Mác đã chỉ ra rằng, khả năng vận động của
cuộc cách mạng vô sản phải bằng chính sự vận động của hiện thực khách
quan, mà mỗi dân tộc phải năng động sáng tạo, không được trông chờ, không
máy móc. Chỉ có được kết quả khi chính chúng ta phải tự mình đấu tranh xoá
bỏ chủ nghĩa tư bản ngay tại dân tộc mình, tại quốc gia mình, đó là điều kiện

quốc gia nằm trong tiến trình lịch sử tự nhiên của xã hội loài người. Vừa
mang tính quy luật chung, mà ở Việt Nam còn mang tính quy luật đặc thù,
đó là chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
kinh tế kém phát triển, chưa trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa.
Song (theo lôgích nội tại của sự phát triển của xã hội Việt Nam) đó là con
đường hiện thực, phù hợp với quy luật phát triển chung của tiến trình lịch
sử nhân loại. Bởi vậy, sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn và
hợp quy luật khách quan.

9


II. VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY.
1. Nhận thức về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng đã xác định: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” 13. Như vậy, Đảng ta khẳng
định đi lên chủ nghĩa xã hội, nước ta nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ.
Điều đó hoàn toàn đúng với nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin và phù hợp
với thực tiễn nước ta. Theo nguyên lý chung, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
thường có hai dạng cơ bản, đó là, từ chủ nghĩa tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội và
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Như vậy, nước
ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội thuộc hình thức thứ hai. Qua nghiên cứu
chúng ta thấy rằng nước ta tuy có những nét chung của hình thức quá độ bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng nước ta lại có những đặc điểm riêng do điều
kiện đặc thù của lịch sử cách mạng nước ta. Đó là, nước ta đi lên chủ nghĩa xã

lịch sử, không hiểu điều kiện khách quan và xu thế phát triển của thời đại; họ
không hiểu và nhận thức được tính khoa học, tính tất yếu của lịch sử. Cũng có
quan điểm cho rằng chúng ta quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong điều
kiện không còn sự giúp đỡ của Liên xô và của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa thì
khó có thể thành công. Thực ra, quan điểm này họ nhìn nhận một cách máy
móc, cứng nhắc, không thấy sự phát triển của thời đại, sự tác động mạnh mẽ
của khoa học công nghệ hiện đại đã làm cho xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá,
làm cho hợp tác quốc tế tăng lên. Tư tưởng đó biểu hiện của sự hoài nghi, thiếu
tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân ta.
Trong khi đó, có quan điểm nhất trí với con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa, song, lại hiểu việc bỏ qua là phải bỏ qua cả giai đoạn, bỏ qua tất cả
những gì của chủ nghĩa tư bản đem lại, họ không thấy rằng những thành quả
của chủ nghĩa tư bản đem lại về vốn, khoa học, công nghệ, trình độ quản lý, cơ
sở vật chất kỹ thuật...không chỉ phục vụ cho chính xã hội tư bản mà với ý nghĩa
nào đó nó đã đem lại cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại; do vậy,
quan điểm này rơi vào chủ nghĩa siêu hình, phủ định sạch trơn, không có kế
thừa trong sự phát triển.

11


Tóm lại, tất cả các quan điểm trái ngược trên đây đều thể hiện điểm
chung đó là: thiếu tính khoa học, khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, sự
nhận thức mới chỉ dừng lại ở trình độ nhận thức bên ngoài, chưa hiểu sâu
sắc bản chất bên trong của vấn đề; họ cố tình không nhận thức được những
vấn đề khách quan đó.
Với cách nhìn nhận một cách khoa học, Đảng ta đã xác định: bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng, phù
hợp với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, phù hợp với xu thế thời đại
ngày nay. Mặc dù đó là con đường khó khăn phức tạp, lâu dài, phải trải qua nhiều bước

chủ nghĩa tư bản nhà nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”14.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với thế giới quan, tư duy triết học duy vật biện
chứng, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, đó là con
đường cách mạng vô sản. Người chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa
nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ
nghĩa Mác- Lênin”15. Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không những đánh giá
cao vai trò lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn khẳng định chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của Đảng và của toàn dân tộc Việt Nam và qua thực tiễn hơn 85 năm qua dưới sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn chấm dứt ách
đô hộ hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, hàng trăm năm của các thế lực
thực dân cũ và mới, đưa đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, cả nước
đi lên chủ nghĩa xã hội. Qua hơn 30 năm đổi mới chẳng những đất nước Việt
Nam đứng vững không bị sụp đổ (như kẻ thù tưởng) mà còn đưa nước ta thoát
khỏi khủng hoảng và phát triển đi lên. Công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đó đã góp thêm một bằng chứng hùng hồn
về sức sống và giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác- Lênin khi mà Đảng Cộng sản
Việt Nam đã bám sát thực tiễn, không ngừng bổ sung lý luận phù hợp với thực
tiễn đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, điều đó càng khẳng định bản chất cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

14
15

V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 44, tr 189.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tập 2, tr 268.

13



C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995 Tập 3, tr 100.
C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1995 Tập 3, tr 100.

14


những phương tiện để xoá bỏ chủ nghĩa tư bản. Chính vì vậy, thông qua con
đường giao lưu hợp tác đa phương hoá, đa dạng hoá để các nước chậm phát
triển có thể đi vào con đường phát triển rút ngắn, ngay cả khi chủ nghĩa tư bản
vẫn còn tồn tại và phát triển.
Đây là một tính quy luật về sự giao lưu giữa các nền văn minh với nhau
mà trước hết là nền sản xuất vật chất, mối quan hệ kinh tế, tạo ra các hình thức
trao đổi sản phẩm do chính mình làm ra và dẫn đến sự giao lưu với các bộ phận
của kiến trúc thượng tầng. Nhà nước là sản phẩm của cơ sở sản xuất, xã hội, bao
gồm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển
nhất định của những lực lượng sản xuất, bao gồm toàn bộ đời sống thương
nghiệp và công nghiệp của một giai đoạn xã hội, trong bất cứ thời đại nào cũng
là cơ sở của nhà nước nó quyết định đến lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
nó giao lưu với nhau trong khu vực và ngoài khu vực.
Quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, không phải
cho đến bây giờ mới xuất hiện, mà nó là mục đích ngay từ khi Đảng cộng sản Việt
Nam ra đời năm 1930. Trong chính cương sách lược vắn tắt cho đến luận cương
chính trị năm 1930, Đảng ta đã khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là sự vận dụng đúng đắn sáng tạo nguyên lý chủ
nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam. Đó là Đường lối
chính trị đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với nguyện vọng của giai
cấp và khát vọng cháy bỏng của toàn dân tộc Việt Nam.
Do tính chất, đặc điểm của thời đại, sự phát triển rất cao của lực lượng sản
xuất, tính chất quốc tế hoá của lực lượng sản xuất đã tạo nên một xu thế mới
trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc. Nước ta nằm trong quỹ đạo chung của

phát triển tốt, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được tăng cường, chúng ta đã
tham gia rất nhiều vào các tổ chức quốc tế với một vai trò hết sức quan trọng, như
tổ chức Liên hợp quốc, ASEAN, WTO...Trong quá trình hội nhập chúng ta đã tận
dụng được rất nhiều thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công
nghệ hiện đại để củng cố, xây dựng, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, xây dựng được các ngành công nghiệp mũi nhọn, các công trình, cơ
sở hạ tầng lớn quan trọng, với cách đặt vấn đề đi tắt, đón đầu, với nhiều hình thức,
Đảng cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khoá XI tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của
Đảng, Hà Nội 2016, tr 65- tr 66.
18

16


bước đi thích hợp ở nhiều trình độ phát triển, phù hợp với trình độ phát triển ở
nước ta. Phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
từng bước làm chuyển biến đưa nước ta từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, trình độ
sản xuất thấp, dần dần trở thành một nước có nền công nghiệp với mục tiêu từ nay đến
năm 2020.
Thực tiễn đã chứng minh, từ một nước nông nghiệp thiếu lương thực trầm trọng
và kéo dài, đến nay chúng ta đã trở thành nước đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo,
đó là một điều kỳ diệu, mà thế giới phải ghi nhận, ở một nước đi lên từ một nền nông
nghiệp sản xuất nhỏ là phổ biến, trình độ canh tác còn thấp kém. Từ một nước có tỷ lệ
90% dân số mù chữ, nay nước ta đã phổ cập tiểu học, một số tỉnh, thành phố đã phổ
cập trung học cơ sở và trung học phổ thông, tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và sau đại
học ngày càng tăng nhanh, nước ta có nhiều đoàn tham dự các cuộc thi thế giới đã
giành được kết quả cao. Khó khăn lớn nhất hiện nay, từ khi các nước xã hội chủ nghĩa
ở Đông âu và Liên xô sụp đổ, nước ta không còn có sự giúp đỡ như thời gian trước
đây, vốn, khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại... còn thiếu thốn nhiều. Chúng ta
tưởng chừng không thể đứng vững, nhưng với Đường lối tự chủ, độc lập dân tộc gắn

khuôn máy móc siêu hình, hoài nghi, thiếu khoa học cũng chỉ là sự yếu kém về nhận
thức. Điều đó đã vượt lên trên tư tưởng bỏ qua phủ định sạch trơn, thiếu biện chứng.
Thực tiễn sau ba mươi năm đổi mới đã chứng minh điều đó, những điều kiện khách
quan, xu thế thời đại hiện nay đối với dân tộc ta là cơ hội thuận lợi giúp đất nước ta
hoàn toàn có khả năng bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội, trong điều kiện các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Chỉ có
điều, điều kiện khách quan thuận lợi đó muốn trở thành hiện thực, nó phụ thuộc rất lớn
vào sự tiếp nhận, kết hợp, chuyển hoá của những nhân tố chủ quan, đó là Đảng cộng
sản Việt Nam và toàn thể dân tộc Việt Nam chúng ta.
Công cuộc đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng cộng sản
Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), đến nay
đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Đúng như Báo cáo Chính trị tại Đại
hội đại biểu toàn Quốc của Đảng lần thứ X đã khẳng định: “Công cuộc đổi mới ở
nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” 19, đã đưa cách mạng
Đảng cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khoá IX tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng,
Hà Nội 2006, tr 10- tr 11.
19

18


nước ta bước sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Có thể khẳng định rằng, vai trò to lớn của Đảng cộng sản Việt Nam
trong sự nghiệp đổi mới, trong nhận thức và nắm bắt điều kiện khách quan
thuận lợi để chuyển hoá, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của Việt
Nam, phù hợp với xu thế rõ rệt của thời đại, nó phù hợp với tâm tư nguyện
vọng cháy bỏng của toàn dân tộc ta. Đó là nhân tố chủ quan- nhân tố chính
trị hết sức quan trọng có tính chất quyết định con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta hiện nay. Bàn về nhân tố chính trị, Lênin viết: “Chính trị là

lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Như Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu
toàn Quốc của Đảng lần thứ XII đã khẳng định những thành tựu trong công cuộc đổi
mới đất nước sau ba mươi năm qua.
Thực tiễn lịch sử nhân loại đã chứng minh, do những điều kiện không gian, thời
gian khác nhau, có một số nước trong quá trình phát triển không đi theo tuần tự tất cả
các hình thái kinh tế- xã hội theo lược đồ từ thấp đến cao (như đã chứng minh ở trên).
Nhưng xét về toàn diện quá trình phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội là quá
trình lịch sử tự nhiên, là cơ sở khoa học để khẳng định chúng ta có đủ điều kiện để đi
lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Mặc dù, hiện nay chúng ta có cả
những thuận lợi và khó khăn, có cả cả thời cơ và thách thức.
Trước hết về những thuận lợi đó là: Đảng ta là đảng Mácxít chân chính có
bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng và giàu kinh nghiệm trong quá trình lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng- đây là một yếu tố chính trị có ý nghĩa quyết định trong
việc chuyển hoá nhân tố của thời đại thành sức mạnh bên trong của dân tộc; nhân
dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, luôn gắn bó với chế độ, và tin tưởng vào
sự nghiệp cách mạng của Đảng, tạo ra những động lực to lớn của cách mạng Việt
Nam. Những cơ sở kinh tế chính trị- xã hội của chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày
càng được củng cố. Mặt khác, với nguồn nhân lực dồi dào, tài nguyên đất nước
phong phú là những điều kiện thuận lợi để chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước đã tạo ra cho chúng ta có
thế và lực mới. Nước ta nằm ở khu vực kinh tế phát triển năng động, xu thế hội
nhập mở cửa sẽ tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến tạo ra những
thuận lợi cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đảng cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khoá X tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng, Hà Nội 2011, tr 70.
21

20



21


ròng rã chúng ta đã giành được thắng lợi bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy của
cả dân tộc vào mùa xuân 1975, đánh dấu bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đại
thắng. Chiến thắng đế quốc Mỹ năm 1975, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từng
bước xây dựng và thực hiện nhà nước kiểu mới- nhà nước của dân, do dân và vì
dân. Xây dựng hệ thống chính trị đủ mạnh để đưa nền kinh tế và đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Những kết quả đạt được đó, nó đã minh chứng cho sự kiên
định vững vàng của Đảng và nhân dân ta quyết tâm đi lên chủ nghĩa xã hội, kiên quyết
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ngay từ đầu mới giành được quyền lãnh đạo, đó là sự
nhất quán rất cao độ, không có gì lay chuyển được- đó là nguyên tắc bất di, bất dịch
của Đảng và của cả dân tộc Việt Nam ta. Đồng thời nó cũng chứng tỏ vai trò to lớn của
Đảng cộng sản Việt Nam, chứng tỏ sự lãnh đạo tài tình của Đảng trong việc sáng tạo,
kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin vận dụng vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.
Qua phân tích, mổ xẻ những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan trong
nước và quốc tế, xu thế thời đại...chúng ta một lần nữa khẳng định con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là hợp với quy luật vận động
khách quan của tiến trình lịch sử, là cơ sở khoa học và cách mạng, đó là con
đường hợp quy luật và ngày càng trở thành hiện thực. Sự nhận thức đúng đắn và
nhất quán trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng. Thông qua đó Đảng ta
và nhân dân ta đã không đi vào con đường tư bản chủ nghĩa- con đường tiếp tục bị
áp bức bóc lột bất công- để đi vào kỷ nguyên mới kỷ nguyên độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước ta độc lập tự do, nhân dân ta được hưởng
cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng
được học hành, đó là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

22


V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 4, tr 232.

23


không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm
vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”24.
Trong quân đội, đội ngũ các nhà khoa học đặc biệt là khoa học xã hội và
nhân văn quân sự phải triển khai các đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp nhiều luận
cứ khoa học góp phần bổ sung, phát triển Đường lối quan điểm của Đảng, nhất là
trong lĩnh vực quốc phòng an ninh. Xây dựng và nâng cao bản lĩnh chính trị cho
cán bộ chiến sĩ và trực tiếp đấu tranh chống các quan điểm thù địch sai trái một
cách có cơ sở khoa học. Như Mác đã dạy: người đi giáo dục cũng phải được giáo
dục. Tích cực chủ động tạo ra các giá trị văn hoá mới, giữ vững nền tảng tinh
thần của quân đội và xã hội, nhằm xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ và từng bước hiện đại. Đề xuất những giải pháp cần thiết, phù hợp để tiếp
tục xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao hiệu quả CTĐ, CTCT
trong mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho các lực lượng vũ trang nhân
dân. Các nhà khoa học xã hội và nhân văn quân sự hơn lúc nào hết phải có lập
trường, quan điểm vững vàng, thế giới quan khoa học, có kiến thức sâu rộng, có
năng lực, có phương pháp tư duy khoa học, sắc bén về lý luận, nhạy cảm trong
thực tiễn, cảnh giác cách mạng cao, dũng cảm ..để tiến công địch trên mặt trận
đấu tranh lý luận tư tưởng hiện nay. Đồng thời phải bám sát định hướng lớn trong
công tác đấu tranh trên mặt trận lý luận tư tưởng của Đảng, của quân đội, bám sát
cuộc sống của xã hội, quân đội, của cán bộ chiến sỹ, đổi mới nội dung, hình thức,
phương pháp đấu tranh; chủ động đoàn kết phối hợp chặt chẽ với các lực lượng
tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hoà bình”
đập tan mọi âm mưu phá hoại và gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch nhất
là trên lĩnh vực tư tưởng lý luận hiện nay. Vì vậy hơn bao giờ hết các nhà khoa
học phải chiếm lĩnh khoa học và phải có tư duy lý luận sắc bén, như Mác đã chỉ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status