Các dòng vốn tài chính và thu nhập bình quân đầu người ở các quốc gia đang phát triển khu vực châu á thái bình dương - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



TRẦN TRỌNG VIỆT

CÁC DÒNG VỐN TÀI CHÍNH VÀ THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU
NGƯỜI Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC
CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



TRẦN TRỌNG VIỆT

CÁC DÒNG VỐN TÀI CHÍNH VÀ THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU
NGƯỜI Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC
CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành : Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số

: 60340201

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ...................................................................... 1
1.1

Đặc điểm của Châu Á – Thái Bình Dương....................................................... 1

1.2

Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 2

1.3

Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 5

1.4

Câu hỏi nghiên cứu.......................................................................................... 5

1.5

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 5

1.6

Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 6

1.7

Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................ 6

1.8

bình quân đầu người: ............................................................................................... 14
2.3.1

Mối quan hệ giữa FDI với thu nhập bình quân đầu người ...................... 14

2.3.2

Mối quan hệ giữa kiều hối với thu nhập bình quân đầu người ................ 20

2.3.3

Mối quan hệ giữa ODA với thu nhập bình quân đầu người ..................... 31

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................................ 37
3.1

Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................................ 37

3.2

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 42

CHƯƠNG 4:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 48
4.1

Phân tích thống kê mô tả ............................................................................... 49

4.2


Phân tích kết quả hồi quy .............................................................................. 55

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ..................................................................................... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FDI (Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA (Official Development Assistance): Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
R (Remittance): Kiều hối
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
TTKT: Tăng trưởng kinh tế
IMF (International Monetary): Quỹ tiền tệ Quốc tế
WTO (World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới
WB (World Bank): Ngân hàng thế giới
OECD: Tổ chứ Hợp tác và Phát triển Kinh tế
REM (Random effect model): Mô hình tác động ngẫu nhiên
FEM (Fixed effect model): Mô hình tác động cố định
OLS (Odinary Least Square): Phương pháp bình phương bé nhất
GMM (Generalized Method of Moments): Phương pháp Moments tổng quát
TSLS (Two-Stage Least Squares): Phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn
FGLS (Feasible Generalized Least Squares): Phương pháp bình phương tối thiểu tổng
quát khả thi


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.3.1:Tóm tắt báo cáo kết quả thực nghiệm tác động của FDI lên thu nhập bình
quân đầu người ........................................................................................................... 18
Bảng 2.3.2: Tóm tắt báo cáo kết quả thực nghiệm tác động của kiều hối lên thu nhập

Bình Dương được Liên hợp quốc đánh giá là khu vực dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh
tế. Hiện nay, xuất khẩu của khu vực châu Á-Thái Bình Dương chiếm 30% tổng lượng
xuất khẩu của thế giới, kim ngạch thương mại mỗi năm giữa khu vực châu Á-Thái
Bình Dương và Mỹ vượt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 tổng lượng của thế
giới. Xét trên góc độ địa - kinh tế, Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới sau
khi đã vượt Pháp, Anh và Đức nhờ mức tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng
10%/năm trong hai thập kỷ qua. Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 36% tỷ trọng kinh
tế toàn cầu. Châu Âu đứng thứ hai và Bắc Mỹ thứ ba. Khu vực châu Á - Thái Bình
Dương không chỉ là một trong những khu vực có dân số đông nhất thế giới, mà còn là
một trong những khu vực có nền kinh tế phát triển sôi động nhất và tập trung nhiều của
cải nhất. Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang khẳng định
là nơi có mức sống cao nhất trên thế giới. Sức mạnh kinh tế của Đông Á không những
chỉ thể hiện ở độ tăng trưởng cao GNP mà khối lượng FDI và buôn bán nội bộ cũng
ngày càng tăng. Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực phục hồi nhanh nhất và đạt tốc
độ tăng trưởng cao nhất sau những tác động sâu sắc của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu. Sự tăng trưởng chung của khu vực này dự báo vượt tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế thế giới nhờ nhu cầu nội địa và thương mại nội khối tăng giúp
bù đắp sự suy giảm xuất khẩu sang các nền kinh tế phát triển. Năm 2010, theo đánh giá
của Tạp chí Wall Street Journal và Quĩ Heritage, các nước và vùng lãnh thổ châu Á –
Thái Bình Dương đã chiếm 4 vị trí dẫn đầu trong top 10 quốc gia tại cuộc khảo sát
thường niên vê tự do kinh tế, bao gồm thứ tự (Hồng Công, Singapore, Australia và


2

New Zealand), đánh giá dựa trên các chính sách trong những lĩnh vực gồm có kinh
doanh, thương mại, quyền sở hữu tài sản, không có tham nhũng và tự do lao động.
Hồng Kông vẫn luôn dẫn đầu danh sách khảo sát trong suốt 17 năm qua. Diễn đàn hợp
tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) gồm 21 thành viên được thành lập năm
1989 tại Úc nhằm thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế, thịnh vượng trong khu vực và
củng cố cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương. Với 2,6 tỉ người (khoảng 40% dân số

trọng. Sở dĩ nguồn vốn đầu tư nước ngoài có được vai trò này là do nội bản thân nó
chứa đựng nhiều ưu điểm nổi bật, đặc biệt là có thể huy động được một lượng vốn lớn
trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế. Nguồn vốn đầu tư
nước ngoài giúp bổ sung cho lượng vốn thiếu hụt mà vốn trong nước không đáp ứng đủ
trong việc phát triển nền kinh tế, mở ra và phát triển các lĩnh vực mới trong nền kinh
tế. Tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước giao lưu và hội nhập với bên ngoài, từ đó
nâng cao vị thế của quốc gia trên chính trường quốc tế. Dòng đầu tư nước ngoài chảy
vào còn mang theo khoa học công nghệ, kĩ thuật, mức thu nhập cao cho đất nước tiếp
nhận vốn, giúp cho nước đó nâng cao được trình độ sản xuất, tạo công ăn việc làm và
đào tạo một lượng lớn lao động có kĩ thuật cao. Đây là điều mà bất kỳ quốc gia nào
cũng cần, nhất là các quốc gia đang phát triển.
GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhất
định là giá trị nhận được khi lấy GDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm đó
chia cho dân số của nó cũng tại thời điểm đó. Trình độ phát triển kinh tế tinh bằng
GDP bình quân đầu người có sự khác nhau rất lớn giữa các nước. Thu nhập bình quân
đầu người của những nước giàu nhất thế giới cao gấp hàng chục lần so với các nước
nghèo nhất thế giới. Vì tỉ lệ tăng của GDP thực tế cũng biến đổi mạnh, nên vị thế tương
đối giữa các nước có thể thay đổi đáng kể theo thời gian. Mức sống của một nền kinh
tế phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nó. Năng suất đến lượt nó
lại phụ thuộc vào tích lũy tư bản hiện vật, vốn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và tiến
bộ công nghệ. GDP bình quân đầu người là thước đo sản lượng thu nhập của một nền


4

kinh tế, nó là số liệu thông kê thường gặp nhất vì được coi là chỉ báo tốt nhất về phúc
lợi kinh tế xã hội. Kết quả hoạt động kinh tế của một người bất kì được phản ánh trước
hết qua thu nhập của người ấy, thông thường một người có thu nhập cao dễ cho phép
người ta chi mua những hàng hóa và dịch vụ chất lượng tốt có giá cao để thỏa mãn nhu
cầu vật chất và tinh thần đa dạng của họ. Trong khi đó những người có thu nhập thấp

hỗ trợ phát triển chính thức ODA) lên thu nhập bình quân đầu người của một nhóm các
nước có thu nhập thấp và trung bình ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Ngoài ra
bài nghiên cứu này cũng xem xét có hay không các yếu tố như chi tiêu của chính phủ,
chất lượng thể chế, phát triển khu vực tài chính và vốn con người làm tăng hiệu quả
của từng dòng vốn lên tăng trưởng kinh tế.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
a. Các quốc gia thuộc khu vực Châu Á- Thái Bình Dương nhận nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, hỗ trợ phát triển chính thức ODA và
kiểu hối có tương quan dương với thu nhập bình quân đầu người hay
không ?
b. Sự biến động của các dòng vốn quốc tế tiếp nhận từ nước ngoài có ảnh
hưởng đến thu nhập bình quân đầu người hay không ?
c. Độ sâu của phát triển khu vực tài chính, chi tiêu của chính phủ, chất
lượng thể chế và vốn con người có ảnh hưởng tới tăng trưởng thu nhập
bình quân đầu người hay không ?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ 12 nước của khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương thuộc nhóm thu nhập thấp và trung bình trong giai đoạn 1990-2014.


6

1.6 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích thực nghiệm đưa ra trong bài nghiên cứu này được dựa trên dữ liệu bảng
từ 12 nước trong giai đoạn 1990-2014. Các mẫu bao gồm dữ liệu chéo (cross-section)
của các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình từ khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương, Các nước OECD thuộc khu vực này mà có thu nhập cao được loại trừ khỏi
phân tích thực nghiệm vì các nước này thường được coi là nước tài trợ hơn là nước
nhận viện trợ và nước chuyển kiều hối hơn là nước tiếp nhận kiều hối.

nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các vấn đề
cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu và ý
nghĩa khi thực hiện đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
về tác động của các dòng vốn quốc tế lên thu nhập bình quân đầu người một
nhóm các nước có thu nhập thấp và trung bình ở khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương.
Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, những nghiên
cứu thực nghiệm trên thế giới về các yếu tố tác động đến thu nhập bình quân
đầu người và tác động của dòng vốn quốc tế lên thu nhập bình quân đầu người
của một nhóm các nước có thu nhập thấp và trung bình ở khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu,
giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, mô tả các đặc điểm
của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu để
thực hiện nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối
quan hệ giữa dòng vốn và thu nhập đầu người. Thực hiện thống kê mô tả, kiểm


8

định đa cộng tuyến, phương sai tay đổi, tự tương quan và hồi quy GMM khắc
phục.
Chương 5: Kết luận.
Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả
thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng
mở rộng đề tài.


2.1.4 Thu nhập bình quân đầu người:
GDP bình quân đầu người (tổng sản phẩm bình quân đầu người): là một trong
những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng phản ánh kết quả sản xuất tính bình quân
đầu người trong một năm. Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người còn là chỉ
tiêu được dùng để đánh giá sự phát triển kinh tế theo thời gian và so sánh quốc tế.
Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người được tính bằng cách chia tổng
sản phẩm trong nước trong năm cho dân số trung bình trong năm tương ứng. Tổng sản
phẩm trong nước bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, tính theo nội tệ hoặc
ngoại tệ, cũng có thể tính theo giá so sánh để tính tốc độ tăng.
Chỉ số GDP bình quân đầu người còn được sử dụng trong việc so sánh mức sống
dân cư giữa các quốc gia hoặc giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước với nhau. Gần
đây, Ngân hàng thế giới (WorldBank) đã tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của
xã hội bằng các chỉ số tổng thu nhập quốc dân (GNI) hoặc tổng thu nhập quốc dân bình
quân đầu người (GNI/người) nhằm thay thế cho chỉ số GDP/người. GNI khác GDP ở
chỗ là được tính dựa trên cơ sở thu nhập của công dân nên phản ánh chính xác mức
sống hơn.
Kết quả hoạt động kinh tế của một người bất kỳ được phản ánh trước hết qua thu
nhập của người ấy, thông thường một người có thu nhập cao dễ cho phép người ta chi
mua những hàng hóa và dịch vụ chất lượng tốt có giá cao để thỏa mãn nhu cầu vật chất
và tinh thần đa dạng của họ. Trong khi đó những người có thu nhập thấp không có khả
năng chi trả cho những hàng hóa và dịch vụ đắt tiền và do đó chỉ được hưởng thụ một
mức sống khiêm tốn hơn nhiều so với những người có thu nhập cao. Điều này cũng
tương tự đúng đối với các nền kinh tế quốc gia. Nền kinh tế hoạt động có hiệu quả khi
mà mọi người trong nền kinh tế tạo ra và hưởng thụ thu nhập cao. Kết quả là tổng thu
nhập do mọi thành viên trong nền kinh tế tạo ra sẽ lớn và mọi người được hưởng mức
sống cao hơn so với nền kinh tế có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn.


12



13

Giả sử rằng f (.) là hàm đồng nhất cấp một theo các đối số của nó, hàm sản xuất
tổng hợp có thể được viết như sau:

K d ,t Rt FDI t
Yt
 g  At 1  f
, ,
Lt
Lt Lt Lt

(

)

(2)

Phương trình (2) có thể được viết dưới dạng log như sau:
log(

Yt
) = log( g (A t 1 )) + log
Lt

[ f ( KL

d ,t

(4)

)]=  0 + 1 log( KL

d ,t

) +  2 log(

t

Rt
FDI t
) +  3 log(
) (5)
Lt
Lt

Bằng cách kết hợp phương trình (4) và (5) và bao gồm số hạng sai số (error
term) μt, mô hình thực nghiệm có thể được rút ra như sau:
log(

K
Yt
R
FDI t
) =  0 + α1 log(A t 1 ) + 1 log( d ,t ) log+  2 log( t ) +  3 log(
) + μt
Lt
Lt
Lt


2.3 Bằng chứng thực nghiệm mối quan hệ giữa các dòng vốn quốc tế với thu
nhập bình quân đầu người:
Tác động đến tăng trưởng kinh tế của các dòng chảy tài chính (FDI, ODA và kiều
hối) là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận, cụ thể như sau:
2.3.1 Mối quan hệ giữa FDI với thu nhập bình quân đầu người
Về mặt lý thuyết, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tác động tích cực
đến tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh trực tiếp và gián tiếp. Các lý thuyết kinh tế
đều cho rằng, nguồn vốn đầu tư là một trong những nền tảng cơ sở của tăng trưởng
kinh tế. Và đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là những quốc gia kém hoặc đang phát triển,
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một thành phần quan trọng của tổng
nguồn vốn đầu tư quốc gia. Do vậy, có thể nói rằng, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài FDI tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế bằng cách gia tăng nguồn vốn đầu
tư của mỗi quốc gia nhận đầu tư. Ngoài ra, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
có thể tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh gián tiếp như
chuyển giao công nghệ kỹ thuật mới, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
tăng khả năng cạnh tranh của thị trường trong nước, đẩy mạnh quá trình hội nhập với
kinh tế thế giới...
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài FDI đối với tăng trưởng kinh tế lại có sự mâu thuẫn, trái ngược
nhau, cụ thể có quan điểm cho rằng:
2.3.1.1 Dòng vốn FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Phần lớn các nghiên cứu đều có kết quả cho thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế như Blomstrom (1994),
Alfaro (2001), Lensink (2001), Omran và Bolbol (2003)... .Một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng dòng vốn FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tác động lan tỏa có liên quan FDI
thúc đẩy gia tăng năng suất/sản lượng. Borensztein, De Gregorio và Lee (1998) lập


15

kinh tế
Nghiên cứu của Carkovic và Levine (2002) có kết quả cho thấy dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài FDI không có tác động độc lập, mạnh mẽ lên tăng trưởng kinh tế.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp GMM (Generalize Method of
Moment) để thực hiện nghiên cứu cho 72 quốc gia trên thế giới trong khoảng thời gian
từ 1960 –1995. Ngoài ra, để khẳng định kết quả đạt được, các tác giả cũng đã thực hiện
khá nhiều kiểm tra độ nhạy như sử dụng nguồn dữ liệu từ IMF thay cho nguồn dữ liệu
từ World Bank hay kiểm tra tác động của FDI đối với năng suất các yếu tố tổng hợp
TFP.... Kết quả vẫn cho thấy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI không có tác
động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế.
Hay nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Bos, M Sander và Sechi (1974) về tác
động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ những công ty đa quốc gia Mỹ đối
với tăng trưởng kinh tế của những nước nhận đầu tư trong giai đoạn 1965 -1969 cũng
có kết quả khác với phần lớn những nghiên cứu khác. Kết quả ước lượng đạt đươc cho
thấy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có tác động nghịch chiều đối với tăng
trưởng kinh tế.
Nghiên cứu của Laureti và Postiglione (2005) về các tác động của dòng vốn lên
tăng trưởng kinh tế của 11 quốc gia Địa Trung Hải trong khoảng thời gian từ 19902000. Kết quả cho thấy dòng vốn FDI không có tác động mạnh đến tăng trưởg kinh tế.
Còn nghiên cứu của Ericsson và Irandoust (2001) về mối quan hệ nhân quả giữa đầu
tư trực tiếp nước ngoài và sản lượng đối với 4 quốc gia OECD là Đan Mạch, Phần Lan,
Na Uy và Thụy Điển trong khoảng thời gian 1970-1997. Kết quả cho thấy không phát
hiện bất kỳ mối quan hệ nhân quả giữa FDI và tăng trưởng đối với Đan Mạch và Phần
Lan.
Tóm lại, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một nguồn lực quan
trọng đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, nó có thể có những tác động trực



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status