Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
LỜI CẢM ƠN.
Lời đầu tiên tác giả xin gởi lời cảm ơn đến thầy cô Khoa Kinh tế, thầy cô trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tụy truyền cho tác giả nguồn kiến thức sâu rộng để làm nên Khóa
luận.
Và hơn hết, tác giả xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thành Đức đã không ngại thời
gian quý báu chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên tác giả hoàn thành Khóa luận này.
Khóa luận hoàn thành còn nhờ sự giúp đỡ tận tình của các anh, chị Công ty Luật TNHH Sài Gòn
Luật, của bạn bè - những người luôn sát cánh với tác giả trong thời gian qua. Xin chân thành cảm
ơn tất cả.
Với điều kiện thời gian cho phép, khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế ắt hẳn
Khóa luận sẽ có nhiều thiếu sót. Nhưng với sự nghiên cứu nghiêm túc, sự đam mê tìm tòi tác giả
hy vọng đóng góp ý kiến nhỏ bé vào sự phát triển chung của nền khoa học pháp lý nước nhà. Rất
mong nhận được sự lượng thứ, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô, những người đi trước và những
anh chị, độc giả quan tâm đến đề tài này.
Sinh viên thực hiện
ĐỖ THỊ THÌN.
Đỗ Thị Thìn
Trang 1
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
LỜI NÓI ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài.
Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường, CTCP có một vị trí trung tâm và là một
Đề tài tập trung nghiên cứu về quy chế xác lập tư cách của cổ đông, quyền và nghĩa vụ của
cổ đông, và chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP theo quy định của Luật Doanh nghiệp
và từ đó có một số vấn đề liên hệ với các văn bản pháp luật khác.
4.
Đỗ Thị Thìn
Phương pháp nghiên cứu.
Trang 2
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng
hợp, duy vật biện chứng…hy vọng chia sẻ cùng độc giả mối quan tâm về đề tài này.
KẾT CẤU ĐỀ TÀI:
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: Khái quát về CTCP và cổ đông trong CTCP.
CHƯƠNG II: Xác lập và chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP.
CHƯƠNG III: Quyền và nghĩa vụ của cổ đông CTCP.
CHƯƠNG IV: Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về cổ đông CTCP.
Đỗ Thị Thìn
Trang 3
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
: Cổ đông ưu đãi.
: Cổ đông sáng lập.
: Đại hội đồng cổ đông.
: Hội đồng quản trị.
: Ban kiểm soát.
: Luật Doanh nghiệp năm 2005.
: Luật Đầu tư năm 2005.
: Bộ luật Dân sự năm 2005.
: Luật Chứng khoán năm 2006.
: Nghị định 139.
Trang 4
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT.....................................................................4
IKhái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành CTCP.
.......................................................................................................................................4
1 Khái niệm và đặc điểm CTCP.
..............................................................................................................................4
1.1Khái niệm CTCP.
...................................................................................................................4
1.2.Đặc điểm CTCP...............................................................................................4
2 Lịch sử hình thành CTCP.
..............................................................................................................................6
IICổ phần, cổ phiếu, trái phiếu trong CTCP.
.......................................................................................................................................7
............................................................................................................................18
4. Xác lập tư cách cổ đông thông qua các hành vi giao dịch khác.
............................................................................................................................19
Đỗ Thị Thìn
Trang 1
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
II. Chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP.
.....................................................................................................................................21
CHƯƠNG III: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỔ ĐÔNG TRONG
CTCP......................................................................................................23
I. Quyền và nghĩa vụ của CĐPT trong CTCP.
.....................................................................................................................................23
1. Quyền của CĐPT.
............................................................................................................................23
1.1 QUYỀN TÀI SẢN. Bao gồm các quyền sau:...............................................23
1.2 QUYỀN NHÂN THÂN.
.................................................................................................................32
3.Nghĩa vụ của CĐPT. ................................................................................................42
LDN cho cổ đông nhiều quyền xứng đáng với sự đầu tư của họ thì cũng có một số
nghĩa vụ nhất định buộc họ phải thực hiện. Theo quy định tại Điều 80 LDN,
CĐPT có các nghĩa vụ sau:................................................................................42
II.Quyền và nghĩa vụ của CĐUĐ trong CTCP.....................................................................42
1. Cổ đông ưu đãi biểu quyết.
............................................................................................................................43
Trang 2
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
1.4 Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần.
.................................................................................................................51
1.5. Quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ.
.................................................................................................................51
1.6. Quyền cầm cố cổ phần.
.................................................................................................................51
2. Kiến nghị về nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP....................................................52
Đỗ Thị Thìn
Trang 3
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT
VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ ĐÔNG CÔNG TY CỔ PHẦN.
I
Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành CTCP.
1
Khái niệm và đặc điểm CTCP.
1.1
Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập.
Pháp luật về công ty của các nước đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của CTCP với tư cách là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tư cách
chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty. CTCP chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của chính công ty, là
nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại Tòa án thông qua
người đại diện của mình. Cổ đông là chủ sở hữu CTCP và có một số quyền lợi như:
1
Nguyễn Ngọc Bích, “Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần”, NXB Trẻ, trang 26.
Đỗ Thị Thìn
Trang 4
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
quyền tham gia quản lý điều hành, quyền được chia cổ tức, quyền được chia tài sản
theo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể … nhưng cổ đông chỉ được sở hữu cổ
phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty.
Trong khi đó, CTCP với tư cách là một pháp nhân có quyền sở hữu toàn bộ tài sản
riêng của công ty.
Cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn.
Khi một cá nhân hay tổ chức chuyển dịch vốn của mình vào CTCP trở thành tài sản
thuộc sở hữu CTCP, cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ
việc góp vốn nhưng cũng có thể mất chúng khi công ty giải thể hoặc phá sản. Vốn
thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ
số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa
vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình.
Đỗ Thị Thìn
Trang 5
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
không thuộc dạng bị cấm góp vốn vào CTCP và chỉ cần nắm giữ ít nhất một cổ phần
của CTCP. Mặt khác, CTCP có thời gian tồn tại vô hạn nên việc phát hành chứng
khoán để huy động vốn và mở rộng quy mô công ty là điều hết sức dễ dàng.
Cơ chế quản lý tập trung cao.
CTCP không phải là sự tập hợp đơn thuần của cổ đông mà là một thực thể thống nhất
có tổ chức chặt chẽ. Bản thân công ty là một pháp nhân độc lập với đầy đủ quyền và
nghĩa vụ của mình nhưng không thể quyết định được ý chí của mình hay tự mình
hành động như một thể nhân. Vì vậy, mọi hành động của CTCP phải được thực hiện
thông qua một cơ quan quản lý riêng biệt. Điều đó dẫn đến sự tách biệt giữa những
người sở hữu cổ phần và những người điều hành. Sự tách biệt này giúp tiết kiệm chi
phí của việc ra quyết định và để đảm bảo rằng các nhà quản lý không đi ngược lại lợi
ích của mình. Các cổ đông thành lập ra bộ máy, cơ chế để quản lý, kiểm soát những
hành vi cơ hội chủ nghĩa của các cổ đông nắm quyền kiểm soát hoặc là đối với các cổ
đông khác, hoặc là đối với các đối tác khác liên quan đến công ty như chủ nợ hay
người lao động. Nó mang đến cho cổ đông thiểu số hay các thành phần khác như
người lao động và chủ nợ một phương tiện tiếp cận thông tin đáng tin cậy hay tham
gia trực tiếp vào việc ra quyết định của công ty. Rõ ràng, việc tách bạch giữa sở hữu
và quản lý như vậy vừa thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp được công
ty thuê làm công tác quản lý, vừa tạo ra được sự quản lý tập trung cao thông qua cơ
chế quản lý hiện đại nhằm phát huy tính hiệu quả, công khai, minh bạch, góp phần
bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn và cải thiện sức cạnh tranh cho chính bản thân doanh
nghiệp.
Với những đặc điểm nổi bật, CTCP đã trở thành hình thức tổ chức doanh nghiệp
phục hồi là đế quốc của các thương gia tại Ý và công ty cùng các guild (phường hội)
được chính quyền cấp phép tại miền Bắc Châu Âu.
Bắt đầu từ đó, hình thức lập hội, lập các tổ chức dạng như công ty phát triển liên tục
dưới nhiều hình thái khác nhau qua các thời kỳ tại các vùng lãnh thổ khác nhau.
Trong các thời kỳ này, nền kinh tế thị trường phát triển cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của CNTB, nhu cầu hùn hợp vốn và liên kết của các nhà buôn nhỏ lẻ trước sự
chèn ép của các nhà tư bản là tất yếu và ngày càng trở nên phổ biến dưới nhiều
phương thức. Mầm mống hình thành CTCP đúng như C.Mac nhận định: “Ngay trong
buổi đầu của nền sản xuất TBCN một số ngành sản xuất cũng đòi hỏi một số tư bản
tối thiểu mà lúc bấy giờ từng cá nhân riêng lẻ chưa thể có được, tình hình đó mặc
nhiên dẫn đến Nhà nước phải trợ cấp cho những tư nhân như ở Pháp dưới thời CônBe, như là một số công quốc cho tới nay. Mặt khác, nó dẫn đến việc thành lập một số
hội nắm giữ độc quyền do pháp luật thừa nhận để kinh doanh trong những ngành
công nghiệp và thương nghiệp nhất định. Đó là tiền thân của Công ty cổ phần hiện
đại”4
Ở Việt Nam, nhu cầu hội người, hội vốn, hội các làng nghề giữa các gia đình nhà
buôn truyền thống với những kẻ thực dân, giữa các tầng lớp nhỏ bé, yếu thế với nhau
đã xuất hiện từ lâu và là nhu cầu tất yếu để tạo nên sức mạnh tập thể. CTCP cũng vì
lẽ ấy đã có một truyền thống âm thầm từ hơn một thế kỷ nay ở nước ta. Thế nhưng do
những biến động chính trị, do phụ thuộc vào kinh tế kế hoạch nên “cái mầm mống ấy
sớm héo hon”. Mãi đến cuối thập niên 1980, nền kinh tế kế hoạch mới đến hồi kết và
nhường đường cho một sắc luật của nền kinh tế thị trường ra đời. Trên cơ sở nghiên
cứu các tài liệu về Luật Kinh tế chế độ cũ (như Luật thương mại Trung phần ban
hành thời Pháp, áp dụng cho miền Trung; Luật thương mại của chế độ cộng hòa...),
một số tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp nghiên cứu về luật công ty của một số quốc gia
tư bản....Luật Công ty năm 1990 đã mở màn tái khám phá ra CTCP. Lần đầu tiên
trong lịch sử chế độ xã hội chủ nghĩa ở VN, kinh tế tư nhân được thừa nhận về mặt
pháp lý. Mười năm sau, đạo luật đơn sơ ấy đã được thay đối bởi LDN năm 1999, và
ngày nay, LDN năm 2005 dành hẳn một chương với các quy định khá cụ thể để nói
về CTCP – một hình thức kinh doanh đem lại nhiều thành công cho nền kinh tế và
ngữ “cổ phần” được hiểu theo các cách khác nhau nhưng bản chất của nó vẫn thể hiện
quyền sở hữu đối với CTCP.
Ở Philippin, Singapore, Malaixia…phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn
tư nhân hoặc các công ty đóng và các công ty công cộng đều được coi là cổ phần. Cổ
phần ở các công ty này chỉ khác nhau là có được chào bán ra công chúng và có được
niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán hay không. Ở các quốc gia này, cổ phần được
xem như là đơn vị để phân chia quyền sở hữu của công ty và mỗi cổ phần có thể gồm
nhiều cổ phiếu có giá danh nghĩa như nhau.
Ở Việt Nam, và một số quốc gia khác trên thế giới cổ phần là phần chia nhỏ nhất và
bằng nhau của vốn điều lệ 6, là từ “tượng trưng” cho quyền sở hữu của cổ đông và
được cụ thể hóa bằng một cổ phiếu. Quyền sở hữu này dù chỉ là một phần cũng cho
phép người sở hữu cổ phần những đặc quyền nhất định, thường là: hưởng một phần
tương ứng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, thông qua phần chia lãi sau thuế,
quyền được tham gia quyết định kinh doanh quan trọng trong các phiên họp thường
niên hay bất thường, và sức mạnh quyền này tỉ lệ với số cổ phần nắm giữ (???),
quyền được tiếp tục tham gia đóng góp vốn khi doanh nghiệp phát hành bổ sung các
cổ phần mới, hoặc phát triển các dự án mới cần gọi vốn và một số quyền khác tùy
theo qui định pháp luật.
Các loại cổ phần.
CTCP phải có cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi là loại cổ phần không bắt buộc phải
có trong CTCP, bao gồm: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần
ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
LDN không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là “CPPT” nhưng căn cứ vào quyền và
nghĩa vụ của người nắm giữ nó CPPT được hiểu là loại cổ phần có thu nhập không ổn
định, cổ đông nắm giữ CPPT được trả cổ tức hàng năm tùy thuộc vào hoạt động kinh
doanh của công ty và có những quyền cơ bản nhất như biểu quyết, tham gia bầu cử và
ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty, chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc
phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình.
LDN cũng không đưa ra khái niệm chung cho “CPUĐ” mà mỗi CPUĐ đều có khái
niệm riêng và đem lại cho người nắm giữ những quyền đặc biệt. Thực chất, CPUĐ có
không có nhu cầu quản trị, dù họ sở hữu một lượng lớn cổ phần đã phát hành, lựa
chọn loại cổ phần này chủ yếu để nhận cổ tức. Các chủ thể này sẵn sàng hy sinh
quyền bầu cử, ứng cử để lựa chọn CPUĐ cổ tức vì mức cổ tức hấp dẫn của nó.
Cổ phần ưu đãi hoàn lại, theo khoản 1 Điều 83 LDN, là “cổ phần được công ty hoàn
lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện
được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại”. CPUĐ loại này cũng là một
trong những công cụ huy động vốn hữu hiệu của CTCP, đặc biệt là khi công ty cần
gấp một khoản vốn lớn để giải quyết những công việc cụ thể. Có thể nói, đây cũng là
một khoản vay của CTCP trong quá trình hoạt động của mình, chỉ khác là công ty
không phải trả lãi cho người nắm giữ nó và quyền ưu tiên nhận tài sản còn lại của
CTCP phải xếp sau người nắm giữ trái phiếu sau khi công ty giải thể hoặc phá sản
(nếu có).
Ngoài ba loại CPUĐ mà LDN dự liệu như đã phân tích thì CTCP còn có thể có một
số loại CPUĐ khác tùy thuộc vào Điều lệ quy định. Thậm chí, CTCP có thể chỉ phát
hành các loại CPUĐ khác do Điều lệ công ty quy định mà không nhất thiết phải bao
gồm ba loại cổ phần nêu trên. Tham khảo pháp luật của Singapore, Thai Lan,
Malaisia, Philippin các CPUĐ khác bao gồm8:
Cổ phần ưu đãi dự phần được chia cổ tức. Sau khi đã nhận được cổ tức ưu đãi, các
CĐUĐ dự phần được chia thêm cổ tức mà các CĐPT được hưởng trong phạm vi quy
định trong bản điều lệ công ty.
Cổ phần ưu đãi dự phần khi thanh lý. Sau khi đã nhận được tài sản thanh lý theo phần
ưu đãi khi công ty giải thể, các CĐUĐ dự phần được nhận thêm tài sản phân chia cho
các CĐPT trong phạm vi được quy định trong bản điều lệ.
Cổ phần ưu đãi không dự phần. Được ưu đãi về cổ tức nhưng không được dự phần
vào việc chia thêm tài sản thanh lý hay cổ tức thường.
Cổ phần ưu đãi phức hợp. Các cổ phần ưu đãi có thể được phát hành có kèm theo các
quyền như “các cổ phần ưu đãi không dự phần, không bầu cử”, “các cổ phần ưu đãi
có thể mua lại được hoặc có thể chuyển đổi”, hoặc “các cổ phần ưu đãi có thể mua lại
8
quyền sở hữu cổ phần của cổ đông, trong trường hợp cổ phiếu tồn tại dưới dạng bút
toán ghi sổ thì bút toán ghi sổ đó là cơ sở để xác định phần quyền sở hữu của cổ
đông.
Thông thường các CTCP đều phân cổ phiếu thành “cổ phiếu thường” và “cổ phiếu
ưu đãi”. Cách phân chia này tồn tại từ trước đến nay và hầu như thống nhất như nhau
ở các nước phát triển.
Cổ phiếu thường ghi nhận cổ đông nắm giữ có quyền hạn và trách nhiệm cơ bản như:
được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh, được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy
quản trị và kiểm soát công ty, chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng
với phần vốn góp của mình.
Cổ phiếu ưu đãi bao gồm CPUĐ biểu quyết, CPUĐ cổ tức, CPUĐ hoàn lại ghi nhận
CĐUĐ sẽ được ưu đãi hơn CĐPT trong một số quyền như nhận cổ tức với mức ưu
đãi, tỷ lệ biểu quyết cao hơn, được hoàn lại cổ phần nhưng đồng thời cũng bị hạn chế
một số quyền như: không được tự do chuyển nhượng cổ phần, không có quyền bầu
cử, ứng cử…
2
Trái phiếu trong CTCP.
9
“Chứng khoán và thị trường chứng khoán – kinh nghiệm của các nước trên thế giới”, Viện Khoa học tài chính, Hà
Nội 1991, trang 75.
Đỗ Thị Thìn
Trang 10
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
Khái niệm, đặc điểm cổ đông trong CTCP.
1.1
Khái niệm cổ đông.
Một trong những đặc trưng của CTCP là tính đa dạng hóa chủ sở hữu và khả năng tự
do chuyển nhượng cổ phần nên CTCP là một công cụ thu hút vốn từ đại chúng rất
hữu hiệu. Người mua cổ phần sẽ được gọi là cổ đông. LDN quy định một cách rõ
ràng rằng cá nhân hay tổ chức góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh được
gọi là “thành viên”, riêng cá nhân hay tổ chức mua cổ phần của CTCP được gọi là
“cổ đông”. Về bản chất họ đều là thành viên của doanh nghiệp và tên gọi như thế nào
chỉ là căn cứ để phân biệt họ là thành viên của loại hình doanh nghiệp nào.
Đỗ Thị Thìn
Trang 11
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
Theo định nghĩa tại khoản 11 Điều 4 LDN thì cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ
phần đã phát hành của CTCP nhưng không phải mọi chủ sở hữu cổ phiếu đều được
coi là cổ đông. Chủ sở hữu cổ phiếu, người nắm giữ cổ phiếu chỉ trở thành cổ đông
của công ty khi đã ghi đúng, ghi đủ những thông tin luật định vào sổ đăng kí cổ đông.
Đối với trường hợp cổ phiếu không ghi tên thì các thông tin về người mua trong sổ
đăng ký cổ đông tại khoản 2 Điều 86 LDN đủ để chứng thực quyền sở hữu cổ phần
của cổ đông đó trong công ty.
Tóm lại, cổ đông có thể là cá nhân hay tổ chức sở hữu một hoặc nhiều cổ phần trong
CTCP, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần đang sở hữu, được chứng
quản lý doanh nghiệp như sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
10
11
Tham khảo tại địa chỉ: .
Nguyễn Mạnh Bách, “Quy định pháp luật về các công ty thương mại”, NXB Tổng hợp Đồng Nai, tr 119.
Đỗ Thị Thìn
Trang 12
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà
nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp khác…
2
. Vai trò cổ đông trong CTCP.
Nói về thương trường, xưa ông cha ta đã có câu “buôn tài không bằng dài vốn” và
chính các cổ đông đã đầu tư đem lại nguồn vốn cho công ty. Cổ đông là những hạt
giống của công ty, là thành viên quan trọng nhất của thị trường vì họ là người sẵn
sàng bỏ tiền đầu tư giúp công ty thực hiện các dự án, kế hoạch kinh doanh và chia sẻ
rủi ro cũng như cùng phát triển, là người tham gia vào việc ra các quyết định quan
trọng, định hướng cho sự phát triển lâu dài của công ty.
Cổ đông còn đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp công ty quảng bá hình ảnh công ty
ra đại chúng, đóng góp vào sự phát triển bền vững, quyết định yếu tố thành bại của
Trang 13
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
lao động trong công ty, CTCP bằng cách cho họ quyền ưu tiên mua cổ phiếu đã biến
họ thành cổ đông của doanh nghiệp, điều này giúp gắn liền quyền lợi của họ với sự
phát triển của công ty và ngăn ngừa những xung đột về quyền lợi có thể phát sinh.
Đối với cổ đông là trái chủ, trái phiếu chuyển đổi của trái chủ đến một lúc nào đó,
theo một tỉ lệ công bố trước và vào một khoảng thời gian xác định trước, sẽ được
chuyển đổi thành cổ phiếu và người nắm giữ trái phiếu sẽ trở thành cổ đông của
CTCP. Đối với cổ đông mua lại phần vốn góp trên thị trường chứng khoán hay cổ
đông hình thành thông qua việc thỏa thuận giữa các bên phải thực hiện theo các quy
định của LDN và LCK, phải ghi nhận các thông tin vào sổ đăng kí cổ đông và các
trình tự thủ tục khác do luật định.
Căn cứ vào mục đích, tiêu chí gắn kết chặt chẽ với công ty bao gồm cổ đông chiến
lược và cổ đông là NĐT tài chính, cổ đông đầu tư dự án. Cổ đông chiến lược có thể
là các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài có năng lực tài chính, quản trị
doanh nghiệp; chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp và sẵn sàng hỗ trợ
cho công ty phát triển. Cổ đông chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phần
được mua trong thời hạn tối thiểu 03 năm, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phần
này trước thời hạn trên thì phải được ĐHĐCĐ chấp thuận 12. Cổ đông là NĐT tài
chính thì chỉ quan tâm đến lợi nhuận, họ thường mua đi và bán lại để thu lời từ cổ
phần mà họ sở hữu. Còn đối với các cổ đông đầu tư dự án, họ trở thành cổ đông của
CTCP bằng cách góp vốn vào dự án mà công ty đang thực hiện, các cổ đông này
thường hướng đến dự án của công ty chứ không phải là CTCP.
tiên của CTCP”. Nhưng trước hết, một cá nhân hay tổ chức muốn trở thành CĐSL
của CTCP phải đảm bảo quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam,
quyền mua cổ phần của CTCP được quy định tại Điều 13 LDN và Điều 10, Điều 11
NĐ 139.
Về số vốn phải góp, “các CĐSL phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số
CPPT được quyền chào bán”13. LDN không yêu cầu CTCP phải đảm bảo mức vốn
pháp định tối thiểu nếu nó không kinh doanh những ngành nghề bắt buộc phải có vốn
pháp định14. Luật cũng không ấn định số cổ phần tối thiểu mà mỗi CĐSL phải mua
nên với quy định này có thể coi đây là một quy định gián tiếp của LDN về cổ phần tối
thiểu linh hoạt dựa trên số cổ phần chào bán đối với CĐSL.
Thứ hai, nhận chuyển nhượng phần vốn góp của CĐSL khác. Trong vòng 3 năm kể
từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cá nhân, tổ chức
cũng có thể trở thành CĐSL khi được CĐSL trong CTCP chuyển nhượng phần vốn
góp của mình. Bên nhận chuyển nhượng phải thỏa mãn các điều kiện về quyền thành
lập, góp vốn và quản lý CTCP, việc chuyển nhượng phải được sự chấp thuận của
ĐHĐCĐ theo quy định tại khoản 5 Điều 84 LDN.
Thứ ba, tư cách của CĐSL cũng có thể được xác lập trên cơ sở thừa kế số cổ phần
mà CĐSL trong CTCP đang nắm giữ. LDN chưa có một quy định nào đề cập cụ thể
đến vấn đề thừa kế cổ phần và quyền để lại thừa kế của cổ đông trong CTCP. Tuy
nhiên, căn cứ theo các quy định về thừa kế tại chương XXII của Bộ luật dân sự năm
2005 thì cố phiếu cũng là một dạng tài sản thuộc sở hữu của cổ đông và khi cổ đông
đó chết, quyền để lại thừa kế phát sinh. Người hay những người nhận thừa kế di sản
13
14
Điều 84 LDN
Một số ngành có vốn pháp định như: Ngân hàng, Bảo hiểm, Kinh doanh bất động sản, Chứng khoán…
Đỗ Thị Thìn
không bắt buộc phải có trong các CTCP, người sở hữu cổ phần ưu đãi được gọi là Cổ
đông ưu đãi.
Sự khác nhau về tên gọi của hai loại cổ đông này xuất phát từ loại cổ phần mà cổ
đông nắm giữ. Sự tồn tại cổ phần ưu đãi liệu có tạo ra đặc quyền cho người sở hữu cổ
phần ưu đãi không, có xâm phạm nguyên tắc bình đẳng trong CTCP không? Chúng
tôi sẽ có dịp quay trở lại phân tích, xem xét khi đề cập đến quyền của cổ đông ưu đãi.
Trong phần này, chúng tôi sẽ lần lượt xem xét một số vấn đề phái sinh từ việc xác lập
tư cách của cổ đông phổ thông như: tổ chức không có tư cách pháp nhân không được
góp vốn mua cổ phần hay thành lập CTCP, tư cách cổ đông của NĐT nước ngoài.
Một là, tổ chức không có tư cách pháp nhân không được góp vốn mua cổ phần hay
thành lập CTCP.
LDN và LĐT đều thừa nhận tổ chức có quyền góp vốn mua cổ phần và quản lý doanh
nghiệp, tuy nhiên không có đạo luật nào định nghĩa “tổ chức” là gì 15. BLDS cũng chỉ
đưa ra các dấu hiệu để xác định một “tổ chức có tư cách pháp nhân”, tham khảo từ
điển Tiếng Việt16 thì khái niệm tổ chức không giúp ích được gì cho sự hạn chế của
15
Khoản 4 Điều 3 LĐT năm 2005, Điều 13 LDN.
Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ Khoa học xã hội, NXB Đà Nẵng năm 2006, trang 1007.
16
Đỗ Thị Thìn
Trang 16
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
cổ phần nước ngoài trong việc mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được
bãi bỏ, ngoại trừ đối với việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các ngân
hàng thương mại cổ phần và các ngành không cam kết trong biểu cam kết này”. Như
vậy, từ ngày 11/1/2008 (một năm sau khi gia nhập WTO), thực chất rào cản chỉ nằm
trong ba loại trường hợp đặc biệt còn lại theo quy định của NĐ 139.
Hạn chế quyền mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài để đảm bảo an ninh quốc gia,
ổn định chính trị là hợp lý, điều này cũng được tìm thấy ở các quốc gia có thị trường
phát triển khá ổn định như Hàn Quốc giới hạn đầu tư ở ngành điện, thép; hoặc tại
17
18
Điều 9, Điều 10 NĐ 139.
Điều 10 NĐ 139.
Đỗ Thị Thìn
Trang 17
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
Indonesia, Singapore giới hạn đối với ngành ngân hàng, báo chí… 19. Tuy nhiên, theo
lộ trình cam kết với WTO, những lĩnh vực hạn chế nói trên trong tương lai sẽ mở dần
và không hạn chế tỷ lệ góp vốn đối với nhà đầu tư nước ngoài bởi nếu vẫn duy trì tính
đóng như thế, quy định về hạn chế tỷ lệ sở hữu phần vốn góp trong một số lĩnh vực
đã buộc NĐT nước ngoài tìm cách “lách” luật, nhất là đối với một số ngành nghề
đang “nóng” như thương mại, phân phối, siêu thị...
Theo đó, tăng tỷ lệ vốn góp cho NĐT khi cần thiết và phù hợp với tình hình quốc gia
là điều phải làm, mở cửa, “tăng room” cho NĐT nước ngoài là kênh huy động vốn
hiệu quả. Thay vào đó là các biện pháp để quản lý và kiểm soát được hoạt động cũng
làm cho cổ phiếu bị pha loãng, giá chuyển đổi của trái phiếu cũng giảm giá trị. Thế
nhưng hiện nay trong khung pháp lý chưa có quy định nào để giảm thiểu các rủi ro
19
TS Luật học Phạm Thị Thu Giang, “Một số vấn đề pháp lý về sự tham gia của NĐT nước ngoài vào thị trường
chứng khoán Việt Nam”, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5 năm 2006.
Đỗ Thị Thìn
Trang 18
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
này và đảm bảo quyền chuyển đổi tư cách từ trái chủ chuyển đổi sang cổ đông của
người nắm giữ.
4.
Xác lập tư cách cổ đông thông qua các hành vi giao dịch khác.
CTCP không chỉ đa dạng các loại cổ phần để thu hút đầu tư, thu hút cá nhân, tổ chức
góp vốn, mua cổ phần tạo ra nguồn vốn lưu động, dồi dào cho công ty mà ngay cả các
cách trở thành cổ đông trong CTCP cũng đa dạng. Ngoài cách góp vốn, mua cổ phần
hay chuyển đổi từ trái phiếu chuyển đổi… như đã đề cập trên đây thì tư cách cổ đông
còn được hình thành thông qua các hành vi giao dịch dân sự khác, cụ thể như: mua
bán, tặng cho, thừa kế, trao đổi, cầm cố, chia tài sản khi ly hôn…
Các giao dịch này phải hội tụ đủ các điều kiện về thành lập, quản lý, góp vốn, mua cổ
phần theo quy định tại Điều 13 LDN, Điều 10, Điều 11 NĐ 139; cổ phần của CĐSL
trong 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh có
Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của LDN.
Đỗ Thị Thìn
Trang 19
Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty cổ phần.
Thông qua hoạt động mua bán này, hay nói theo ngôn từ của LDN là thông qua hoạt
động chuyển nhượng cổ phần, tư cách cổ đông được chuyển từ người bán sang người
mua, người mua được thừa hưởng và được pháp luật bảo vệ các quyền và nghĩa vụ
tương ứng với số cổ phần mà họ đang nắm giữ.
Trường hợp 2: Tặng, cho cổ phần.
“Tặng, cho” tài sản theo quy định tại Điều 465 BLDS là sự thoả thuận giữa các bên,
theo đó bên tặng, cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được
tặng, cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng, cho đồng ý nhận. Căn cứ vào
nguyên tắc này, cổ đông với số cổ phiếu tự do chuyển nhượng có quyền tặng, cho cho
người khác mà không cần phải xin phép ĐHĐCĐ. Việc “tặng, cho” phải tuân theo
các thủ tục luật định, người nhận “tặng, cho” khi đã thỏa mãn các điều kiện do pháp
luật quy định trở thành cổ đông của CTCP và có các quyền và nghĩa vụ tương ứng
với loại cổ phần mà họ được tặng cho.
Trường hợp 3: Thừa kế cổ phần.
BLDS quy định “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại
tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc
theo pháp luật”22. Cổ phiếu cũng là một loại tài sản và được mua từ chính công sức
của cổ đông sở hữu nó nên khi cổ đông đó chết, cổ phiếu sẽ trở thành di sản thừa kế
của cổ đông. Cá nhân hoặc tổ chức được thừa kế sẽ trở thành cổ đông của công ty.
Trường hợp 4: Trao đổi cổ phần.
Trường hợp 6: Cầm cố cổ phần.
“Đảm bảo bằng cổ phiếu” là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được
quy định trong BLDS24. LDN thừa nhận cổ phiếu được tự do chuyển nhượng thì cổ
đông với cổ phiếu được tự do chuyển nhượng trên tay cũng có quyền giao số cổ phiếu
thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
dân sự của cổ đông.
Việc cầm cố này phải được lập thành văn bản và đó cũng chính là căn cứ để xử lý đối
với số cổ phiếu đã được đem đi cầm cố nếu khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà cổ
đông không thực hiện, thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận, hoặc bên nhận cầm
cố được xác lập quyền sở hữu đối với số cổ phiếu đó theo thời hiệu thì bên nhận cầm
cố trở thành chủ sở hữu đối với cổ phiếu đó và trở thành cổ đông của CTCP 25 hoặc
chính bên nhận cầm cố có thể bán số cổ phiếu đó, người mua cổ phiếu sẽ trở thành
cổ đông của CTCP. Tuy nhiên, LDN không quy định loại cổ phiếu nào được cầm cố
và loại cổ phiếu nào bị hạn chế cầm cố, các công ty cần cụ thể hóa những quy định
này vào Điều lệ để hạn chế các tranh chấp phát sinh từ quyền cầm cố, bảo vệ quyền
của người sở hữu đối với cổ phiếu trong giao dịch này.
Trên đây là các cách xác lập tư cách của một cổ đông trong CTCP, tùy vào từng
trường hợp cụ thể mà cổ đông nắm giữ các quyền tương ứng với loại cổ phần mà họ
sở hữu cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi, và cũng từ đó họ có các nghĩa vụ
tương ứng với loại cổ phần đó. LDN không dự liệu hết các cách xác lập tư cách cổ
đông, thông qua phân tích trên chúng tôi nghĩ LDN và Điều lệ nên có những quy định
chặt chẽ hơn tạo điều kiện cho một cá nhân hay tổ chức bước đầu tiên đặt “vốn và
niềm tin” vào CTCP trở thành cổ đông được thuận lợi và dễ dàng trước khi họ thực
hiện các quyền được cho phép và bị hạn chế trong khung hành lang pháp.
II.
Chấm dứt tư cách cổ đông trong CTCP.
NĐT một khi đã là cổ đông CTCP, đương nhiên được bảo vệ và được quyền duy trì tư cách
thành viên CTCP. LDN không dự liệu những trường hợp nào chấm dứt tư cách cổ đông