Đặc điểm truyện kể jataka của ấn độ - Pdf 41

1
TÁC GIẢ: Thái Thị Thu Thắm

MỤC LỤC
MUCLUC .......................................................................................................................... 1
MỞ ĐÂU.... ........ ... ....... . ................................................................................................1
1 ■ Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................1
2. ...................................................................................................................
Tình hình nghiên cứu ...................................................................................................1
3. ...................................................................................................................
Muc đích và nhiêm vu của đề tài .................................................................................2
4. Cơ sở lý luân và phương pháp nghiên cứu ............................................................3
5. ...................................................................................................................
Giới han của đề tài .......................................................................................................3
6. Đóng góp mới của đề tài .......................................................................................3
7. Ỷ nghã lý luận và V nghĩa thực tiễn ......................................................................4
8. Kết cấu của đề tài ................................................................................................... 4
CHƯƠNG L LICH sử HÌNH THẢNH, PHÁT TRIỀN TRUYẺN KỂ JATAKA ...........5
1 ■ 1 ■ Bối cảnh lịch sử xã hội - văn hỏa ....................................................................5
1.2. Lịch sứ phát triển ................................................................................................. 7
CHƯƠNG 2. TÌM HIỂU NỒI DUNG JATAKA .............................................................11
2.1 ■ Nội dung tôn giáo ...............................................................................................11
2.2. Nôi dung lieh sử - xã hôi và văn hóa..................................................................28
CHƯƠNG 3. TÌM HIỂU NGHÊ THƯẢT JATAKA: .................................................... 33
3 ■ 1 ■ Nghê thuât kết cấu. ■ ■ .................................................................................33
3.2. ................................................................................................................
Nghê thuât so sánh, ấn du, tương trưng .......................................................................40
3.3. Các motif tiêu biểu đươc sử dung ..................................................................... 46
KẾT LUÁN .................................................................................................................... 50
TẢI LIÊU THAM KHẢO ............................................................................................... 51
PHƯLƯC........................................................................................................................ 52

học Khoa học xã hội và Nhân văn xuất bản vào năm 1997, chứng ta đều thấy nhắc đến kho
tàng truyện kể Jataka. Mặt khác, do thuộc về lĩnh vực tôn giáo nên chúng ta cũng thấy có
ít nhiều những tài liệu tôn giáo nhắc đến Jataka như trong cuốn Đại tạng kinh Việt Nam,
Kinh Tiểu Bộ được Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ra mắt độc giả vào năm 2001.
Jataka đã được dịch ra tiếng Anh và nhiều thứ tiếng khác. Tại Việt Nam, Jataka mới chỉ
bắt đầu được dịch từ năm 1989 và hoàn thành vào năm 1993 với các dịch giả Thích Minh
Châu, Nguyên Tâm Trần Phương Lan, Trần Tuấn Mần. Chúng ta cũng có thể tìm đọc đầy
đủ truyện Jataka
trên Internet thông qua một số website sau:
www.budhanet.net,www.thuvienhoasen.org với bản dịch của
Thích Minh Châu và Trần Phương Lan; www.phatviet.com với bản dịch của Nguyên Hiệp
dựa theo bản Anh ngữ của Robert Chalmers. Ngoài ra, văn bản truyện kể Jataka còn được
phổ
biến
trên
nhiều
trang
web
Phật
giáo
khác
như:
www.daotam.org,www.nigioingaynay.com,www.tangthuphathoc.net,
www.daitangkinhvietnam.org.


2
về lịch sử nghiên cứu vấn đề: cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam mới chỉ xuất
hiện một số những bài nghiên cứu nhỏ ve Jataka đăng trên các báo, tạp chí và trang web
về văn học, văn hóa và Phật giáo. Nghiên cứu toàn bộ Jataka trên một khía cạnh thì có bài

biến với đông đảo bạn đọc. Vì thế, đề tài nhằm huớng đến mục đích giới thiệu và tạo cơ
sở lí luận để mọi nguời có thể tìm hiểu, khám phá những nét đặc sắc của truyện kể tồn giáo
độc đáo này.
Mặt khác, qua việc nghiên cứu Jataka, chúng ta sẽ hiểu thêm phần nào về Phật
giáo - một trong hai tôn giáo lớn của Ãn Độ, hiểu thêm về Ản Độ - một trong những nền
văn hóa lớn của thế giới, có ảnh huởng manh mẽ đối với văn


3
hóa Việt. Những mục đích này chỉ có thể thực hiện được thông qua việc tìm hiểu các
phương diện khác nhau của truyện kể Jataka - nơi vừa thể hiện những nội dung tôn giáo
lại vừa cung cấp những hiểu biết về lịch sử văn hóa; vừa mang những đặc sắc của vãn học
phương Đông giai đoạn cổ đại vừa biểu hiện những sinh hoạt tôn giáo vào giai đoạn khởi
thủy.
Um hiểu Jataka, người thực hiện đề tài còn nhằm mục đích tìm hiểu về quá trình
tu tập của Đức Phật. Qua đó làm sâu sắc thêm những đặc sắc của tôn giáo này và đi đến
khẳng định những giá trị của nó trong đời sống tâm linh phương Đông.
Đề tài được thực hiện với mong muốn tiếp cận một vài đặc điểm tiêu biểu của
Jataka. Qua đó, góp thêm cơ sở cho sự khẳng định di sản vãn hóa độc đáo này của Ấn Độ
nói riêng và phương Đông nói chung. Đề tài cố gắng đi vào tìm hiểu các đặc điểm về mặt
nội dung tập trung vào những triết lí Phật giáo và những giá trị văn hóa của Ãn Độ được
thể hiện qua câu chuyện về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ghi chép trong Jataka. Bên canh
đó, đề tài cũng đúc kết một số những đặc sắc vãn chương của truyện kể tôn giáo này về
mặt nghệ thuật như hình thức kết cấu, biện pháp ẩn dụ, tượng trưng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đe tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng thao tác nghiên cứu chính là liệt kê, hệ
thống: giúp cho việc nghiên cứu trở nên dễ dàng hơn với những bảng biểu tác phẩm và hệ
thống nhân vật, sự kiện. Qua sự liệt kê đó, chúng ta sẽ nhóm gộp các tác phẩm theo tiêu
chí nhất định để dễ dàng tiếp cận tác phẩm.
Phương pháp phân tích, tổng hợp dùng để nhận ra những giá trị của tác phẩm, công

Ấn Độ. Đồng thời, đề tài có thể sử dụng để tham khảo về những đặc điểm văn hóa, lịch sử
của Ấn Độ cổ đại.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài thực hiện có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những
công trình nghiên cứu liên quan đến văn học, văn hóa Ản Độ.
8. Kết cẩu của đề tài
Đe tài sẽ đi vào tỉm hiểu vấn đề nghiên cứu trên hai phương diện chính là đặc
trưng nội dung và nghệ thuật truyện kể. Bên cạnh đó, đề tài có phần Chương một mang
tính chất giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của truyện kể. Ngoài ra, đề tài còn
có phần Phụ lục gồm bảng, hình vẽ, tranh ảnh mang tính chất minh họa và thể hiện nội
dung nghiên cứu của đề tài. Đe tài sẽ được trình bày theo kết cấu như sau:
MỤC LỤC
Mỏ ĐẦŨ
CHƯƠNG 1. LỊCH sử HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỀN JATAKA
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội - văn hóa
1.2. Lịch sử phát triển truyện kể Jataka CHƯỞNG
2. TÌM HIỂU NỘI DUNG JATAKA
2.1. Nội dung tôn giáo
2.2. Nội dung lịch sử xã hội và văn hóa CHƯỜNG 3.
TIM HIỂU NGHỆ THUẬT JATAKA
3.1. Nghệ thuật kết cấu
3.2. Nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, tượng trưng
3.3. Các motif tiêu biểu được sử dụng
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


5

CHƯƠNG 1. LỊCH sử HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRUYỆN

quốc giáo. Mãi gần 100 năm sau khi Đức Phật nhập diệt thì lataka mới ra đời. Sự xuất
hiện của lataka như một hiện tượng tất yếu trên cơ sở truyền thống văn học tôn giáo đã có
trước kia ở Ấn Độ, yêu cầu mở rộng và phát triển tôn giáo cùng những điều kiện xã hội
thuận lợi. Cụ thể như sau:
Sự ra đời của latáka dựa trên cơ sở của văn học nghệ thuật đương thời và lịch sử
của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Jataka là những câu chuyện tiền thân do Đức Phật nhớ
mà kể lại cho tăng chúng nghe. Khả năng nhớ lại tiền kiếp của Đức Phật được ghi nhận
như là kết quả của việc ngồi thiền định suốt 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ đề
(Bodhydruma) hay còn gọi là Tất-bà-la (Pippala). Và không những Đức Phật có thể nhớ
được tiền kiếp của mình mà


6
còn biết được tiền kiếp của mọi người. Ngoài ra, Jataka cũng tiếp thu những câu chuyện
dân gian. Các bài học đạo đức đúc kết từ những câu chuyện này có liên hệ gần gũi với giáo
lí của đạo Phật. Bên canh đó, hình thức thuyết pháp bằng các tác phẩm truyện kể và thơ ca
cũng đã có từ trước đó, bắt nguồn từ Rig Veda đến Upanishad. Hình thức thuyết pháp của
Đức Phật chịu ảnh hưởng của những nhà ngụy biện đương thời. Trong những bài thuyết
pháp như vậy, để mọi người dễ nhớ và để buổi thuyết giáo sinh động, Ngài thường đặt ra
các câu hỏi, kể những ngụ ngôn và tóm tắt các giáo lí trong những câu ngắn mà chúng ta
gọi là kệ.
Jataka hình thành còn xuất phát từ những yêu cầu tôn giáo.
Thứ nhất do yêu cầu giáo hóa chúng sinh. Thời Đức Phật tại thế, một trong những
cách giáo hóa hữu hiệu mà Đức Phật sử dụng là lấy quá trình tu tập của bản thân mình,
những kinh nghiệm mà mình đã trải qua làm ví dụ để giúp chúng sinh giác ngộ. Và số
lượng truyện kể tiền thân lên đến 547 truyện bởi vì theo Đức Phật, giáo pháp là phương
tiện để giúp người học đạo thành công và tùy nơi, tùy cảnh huống, tùy đối tượng mà có
những pháp thoại tương ứng để giúp họ có được sự an lạc, tìm đến được với sự giải thoát.
Thứ hai, bằng hệ thống truyện kể này, chúng ta sẽ phác họa được chân dung của
Đức Phật: vừa là một con người gần gũi, tâm lí, đầy trí tuệ, đủ sự tinh tường; vừa là một

nâng Phật giáo trở thành quốc giáo, xây dựng nhiều công trình kiến trúc lấy đề tài từ Phật
giáo và đặc biệt là bảo trợ cho Đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba của Phật giáo. Dưới thời
đại của vị vua này, Phật giáo mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra ngoài Ãn Độ. Giáo lí của đạo
Phật theo chân những nhà truyền đạo đến với châu Âu, sang các nước Trung Á, qua Trung
Đông, Trung Quốc, Myanma, Srilanka,...Đây là lần kết tập có số lượng tỳ kheo tham dự
đông nhất và những kết quả đạt được cũng đánh dấu sự phát triển cao của Phật giáo với
việc hoàn thành kho kinh điển gồm Luật tạng, Kinh tạng, Luận tạng. Jataka cũng là bộ
kinh được hình thành trên những “ngôn hành” của Đức Phật được tưởng nhớ lại, thuyết về
đời quá khứ của các vị Phật và những đệ tử của Phật trong đại hội tập kết kinh điển thứ ba
trên cơ sở những bộ kinh đã có từ những lần tập kết trước. Thời điểm này, Phật giáo đã
được phân chia ra nhiều nhánh khác nhau với những quan điểm khác nhau về giới luật
cũng như về giáo pháp. Cũng chính từ đại hội này, những kinh điển của Phật giáo được
phổ biến sang nhiều nước trong khu vực, mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ của Phật
giáo nhờ vào công đức của con trai vua Asoka.
Trên đây là những cơ sở về xã hội và vãn hóa cơ bản tạo điều kiện cho sự ra đời
và lan truyền Jataka - Chuyện tiền thân Đức Phật.
1.2. Lịch sử phát triển
Jataka cấu tạo từ jata có nghĩa là tiền thân. Jataka được dịch ra dưới nhiều tên gọi
khác nhau. Ngoài tên được dịch là Chuyện tiền thân Đức Phật thì Jataka còn được dịch là
Kinh Bon sinh, Bổn sinh truyện, Túc sinh truyện.
Đây là bộ truyện đồ sộ nhất trong kinh điển Pali. Jataka có 6 tập, chia thành 22
chương. Sự phân chia này dựa trên số lượng các bài thi kệ xuất hiện trong mỗi Jataka.
Jataka đã được đưa vào Kinh Tiểu bộ ở đợt kết tập kinh tạng lần thứ ba dưới thời
vua Asoka (khoảng thế kỉ in trước công nguyên). Đây là tập thứ mười trong 15 tập của
Tiểu Bộ Kinh (Khunddaka Nikàya). Dù là bộ kinh chứa đựng số lượng kinh lớn nhất trong
năm bộ Nikàya (Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ và Tiểu Bộ) nhưng
nó lại mang tên gọi là Tiểu Bộ Kinh, theo Giáo sư Trần Phương Lan thì: “ “Tiểu ” ở đây,
theo các vị luận sư, muốn chỉ tỉnh cách hỗn hợp nhiều đề tài được diễn tả bằng nhiều thể
vãn khác nhau, từ các kinh kệ ngắn gọn do Đức Phật thuyết giảng, các tiền thân Đức Phật
với hàng ngàn bài kệ do các vị Tỳ kheo cảm tác, tiểu sử các Đức Phật, các vị A la hán, sự

nội dung sáng tác của những tác phẩm mà thôi. Tác giả của Jataka có thể là những chư
tăng, tỳ kheo, tỳ kheo ni, những cư sĩ, những tín đồ nhà Phật. Và cũng có thể như nhiều
tác phẩm văn chương khác ở Ản Độ vào thời kì cổ đại, tác giả Jataka là tác giả tập thể và
không thể xác định cụ thể tên tuổi, về thời gian: vào thời Đức Phật còn tại thế, những câu
chuyện Jataka này chưa được ghi chép và lưu giữ trong kho tàng kinh điển nhà Phật. Ở
giai đoạn sơ kì của Phật giáo, hình thức giáo hóa chủ yếu là “sư sư tương thừa, dĩ khẩu
truyền khẩu”. Chính vì thế nên Jataka không thể được ghi chép khi Đức Phật còn tại thế
được. Mặt khác, Đức Phật cũng không bận tâm đến việc ghi chép lại vào sách vở các giáo
lí của đạo Phật. Khi Đức Phật nhập Niết Bàn, giới luật không còn được thực hiện nghiêm
túc, yêu cầu mở rộng giáo phái cùng với việc ổn định trật tự, chỉnh chu giáo lí được đặt ra.
Chính vĩ thế mà diễn ra ba lần kết tập kinh điển trong vòng trên dưới 100 năm sau khi Phật
nhập Niết Bàn. Như vậy, phải mãi sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, những câu chuyện này
mới thực sự được phát triển và hoàn thiện. Căn cứ vào cách sử dụng ngôn ngữ, cách hành
vãn, những nội dung xã hội, tính chất của các giáo lý được chuyển tải, những học giả đã
kết luận rằng: thời gian ra đời những Jataka này có thể là sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn
khoảng vài chục năm. Tuy nhiên, lataka không phải một sớm một chiều mà thành hình,
đó là cả một quá trình, có thể trải dài từ khi Đức Phật còn tại thế cho đến vài trăm năm sau
khi Đức Phật tịch diệt. Và những tác giả Jataka có thể đã xuất hiện từ thời Đức Phật còn
tại thế bởi: Các Jataka trình bày những cách thức tổ chức tăng đoàn, hình thức sinh hoạt
của tăng chúng, các phương pháp tu tập ở thời kì Đức Phật còn tại thế, mang tính nguyên
thủy của Đạo Phật, chưa có sự phân chia chi nhánh trong Đạo Phật. Một nguyên nhân khác
là chỉ những người sống


9
vào giai đoạn đó mới có thể hiểu một cách thấu đáo những giáo thuyết đương thời mà Đức
Phật truyền dạy, mới có thể có một cách nhìn nhận tình hình xã hội chính xác, mới có thể
nắm vững những nội dung của các tác phẩm văn học dân gian đã hình thành trước khi Phật
giáo xuất hiện và có sự kết dính chúng với những cơ sở giáo lý nhà Phật thành công và
chân thật đến vậy.

được phát triển thành những ngụ ngôn.
Thêm một lí do khác để các Jataka ảnh hưởng đến văn học dân gian ở nhiều nước
là vì tuy là tích Phật nhưng các Jataka vẫn mang đậm hơi thở cuộc sống với những bức
tranh miêu tả cuộc sống thường nhật và thiên nhiên tươi đẹp xung quanh con người cùng
những bài học đạo đức mang tính chất phổ biến và có giá trị bất biến đối với toàn nhân
loại. Học giả Quang Sơn đã có một bài viết đăng trên Tập san Pháp Luân, số 6, tháng 9
năm 2004 là ‘‘Trong cơn


10
nguy khốn biết tình bạn thân ”, nói về sự liên hệ giữa câu chuyện tiền thân Jataka sổ 206,
Tiền thân Kurunga-Miga với câu chuyện ngụ ngôn về tình bạn được đọc trong sách Tập
đọc lớp hai.Cả hai câu chuyện trên đều chứa đựng motif mẹo lừa nhưng trong lúc hoạn
nạn, một bên thì giúp đỡ nhau cùng vượt qua, còn một bên thì bỏ rơi bạn vì sự ích kỉ.
Quảng Kiến cũng có một bài viết với tiêu đề “Từ chiếc bát trong kinh điển Phật giáo đến
chiếc niêu trong truyện cổ dân gian ” cũng cho ta thấy sự vay mượn motif chiếc bát khất
thực của các tu sĩ vào vãn học dân gian. Trong văn học dân gian phương Tây, chúng ta
thấy câu chuyện hai gấu con tranh pho mát rất gần với truyện hai rái cá tranh mồi, chó
rừng hưởng lợi được chép trong Jataka sổ 400. về sau này, người ta còn sử dụng Jataka
làm ngụ ngôn để giáo dục trẻ thơ và để cho cả người lớn suy nghiệm về bản thân, về cuộc
đời với những nghĩ suy thâm trầm hơn. Chứng ta có thể kể đến Jataka tales của Ellen
C.Babbitt. Theo những nghiên cứu đã thực hiện thì Jataka cũng là một trong những nguồn
ảnh hưởng quan trọng đến truyện ngụ ngôn bằng thơ của nhà văn Pháp thế kỉ XVII là La
Fontaine (1621- 1695). Đó là những bài học đạo đức thú vị, nhẹ nhàng mà không khô khan.
Jataka thuộc về vãn học, một loại hình nghệ thuật gắn kết mật thiết với nhiều loại
hình vãn học nghệ thuật khác, và cũng thuộc về di sản tôn giáo, với mục đích truyền giáo.
Vì vậy, Jataka trở thành nguồn cảm hứng sáng tác các tác phẩm tôn giáo khác, trở thành
đề tài cho những lĩnh vực nghệ thuật tôn giáo khác. Những dấu tích văn hóa còn lưu lại ở
Ãn Độ cũng như ở những nước Đạo Phật phát triển đã chứng minh cho luận điểm trên. Đó
là các tác phẩm điêu khắc ở Sanchi, Amaravati tại Ấn Độ vào khoảng thế kỉ m trước công

về các vẩn đề tu tập, thường các Jataka trình bày những trở lực khách quan và chủ
quan khiến cho các đệ tử Phật không thể đạt được thành quả tu tập như: tỳ kheo thối thất
Ụataka sổ 2, sổ 3, sổ 23, số 51, số 55), tỳ kheo bị ái tình cám dỗ Ụataka sổ 30, sổ 61, sổ
106), tỳ kheo nói khoác Ụataka sổ 80), tỳ kheo làm ồn phi thời Ụataka sổ 119), tỳ kheo
uống nước không trong sạch (Jataka số 31), tỳ kheo có nhiều đồ vật Ụataka số 6, so 32),
tỳ kheo đần độn Ụataka số 5), tỳ kheo an lạc Ụataka số 10), tỳ kheo bị ái tình quyến rũ
Ụataka số 13), tỳ kheo tham dục ựataka so 14), tỳ kheo ngang bướng Ụataka sổ 15),...
về các sự kiện Phật giáo: Phần lớn các câu chuyện hiện tại là những chuyện đã
xảy ra trong lịch sử Phật giáo khi Đức Phật còn tại thế. Vĩ vậy, đây là nguồn cung cấp cho
chúng ta những sự việc có vai trò quan trọng; đánh dấu quá trình phát triển và ảnh hưởng
của Phật giáo trong xã hội đương thời. Những sự việc này có thể chứng minh cho sức sống
manh mẽ của Phật giáo, khẳng định đạo hanh của Đức Phật và chư tăng, tín đồ của Ngài.
Hơn thế nữa, đó là những sự kiện dẫn ra để thuyết phục chứng ta rằng bao giờ cái xấu và
cái tốt cũng song song tồn tại nhưng chân lí luôn thuộc về người chính nghĩa và cái xấu
luôn phải chịu những hậu quả đáng tiếc. Chứng ta có thể kể ra đây một số những sự kiện
như thế được kể lại trong Jataka như sau:
Đe-bà-đạt-đa (Devadatta) lập nhiều mưu kế nhằm gây hại cho sinh mạng của Đức
Phật và phá bỏ sự tồn tại của Phật giáo. Trong Jataka số 11, Chuyện con nai Thụy Tướng,
Tiền thân Lakkhana, chúng ta lại được biết đến sự việc Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) thỉnh
nguyện năm điều kiện ngũ tà với Đức Phật nhằm phá hòa hợp tăng vì Đức Phật không trao
chức trưởng giáo cho Đồ-bà- đạt-đà. Kết cục, Đồ-bà-đạt đa đã kéo theo 500 người trong
tăng đoàn bỏ đi. Nhờ Xá Lợi Phất đến nhiếp phục mà những người này đã trở về. Những
việc làm thất đức của Đe-bà-đạt-đa đối với Đức Phật không chỉ diễn ra một lần mà diễn ra
nhiều lần.
Jataka số 95, Chuyện vua Đại Thiện Kiến, Tiền thân Mahasudassana, sự việc
Anan khuyên Đức Phật nên chọn một nơi phồn thịnh như thành Vương Xá hay Xá Vệ để
nhập Niết Bàn chứ không nên chọn Kusãvatĩ, một thành phố nhỏ nằm ở ngoại ô được ghi
lại. Tuy nhiên ở đây, khi kể sự việc này, tác giả Tataka nhằm mục đích thuyết giảng về sự
vô thường. Sự vật nào cũng nằm trong vòng sinh tử. Ngay cả thành phố này cũng vậy,
những kiếp trước, nó là một thành phố hưng thịnh nhưng kiếp này, nơi đây chỉ còn là một

nhân vật gắn liền với sự ra đời, phát triển của Phật giáo. Đó là Đức Phật, người khai mở
tôn giáo này. Đó là một số đại đệ tử của Đức Phật, hàng tôn giả của Đức Phật như: Anan
(Ananda), La Hầu La (Ràhula), Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất (Sàriputta),...Chúng ta có thể
dẫn ra đây một số nhân vật nổi bật được đề cập đến trong các Jataka.
Anan (Ananda): Ngài là đại đệ tử thứ năm đồng thời cũng là người trong thân tộc
của Đức Phật. Tên gọi Ananda có nghĩa là Khánh Hỷ với ý nghĩa đem lại niềm vui cho
mọi người. Ngài là thị giả của Đức Phật, luôn ở bên, hầu hạ chu đáo cho Đức Phật. An an
được xưng tụng là người đa văn đệ nhất bởi vì: ông là người đã ghi nhớ tất cả các bài thuyết
giáo của Phật và các tỳ kheo là đệ tử của Đức Phật (84.000 bài kinh). Chính vì phải dành
thời gian cho việc ghi nhớ này mà mãi đến sau khi Đức Phập nhập Niết Bàn, tôn giả mới
chứng được quả A la hán. Đức Phật ca ngợi năm đức hạnh tốt đẹp ở Anan là: học uyên
bác, trí nhớ tốt, kiên định, săn sóc chu đáo, ứng xử tốt. Có nhiều truyền thuyết kể lại rằng
tôn giả Anan là đệ tử của Phật chuyên giúp nữ giới xuất gia và chịu ưách nhiệm thuyết
giảng cho các tỳ kheo ni. Trong Jataka sổ 92, Chuyện đại bảo vật, Tiền thân Mahasara,
chúng ta cũng thấy có sự việc tôn giả Anan đến giáo hóa cho các cung nữ trong cung của
vua Câu-tát-la (Kosala). Ngoài ra, Anan còn xử lí các việc tranh cãi vừa thông minh vừa
nhân từ. Điều này chứng tỏ đức hanh trí tuệ và từ bi của một vị Bồ Tát. Chúng ta có thể
dùng lời Đức Phật đã


13
nhận định về Anan trong Jataka số 92, Chuyện đại bảo vật , Tiền thân Mahasara để ca
ngợi phẩm chất này của ông: ‘‘nhờ sáng suốt, quảng học và đại trí, Tôn giả A-nan đã
phương tiện tìm lại được viên ngọc bị đảnh mat và giúp nhiều người thoát khỏi nỗi lo sợ
mất mạng”.
La Hầu La (Ràhula): La Hầu La chính là con trai của Đức Phật Thích Ca. Ông
cũng chính là vị sa di đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. La Hầu La được mệnh danh là mật
hanh đệ nhất. La Hầu La nổi tiếng với đức nhẫn nhục. Trong Jataka số 16, Chuyện con nai
cổ ba tư thế nằm, khi không được phép ngủ chung với những vị tỳ kheo, trưởng lão, La
Hầu La đã không đi tìm sự trợ giúp của bất cứ người thân nào mà chỉ lặng lẽ đến nhà vệ

lại”.
Tôn giả Nanda: xuất hiện trong Jataka 182. Vị tôn giả này là em cùng cha khác
mẹ với Đức Phật. Vì ra đi cùng Đức Phật ngay trong ngày cưới của mình nên Nanda luôn
có ý luyến tiếc vợ sắp cưới. Sự việc này được ghi lại ở


14
Jataka sổ 182. Đức Phật đã giúp ông tịnh tấn tinh thần để tu đạo bằng cách cho ông nhìn
thấy cảnh thiên giới mà ông có thể đạt được sau khi tu thành Thánh quả. Chính vì có một
trí tuệ thông minh nên chỉ một lời chỉ bảo ấy thôi, tôn giả đã có thể tự kiềm chế bản thân.
Đức Phật đã khen ngợi Nanda là đệ tử Tiết chế đệ nhất.
Tôn giả Radhà là người đệ tử được Đức Phật ngợi khen là biện tài đệ nhất. Chuyện
về vị đệ tử này đã được nói đến ở Jataka sổ 145. Trong Jataka này, do nhìn thấy việc làm
sai trái của người vợ chủ mình, vị đệ tử này rất khó chịu và lên tiếng phê phán việc phạm
hanh đó. Ở đây, Radhà đã thể hiện được sự khát khao chân lí ở đời.
Nữ Tôn giả Uppaỉàvana (Liên Hoa Sac): vị nữ tỳ kheo này là nhân vật trong nhiều
Jataka khác nhau. Tiền thân của vị nữ tôn giả này thường là các nữ thần. Vốn là người
con gái xinh đẹp, sinh trưởng trong gia đình giàu có nhưng nàng lại vâng theo lời cha mẹ
mà xuất gia. Liên Hoa sắc nổi tiếng với những phép thần thông của mình.
Ngoài ra, chứng ta còn thấy xuất hiện nhiều đệ tử của Phật khác như:Trưởng lão
Sàgota trong Jataka sổ 81, Tôn giả Lakuntala ở Jataka sổ 202, Trưởng lão Làdudàyi khờ
khạo trong Jataka sổ 123, Jataka sổ 211, Jataka sổ 247.
Qua các nhân vật là các đệ tử của Phật,, ta có nhận xét rằng: đệ tử Phật có cả nam
lẫn nữ, có cả già lẫn trẻ, có cả người nghèo lẫn người giàu, có cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Điều
chính yếu là khi đi vào tu tập, họ đã nhận ra con đường giải thoát và rèn luyện, thay đổi
bản thân thành tốt đẹp với những nỗ lực mạnh mẽ.
Đó là các ưu bà tắc và ưu bà di luôn ủng hộ và cúng dường cho Phật:
Nổi bật hơn cả là trưởng giả cấp Cô Độc (Anàthapindika): Tối thắng về bố thí.
Tên thực của ông là Sudatta nhưng do công đức bố thí và cúng dường của ông nên mọi
người gọi ông là Trưởng giả cấp Cô Độc (Anathapindika). Ông là người đã mua lại khu

bày những giới luật của Phật giáo thông qua những bài thuyết giáo và những câu chuyện
thuyết pháp của Đức Phật. Giới luật như một chiếc gương để các đệ tử Phật soi vào mà
sửa mình, lau đi vết dơ trên mặt. Đức Phật không chỉ chú trọng đến giới hạnh của người
xuất gia mà còn đề cập đến cả giới hạnh của những cư sĩ tại gia bởi những bài học cuộc
sống của đạo Phật là những bài học đạo đức mang tính phổ quát cho toàn thể mọi người.
Thêm nữa, những người tu hành chống lại bốn thứ ma là ma phiền não, ma ngũ ấm, tử ma,
thiên ma không bằng một loại vũ khí thực dụng nào mà chỉ bằng việc hành trì giới luật mà
thôi. Do đó, giới luật là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các đệ tử của Phật và luôn
được đề cập đến trong các kinh điển của Phật, trong đó có Jataka. Giới luật được đề cập
trong Jataka là những giới luật trong thời Phật giáo nguyên thủy. Bấy giờ, các giới luật
chưa được ghi chép lại thành Luật tạng mà chỉ được Đức Phật chế định; có những Jataka
còn nêu lên câu chuyện nguyên nhân dẫn đến việc Đức Phật chế định giới luật đó. Thời
gian này, Đức Phật còn tại thế, Ngài còn ở bên canh các tu sĩ để mà dẫn dắt họ trong con
đường tu tập, khuyên ngăn trực tiếp họ khi họ mắc sai lầm. Sau này, Đức Phật tịch diệt, để
duy trì trật tự trong giáo hội và phổ biến những quan niệm về xã hội, về con người, các
giới luật được hệ thống lại như sau: Cực ác Ba-la-di (Pàràjjka) - nếu phạm vào sẽ bị đuổi
khỏi giáo hội; 13 pháp Tăng tàn Tăng-già-bà-thi-sa (Samghà-vasena) - nếu phạm tội phải
sám hối trước tăng, phải được hai mươi vị tỳ kheo giáo hóa để xóa tội; 2 pháp Bất định
(Aniyata) - chỉ liên quan đến giới luật về bất dâm; 30 pháp Xả đọa Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề
(Nissagiya-pàcittiya) - liên quan đến đồ dùng như y, bát, tọa cụ, nếu phạm tội thì phải xả
đồ vật trước tăng; 90 pháp Đơn đoạ Ba-dật-đề (Pàcittiya) - liên quan đến các tội tiểu vọng
ngữ, cố ý sát hại côn trùng, cùng với nữ giới đi chung đường, phạm tội thì bị đọa; 4 pháp
Hối quá Ba-la-đề Đe-xá-ni (Pàtidesanniya) - tôi nhỏ, nếu phạm vào chỉ cần sám hối với
một tỳ kheo khác là được xóa tội; 100 pháp Chúng học Thức-xoa-ca-la-ni (Sikkhà
Karaniya) - chỉ về những quy định trong sinh hoạt hằng ngày, rất dễ bị phạm vào nhưng
vì là tội nhỏ nên chỉ cần tự kiểm điểm bản thân thì có thể xóa tội được rồi; 7 pháp Diệt
tránh (Adhikaramà-samathà) - bảy phương pháp trị tội cũng là cách thức chấm dứt những
tranh cãi về tội lỗi do người tu hành phạm vào. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu những giới
luật cơ bản nhất được đề cập đến trong các Jataka.


về hình thức xuất gia : Đối với nam thì trước khi chính thức thọ giới làm tỳ kheo
phải trải qua thời gian làm sa di. Đây là thời gian để thử thách, học tập. Đến khi người sa
di đủ hai mươi tuổi, được tăng đoàn nhận xét có đầy đủ điều kiện và khả năng, thực hiện
những nghi lễ cần thiết thì mới chính thức trở thành tỳ kheo. Trong Jataka so 16, Chuyện
con nai có ba tư thế nằm, La Hầu La là một sa di, một người chưa thọ giới nên không thể
ngủ chung với các tỳ kheo. Nếu các tỳ kheo vẫn cho ngủ chung thì sẽ phạm vào tội Badật-đề (Pãcittiya, Đoạ tội, tội cần phải sám hối trước Tăng chúng). Đối với nữ, cũng tương
tự như trên nhưng cần thêm một điều kiện nữa là nếu đã có chồng thì phải được chồng
đồng ý cho xuất gia. Chính vì thế mà trong Jataka sổ 12, Chuyện con nai Ni-câu-lưu-đà,
Tiền thân Nigrodhamiga, mẹ của Trưởng lão Cưu-ma-la-ca-diếp (Kumarakassapa), con
gái của phú thương Vương-xá (Räjagaha), dù có ý nguyện xuất gia tu đạo từ nhỏ nhưng cô
vẫn phải kết hôn vỉ


17
cha mẹ không cho phép xuất gia; đến khi có chồng thì chỉ đi tu khi đã được chồng cho
phép mà thôi.
về sự tôn trọng, hòa hợp trong tăng đoàn: đây là một yêu cầu cần thiết để giữ vững
sức mạnh của tập thể đồng thời thể hiện quan niệm đối nhân xử thế của Phật giáo. Việc
phá hòa hợp trong tăng đoàn bị xem là một trong bốn tội nặng nhất cần bị xử phạt bằng
hình thức trục xuất khỏi tăng đoàn, vấn đề này đã được đề cập đến hết sức sinh động và
sâu sắc trong Jataka số 37, Chuyện con chim trĩ, Tiền thân Tittira. Bằng câu chuyện kể về
sự kính trọng và nhường nhịn nhau của ba con vật gà gô, khỉ và voi, Đức Phật đã dạy cho
các tỳ kheo bài học về sự tôn trọng và kính nhường nhau; hơn nữa, cần phải nghênh tiếp,
đảnh lễ và phục vụ những bậc trưởng lão lớn tuổi. Từ đó mà định ra giới luật cho các tỳ
kheo rằng: “người lớn tuổi phải được tôn trọng, kinh lễ và xứng đáng được phục vụ. Người
lớn tuổi sẽ được trú xứ tốt nhất, nước uống tốt nhất và đồ ăn tốt nhất, và đứng bao giờ để
cho người ít tuổi giành lẩy cho ở của người lớn tuổi. Những ai tranh giành sẽ bị phạm tội.
Ngoài ra, đối với vị đạo sư hoặc trưởng lão của mình, đệ tử cần phải đứng dậy chào khi
thầy đến. Chính vì “Khi các Trưởng lão cao niên nhất đến gần, chàng(Bhaddaji) vẫn
không đứng dậy, nhưng khi bậc Đạo Sư đến thì chàng đứng lên ngay ” nên các trưởng lão

những tác hại của rượu đối với mọi tầng lớp trong xã hội, đối với
nhiều cảnh huống cuộc sống. Từ sự phạm giới này mà dẫn đến
hàng loạt những tội ác, những sai phạm khác.
về việc rèn luyện bản thân : nhẫn nhục, tự kiềm chế, thận trọng và tinh tấn. Trong
Jataka sổ 394, Chuyện chim cút, Tiền thân Vattaka, chúng ta thấy có đề cập đến lối sống
trang nghiêm, tránh kiểu cách phóng túng trong sinh hoạt, trong ăn uống nằm ngồi; phải
biết đủ mới có thể sống an nhàn được; phải biết kiềm chế lòng ham muốn của mình để
không phải sợ hãi.
Bon ác hạnh mà nhà Phật luôn luôn khuyên bảo tín đồ của mình nên tránh được
trình bày một cách ngắn gọn trong một bài kệ ở Jataka so 431 như sau:
“4. Bon ác dục này ở thế gian Uy quyền lẩn áp cứ lan tràn:
Tham, sân, vô độ và si ám,
Tri kiến không sao đứng vững vàng. ”
về cơ bản, Phật dạy tỳ kheo phải chọn cuộc sống thanh bần về vật chất, giữ lấy sự
đơn sơ, giản dị; chỉ đi xin của tín thí mà ăn, không giữ lại bất cứ món gì làm của riêng, có
như vậy mới không đắm mê vật chất, không bị trói buộc vào tham dục thể xác.
Thứ tư, nội dung tôn giáo còn được thể hiện ở không gian trong Jataka. Đó là
những địa điểm gan liền với sự ra đời và phát triển của Phật giáo như tinh xá Kì Viên,
tinh xá Trúc Lâm, núi Thứu Lĩnh, về tinh xá Trúc Lâm và Kì Viên, chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ
hơn ở phần sau. về núi Thứu Lĩnh, địa danh này đã được đề cập trong Jataka số 164,
Chuyện chim kên kên, Tiền thân Gijjiha: Núi Thứu Lĩnh có tên khác là Thứu Phong sơn
hoặc Thứu Đầu Sơn, phiên âm Phạn là Kỳ - xà - quật. Thứu là chim kên kên hay còn gọi
là diều hâu, ó. Vậy núi Thứu Sơn có nghĩa là núi có hình như con chim ó. Núi này nằm
gần thành Vương Xá, phía Bắc Ấn Độ. Người đời thường cho rằng đây là nơi ở của thánh
nhân. Truyện nhà Phật viết rằng: Đức Thích Ca sinh thời tới núi Thứu Lĩnh dùng thần lực
3 lần biến đổi uế độ thành Tịnh độ. Ngài đã đén đây nhiều lần để giáo hóa dân chúng. Ngọn
núi này đã trở thành một điển cố trong văn học Phật giáo của Trung Hoa và Việt Nam.
Jataka số 16, Chuyện con nai có ba tư thế nằm, Tiền thân Tỉpallatthamỉga lấy địa
điểm là điện A-già-la-bà (AggãỊava), tinh xá Bạt-đà-lợi (Badarika), thành A-la-tì (AỊati)ở
nước Kiều-thưởng-di (Kosambĩ). Đây là nơi Đức Phật đã trú lại trong bốn mùa mưa , một

ẩn cư, hoặc thành tâm tu tập mà ngộ đạo, khiến cho những loài sinh vật quanh đó kính nể;
hoặc còn chưa vứt bỏ được những tham dục gây ra những tội ác sát sinh, giả dối khiến các
loài vật tránh xa.
Thứ năm, nội dung tôn giáo thể hiện qua cách thức tổ chức và những sinh hoạt
Phật giáo ở các tịnh xá được lấy làm chi tiết trong các Jataka. Tổ chức Tăng, hay Tăng
già do tiếng Phạn là Sangha mà ra. Đó là chỉ chung cho giáo hội, tập hợp tất cả những đệ
tử của Phật đã xuất gia và thọ trì đủ giới luật. Theo thứ tự và vị trí, Tăng đoàn đệ tử Phật
có bảy chúng: Tỳ kheo (Bhiksu), Tỳ kheo ni (Bhiksun), Thức xoa ma ni (Siksamànà), Sa
di (Sràma), Sa di ni (Sràmanerikà), Ưu bà tắc (Upàsaka), Ưu bà di (Upàrikà). Đây là một
tổ chức mang tính chất thống nhất, bình đẳng giữa mọi thành viên không phân biệt giới
tính, tuổi tác, điạ vị xã hội và có mục tiêu tối cao là đem lại giác ngộ cho mọi thành viên.
Khác với những người thế tục, những đệ tử xuất gia phải đạt được trí tuệ giải thoát ngay ở
đời hiện tại. Ngoài ra còn có các cư sĩ tại gia. Các chư tăng có thể hội họp nhau lại để phán
xét các trường hợp phạm lỗi, khuyên răn, khuyến khích lẫn nhau. Vĩ có ý thức tu tập nên
dù tập hợp rất nhiều người nhưng ở đông mà Tăng vẫn rất yên lặng, trật tự. Trong lúc tu
tập, có người mềm lòng, thối chí đều được tập thể nâng đỡ để vượt qua, còn bị sai phạm
dù vô tình hay cố ý đều được tập thể phán xét phân minh và chỉ cho đường ngay nẻo chính
mà đi. Những sai phạm chủ yếu được xử lí dựa vào tinh thần tự giác, sám hối của người
phạm lỗi. Khi Phật vừa thành Đạo, sáng lập giáo hội tăng


20
già, vĩ số tăng sĩ còn ít và Đức Phật còn ở bên canh để uốn nắn chỉ dạy nên chưa cần đến
giới luật. Những việc đúng sai nên hay không nên vị tăng có thể trực tiếp thưa hỏi Phật.
Neu có ai không biết mà làm việc không phải cũng có Phật ngăn cản dạy dỗ. Chứng ta có
thể dẫn ra đây một số nét chính như sau:
Lệ An cư kiết hạ'. Việc ẩn trú chờ cho hết mùa mưa này, Bà-la-môn giáo gọi là
Dhruvasìla, Kỳ-na giáo gọi là Pajjusama, và Phật giáo gọi là Vassa . Đó là một lối sinh
hoạt của tăng già vào mùa mưa, tức khoảng từ tháng bảy đến tháng mười một ở Ản Độ.
Trong bốn tháng này, cả tăng già chỉ ở yên một chỗ, thực hiện thiền định và chỉ nhận vật

xuất gia lẫn người thế tục. về quy chế, người xuất gia tu hành không được tham gia những
chuyện thế tục nhưng việc phụng dưỡng cha mẹ được Đức Phật xem là một trong những
việc làm thể hiện sự trí tuệ của con người. Người có trí sẽ biết việc gì nên làm, việc gì
không nên làm. Đồng thời, hiếu thảo với cha mẹ cũng là một việc làm thể hiện sự biết ơn
sâu sắc đối với người


21
đã mang lại sự sống cho mình, nuôi dưỡng mình. Bài học này đã được nói đến trong nhiều
Jataka, ở cả câu chuyện hiện tại lẫn câu chuyện quá khứ. Những câu chuyện này khiến
người ta phải xúc động vĩ ở đó người ta thấy sự nhân đạo, chất nhân vãn của con người
nói chung. Đó là câu chuyện Lộc vương Hoan Hỷ (tiền thân của Đức Phật) đã hi sinh thân
mình để cứu cha mẹ khỏi mũi tên của vua, vì thế mà làm nhà vua xúc động, chấm dứt sát
sinh còn Lộc vương thì được sống an vui cùng cha mẹ ở Jataka sổ 385, Chuyện Lộc vương
Hoan Hỷ, Tiền thân Nandiyamiga. Những yếu tố thể hiện chính của lòng hiếu thảo được
đề cập đến trong các Jataka là: săn sóc cha mẹ khi họ về già (chăm lo ăn uống cho cha mẹ
như trong Jataka số 540). Ngoài ra, việc giữ gìn nghề nghiệp hoặc chức vụ truyền thống
của gia đình cũng được xem là biểu hiện của lòng hiếu thảo, như trong Jataka sổ 100, Bồ
Tát tái sinh làm một vị vua Ba la nại, con của Ngài (tiền thân của Sivali ) đã vây hãm thành,
lấy lại được vương quốc, như vậy cũng có thể nói là hoàng tử đã tỏ được lòng hiếu thảo.
Bên canh đó, việc chăm lo tang lễ chu đáo cho cha mẹ cũng được Phật giáo xem là một
hành động cần thiết để tỏ lòng hiếu thảo.
Ngược lại, cha mẹ cũng cần hoàn thành bổn phận của mình đối với con như: một,
dạy cho con một nghề. Chẳng hạn như trong Jataka sổ 60, người cha của Bồ Tát làm một
người thổi tù và trong các lễ té sao, người này đã truyền lại nghề này cho con trai mình là
Bồ Tát. Hai, phải cho con thừa hưởng gia tài và chức vụ khi đến lúc. Vỉ vậy, việc làm của
khỉ chúa (tiền thân của Đe-bà-đạt-đa) trong Jataka số 58 là không hợp lí chút nào. Dù đã
đến tuổi già nhưng khỉ chúa không hề có ý định nhường quyền lãnh đạo cho con, hơn nữa,
vì sự ích kỉ của mình mà khỉ chúa đã lập mưu giết con mình. Ba, phải chọn nơi dựng vợ,
gả chồng xứng đảng cho con. Bon, cha mẹ phải khuyên răn, ngăn cản con khi con làm

7, Chuyện cô gái lượm củi, Tiền thân Katthahàrỉ, nhà vua đã khinh thường người vợ của
mình vì nàng chỉ là một cô gái lượm củi, đã không nhìn nhận con trai của mình vì sự ích
kỉ. Đó là việc làm sai trái đã được Đức Phật hướng dẫn.
Trong quan hệ giữa người cao quý và những tu sĩ, ẩn sĩ cũng được các Jataka
hướng dẫn. Đó là những bậc cao quý như vua chúa, quan lại, trưởng giả phải nói lời dịu
dàng, làm việc cứng dường, cử chỉ hiền hòa và trân trọng đối với ẩn sĩ, tu sĩ. Chính vì thê,
trong nhiều Jataka, chứng ta thấy ngay cả nhà vua cũng phải có thái độ tôn trọng và kính
dường đối với ẩn sĩ.
Trong quan hệ giữa đồ dệ và tôn sư, chúng ta thấy có những mẫu mực ững xử như
sau: người đệ tử phải chú ý lời dạy của thầy, săn sóc thầy, kính trọng thầy. Những công
việc mà người đệ tử phải làm cho thầy được kể khá rõ trong Jataka số 321: chuẩn bị nước
tắm cho thầy, chuẩn bị nước súc miệng cho thầy, dọn dẹp phòng cho thầy trước khi mời
thầy nghỉ, mời thầy ăn trước khi dùng bữa...
Trong quan hệ với những người xung quanh, đạo Phật chú trọng vào những phẩm
chất đạo đức và những việc làm xã hội sau:
Một, hạnh bố thỉ. Một trong những đức hanh cần thiết của con người trong sinh
hoạt thường ngày là hạnh bổ thỉ. Bố thí là một trong lục độ, giúp con người có thể tích
đức để có thể đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn vào thời vị lai. Chiếc bát và chiếc gậy
đã trở thành những vật dụng gắn liền với đời sống của một tu sĩ. Truyền thống truyền y bát
cũng xuất phát từ ý nghĩa của hai vật dụng này. Chiếc bát là nơi chứa đựng những vật
phẩm do dân chúng cúng dường. Chiếc bát còn là nơi chứa đựng những công đức của tín
chú, thể hiện tuệ năng và đức hạnh của người sa môn. Trao đồ vật vào chiếc bát ấy thì sẽ
nhận lại phước đức cho mình. Có thể nói bố thí là một hình thức để tích đức và một phương
thức để dẹp bỏ lòng tham. Đó chính là ý nghĩa của việc bố thí vậy. Trong các Jataka, hanh
bố thí luôn được đề cao. Đó có thể là công đức của Bồ Tát trong những tiền thân. Jataka
số 40, Chuyện Hố than lửa cây keo, Tiền thân Khadirangàra ghi lại câu chuyện tiền thân,
khi Đức Phật là một vị Bà la môn, Ngài đã thực hiện việc bố thí rộng rãi. Dù bị ác quỷ cản
trở nhưng Ngài vẫn thực hiện việc thiện của mình. Hoặc trong Jataka số 77, Chuyện tượng
vương đức hạnh, Tiền thân Sìỉavanàga , Đức Phật là một con voi và con voi này đã bố thí
cho một kẻ biếng làm, quên ơn cả hai ngà của mình rồi đến chân ngà của mình. Đó có thể

số 24, Chuyện con ngựa tốt, Tiền thân Ajañña. Trong cả hai câu chuyện trên, về thời quá
khứ, Đức Phật đều hiện sinh là một con ngựa chiến dũng mãnh. Khi chiến trận đã qua đi,
Bồ Tát dù phải mất mạng vì cuộc chiến nhưng vẫn cầu xin nhà vua tha chết cho bảy vị vua
mang quân xâm chiếm đất nước. Việc làm này khiến người ta phải cảm động và khiến kẻ
thù phải cảm thấy xấu hổ trước tấm lòng nhân đạo cao cả.
Bổn, trong Jataka cũng có đưa ra hai mươi mốt kế sinh nhai phi pháp mà con
người không nên làm; sự chỉ dẫn này gắn với sự tu tập trong cuộc sống đời thường. Nội
dung này được đề cập khá rõ ràng trong Jataka sổ 179, Jataka sổ 237. Đó là các nghề như
thầy thuốc, đổi đồ khẩn tế, đánh cá, đi săn,...
Quan trọng hơn là thái độ đối với cá nhân moi người. Đức Phật luôn đề cao ý chí
kiên định và thái độ thận trọng đối với người và việc. Jataka sổ 26, Chuyện con voi Nữnhan, Tiền thân Mahilamukha là bài học về sự dễ dãi, không có ý chí vững vàng. Vì những
phẩm không tốt ấy mà một vị tỳ kheo đã để cho bạn mình dẫn dắt đi theo con đường tà đạo
của Đề-bà-đạt-đa, phản bội lại niềm tin vào Phật giáo, cuối cùng phải hối cải về những
việc đã làm, những điều đã nghĩ.


24
Bên canh đó, các Jataka còn góp phần thể hiện quan niệm của Phật giáo về sự
giải thoát. Trong các Jataka, Đức Phật khi kể một câu chuyện tiền thân thường hướng
đến một đối tượng đệ tử nào đó hoặc xuất gia hoặc tại gia nhằm giúp họ nhận ra con đường
giải thoát. Kết thúc mỗi câu chuyện, chứng ta thấy có một số vị đạt được các Thánh vị.
Trong đạo Phật có bốn Thánh vị như sau: Dự lưu quả (Suratapanna phata); Nhất
lai quả (Sarkdàgàmin phata); Bất lai quả: (Anagàmin phata); Vô học quả (Arhat phata)
(Xem bảng 1, phần phụ lục).
Quan trọng hơn cả là quan niệm về vô thường, luân hồi và nghiệp báo.
về vô thường, Vô thường có ý chỉ mọi sự vật đều luôn luôn biến hóa không ngừng,
không có cái gì là bất biến, không có cái gì là hằng cửu. Người có sinh có tử, hoa có nở có
tàn. Từ đó dẫn đến quan niệm cho rằng mọi cái hiện hữu đều mang tính tạm bợ cả, không
có gì tồn tại độc lập nó. Neu không nhận thức được những điều đó, con người sẽ rơi vào
sự khổ vỉ lòng tham đắm và sự vô minh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status