1
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DÒNG VỐN FDI
TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC
CHÂU Á VÀ CHÂU PHI
Tóm tắt
Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến
việc thu hút vốn FDI tại các nước đang phát triển khu vực châu Á và châu Phi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: qui mô thị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế, độ
mở thương mại, tính kinh tế nhờ liên kết có tương quan dương với FDI. Trong
khi đó, độ biến động tỷ giá, lạm phát và nợ nước ngoài có tương quan âm với
FDI. Nhân tố mới KOPEN khi đưa vào mô hình có ý nghĩa thống kê, hệ số
KOPEN càng cao hàm ý rằng quốc gia đó càng thu hút nhiều vốn FDI hơn.
Trong nhóm biến độc lập: biến chi phí lao động có tương quan âm với FDI do
một phần ngoài giá nhân công rẻ, nhà đầu tư nước ngoài còn hướng đến lực
lượng lao động chất lượng cao. Ngoài ra, nguồn tài nguyên dồi dào, hệ thống
pháp luật hiệu quả cũng là điểm thu hút nhà đầu tư. Riêng thị trường tài chính
càng phát triển, lượng vốn nội địa tài trợ cho nền kinh tế càng dồi dào khi đó
vốn FDI sẽ không được khuyến khích nhiều ở quốc gia đó.
2
ngoài tiếp tục tăng trưởng 16% trong năm 2011 bất chấp ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 và tình hình
khủng hoảng nợ công. Từ đầu những năm 1990, sự bùng nổ dòng vốn FDI
chảy vào các nước đang phát triển cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang
hướng đến một địa điểm đầu tư hứa hẹn nhiều tiềm năng đem lại lợi nhuận
cao. Năm 2011, lượng vốn FDI vào các nước phát triển tăng vọt và đạt 748 tỷ
USD, tăng 21% so với năm 2010 trong khi đó tại các nước đang phát triển đạt
684 tỷ USD, chiếm gần một nửa lượng vốn FDI toàn cầu và các nền kinh tế
chuyển đổi chiếm 6%. Sự gia tăng này tập trung chủ yếu vào các nước Châu Á
(10%); Châu Mỹ Latin và vùng Caribe (16%) và các nền kinh tế chuyển đổi
(25%). Ngược lại, khu vực Châu Phi ghi nhận sự sụt giảm dòng vốn FDI trong
3 năm liên tiếp: 2009, 2010 và 2011. 4
BẢNG 1.1: LƯỢNG VỐN FDI TOÀN CẦU VÀ CÁC
KHU VỰC
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
Toàn thế giới
Nước đang phát
triển
Nền kinh tế
chuyển đổi
Nước phát triển
6
BIỂU ĐỒ 1.2: LƯỢNG VỐN FDI TẠI CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC KHU VỰC
(Đơn vị tính: triệu USD)
Nguồn: UNCTAD FDI-TNC-GVC Information System, FDI database
(www.unctad.org/fdistatistics) -
Khu vực châu
Mỹ
Khu vực châu Á
Khu vực châu
Đại Dương
7
Năm 2012, lượng vốn FDI toàn cầu bất ngờ sụt giảm 18% tương đương
1.35 ngàn tỷ USD so với năm trước đó. Nguyên nhân: sự phục hồi của các nền
kinh tế sau khủng hoảng kéo dài hơn dự kiến và chính sách vĩ mô bất ổn. Năm
2012 cũng là năm đầu tiên ghi nhận các nước đang phát triển tiếp nhận nhiều
vốn FDI hơn các nước phát triển. Trong đó, tại khu vực Châu Á tuy sụt giảm
khoảng 6.7% nhưng tính chung toàn khu vực thì châu Á chiếm 58% lượng
vốn FDI vào các nước đang phát triển trong khi đó khu vực châu Mỹ giảm nhẹ
2.2%. Riêng Châu Phi ngược lại với xu hướng chung của toàn thế giới. Năm
2012, lượng vốn FDI tại Châu Phi tăng 5.1% so với năm 2011. Theo dự báo
của UNCTAD, FDI năm 2013 có thể tăng nhẹ so với năm 2012 đạt 1.45 ngàn
tỷ USD; năm 2014 là 1.6 ngàn tỷ USD; năm 2015 là 1.8 ngàn tỷ USD. Tuy
vậy, kịch bản tăng trưởng FDI này có thể gặp nhiều rủi ro, như sự yếu kém về
cơ cấu trong hệ thống tài chính toàn cầu, khả năng xấu đi của kinh tế vĩ mô và
sự không ổn định về chính sách - những yếu tố có thể làm suy yếu niềm tin
của nhà đầu tư.
công nghiệp và đầu tư các tháng đầu năm tăng chậm hơn dự báo. Chi phí nhân
công tăng cũng làm giảm lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc.
10
1.2 Lý do chọn đề tài
Câu hỏi làm thế nào thu hút được vốn FDI nhận được rất nhiều sự quan
tâm của các nhà kinh tế và người làm chính sách bởi với quan điểm FDI góp
phần tăng trưởng kinh tế thông qua việc bổ sung nguồn vốn trong nước,
chuyển giao công nghệ, kỹ thuật hiện đại, trình độ chuyên môn và trình độ
quản lý tiên tiến cho nước tiếp nhận đầu tư. Thực tế cũng cho thấy, các nước
có tốc độ tăng trưởng nhanh tiếp nhận nguồn vốn FDI nhiều hơn và ngược lại.
Một mặt, FDI bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, làm tăng cầu các yếu tố sản
xuất như: lao động, nguyên vật liệu đầu vào… góp phần giải quyết việc làm
cho một bộ phận không nhỏ dân cư. Thêm vào đó, qua các hình thức đầu tư
này, tại nước tiếp nhận đầu tư hình thành một hệ thống doanh nghiệp có vốn
nước ngoài làm đa dạng hóa các thành phần kinh tế, thúc đẩy khả năng cạnh
tranh của các thành phần kinh tế khác để tạo ra các sản phẩm chất lượng tốt
1.4 Điểm mới của bài nghiên cứu
Bộ ba bất khả thi là một trong những lý thuyết rất quan trọng của tài
chính quốc tế, được phát triển dựa trên những ý tưởng của Robert Mundell và
Marcus Fleming vào thập niên 1960. Hai ông đã xây dựng lý thuyết “Bộ ba
bất khả thi”, phát biểu như một định đề: một quốc gia không thể đồng thời đạt
được tỷ giá cố định, hội nhập tài chính và độc lập tiền tệ. Trong đó:
Độc lập tiền tệ là sử dụng chính sách tiền tệ để ổn định nền kinh tế, thực
hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát. Ngân hàng trung
12
ương có thể tăng cung tiền và giảm lãi suất khi nền kinh tế suy thoái và giảm
cung tiền, tăng lãi suất khi nền kinh tế phát triển quá nóng.
Hội nhập tài chính nghĩa là dòng vốn được tự do ra vào nền kinh tế.
Việc này cho phép công dân của nước đó đa dạng hóa tài sản bằng cách đầu tư
ra nước ngoài. Nó cũng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đem theo các
nguồn lực, kinh nghiệm, chuyên môn để đầu tư vào nước đó.
Duy trì tỷ giá ổn định giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến
hành các biện pháp ổn định giá cả. Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu
tư đối với rủi ro của nền kinh tế giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công
chúng vào đồng nội tệ. Tất cả giúp làm cho môi trường đầu tư tốt hơn.
Aizenman, Chinn và Ito (2008) đã chỉ ra rằng chính phủ các nước đang
phát triển trong việc lựa chọn mẫu hình bộ ba bất khả thi là hướng tới trạng
thái trung gian giữa ba chính sách mục tiêu: hội nhập tài chính nhưng không
quên kiểm soát vốn, độc lập tiền tệ vừa phải, và cơ chế tỷ giá biến động trong
một biên độ mục tiêu cho phép bằng cách tăng cường kho dự trữ ngoại hối
như một công cụ để quản lý tỷ giá. Ba ông cũng đã giới thiệu thước đo bộ ba
bất khả thi từ đó đưa ra bộ chỉ số "Trilemma Indexes". Trong đó, tác giả đã sử
14
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
2.1 Những nghiên cứu về mặt lý thuyết
Vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng nhận được
nhiều sự quan tâm và có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu tập trung vào chủ đề
này, trong đó các lý thuyết hầu như tập trung phát triển từ nền tảng lý thuyết
của S. Hymer, R.Vernon và J. Dunning. Các nhà kinh tế đều tin rằng, FDI là
một nhân tố quan trọng trong việc thúc đầy tăng trưởng kinh tế tất cả các
nước, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Stephen H. Hymes (1960) là nhà kinh tế đầu tiên phát triển lý thuyết về
công ty đa quốc gia. Các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng
hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở
nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm
đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động,
đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những
công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các
nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu
thụ tiềm năng.
Raymond Vernon (1966) nghiên cứu đầu tư trực tiếp của các công ty
Mỹ vào các nước Đông Âu sau thế chiến thứ hai trong ngành sản xuất công
nghiệp trong khoảng thời gian từ 1950 - 1970. Qua thời gian, Mỹ đã trở thành
nước nhập khẩu chính của nhiều hàng hóa mà trước đây nó đã từng sản xuất,
phát triển và xuất khẩu. Vernon dựa vào bốn giai đoạn trong một chu kỳ sản
trên, vốn tri thức có thể cùng một thời điểm được sử dụng như đầu vào tại
16
nhiều địa điểm khác nhau. Chính vì vậy, một công ty đa quốc gia có thể tương
đối dễ dàng xuất khẩu vốn tri thức của họ sang các quốc gia khác với lợi thế
cạnh tranh đáng kể là chi phí thấp. (ii) Lợi thế vị trí: liên quan đến chi phí
giao dịch giữa hai quốc gia. Nếu chi phí giao dịch là đáng kể, công ty đa quốc
gia sẽ lựa chọn phương án đặt nhà máy sản xuất của họ ở nước ngoài thay vì
sản xuất trong nước và xuất khẩu để thỏa mãn thị trường nước ngoài. Khi đó,
công ty đa quốc gia sẽ thực hiện quyết định đầu tư theo chiều ngang, sản xuất
ở thị trường nước sở tại những sản phẩm tương tự như sản xuất trong nước.
Ngược lại, khi chi phí giao dịch thấp, công ty đa quốc gia có thể lựa chọn
phương án phân tán chuỗi giá trị sản xuất của họ thành nhiều mắt xích riêng lẻ
và phân bổ hoạt động sản xuất các mắt xích đó tại nhiều địa điểm khác nhau
trên thế giới - đầu tư theo chiều dọc. (iii) Lợi thế nội bộ hóa tài sản tri thức:
nhằm ngăn chặn đánh cắp hay học hỏi bí quyết công nghệ, các công ty đa
quốc gia thường tập trung hóa những tài sản tri thức này và chỉ mang đến thị
trường quốc gia sở tại những hoạt động sản xuất và cung cấp dịch vụ ở mức
độ đơn giản và chỉ sử dụng một phần của những tài sản tri thức mà họ có.
2.2 Những nghiên cứu về mặt thực nghiệm
Các đặc điểm nào của quốc gia hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài? Để
hiểu được điều này, cần tìm hiểu các động lực cơ bản để một công ty tiến hành
đầu tư ra nước ngoài thay vì xuất khẩu hoặc thuê ngoài các công đoạn sản xuất
ở nước ngoài. Căn cứ vào mục đích của việc đầu tư, có thể phân chia dòng
vốn FDI thành ba loại cơ bản: (i) FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực - Resource-
seeking: Đầu tư nhằm khai thác các nguồn lực lao động rẻ hoặc giàu tài
nguyên thiên nhiên, mà những nguồn lực này không có ở nước sở tại. Thông tính kinh tế nhờ liên kết
(1)
, lạm phát, GDP bình quân đầu người và nhóm nhân
tố định tính: Lao động, độc lập về chính trị, sự hiệu quả của hệ thống tài
chính, độ sâu tài chính, cơ sở hạ tầng, giáo dục bậc tiểu học, trung học và phổ
thông. Nghiên cứu trên mẫu gồm 27 nước phát triển và nhóm nền kinh tế mới
nổi trong khoảng thời gian từ 1985 – 2008 sử dụng mô hình GMM cho kết
quả: FDI theo nhóm ngành nông nghiệp ít chịu tác động của các nhân tố trong
khi FDI theo nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi các
nhân tố theo hướng khác nhau tùy thuộc vào thu nhập của quốc gia đó và tỷ
giá hối đoái cũng như chỉ số phát triển (độ sâu thị trường tài chính, giáo dục)
và nhân tố thuộc về thể chế (sự độc lập về chính trị và độ co giãn của thị
trường lao động). Ngoài ra, tác động của các nhân tố cũng có sự khác biệt giữa
nhóm nước phát triển và nhóm nền kinh tế mới nổi.
Sau khảo sát tại 57 quốc gia có thu nhập thấp và trung bình trong 10
năm 2000 – 2009, Hussain và Kimuli (2012) sử dụng phương pháp OLS, 2
SLS với mô hình nghiên cứu như sau:
FDI
it
= β
0
+ β
1
marketsize
it
+ β
:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tính trên % của GDP của nước thứ i
tại năm t.
Marketsize
it:
GDP bình quân đầu người của nước thứ i tại năm t.
inf
it:
Tỷ lệ lạm phát của nước thứ i tại năm t.
19
tariff
it:
Thuế nhập khẩu của nước thứ i tại năm t.
educ
it:
Tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở của nước thứ i tại năm t.
M2/GDP
it:
Tỷ lệ M2/GDP đại diện cho sự phát triển thị trường tài chính
của nước thứ i tại năm t.
S
i
và T
t:
tương ứng là đặc trưng riêng có của từng quốc gia và tính bất
biến theo thời gian của dữ liệu.
it
: Chi phí lao động của nước thứ i tại năm t, tính trên đơn vị tiền
US$.
Opn
it
: Độ mở thương mại của nước thứ i tại năm t, tính trên đơn vị tiền
US$.
Sử dụng mô hình FMOLS cho kết quả qui mô thị trường, dự trữ, cơ sở
hạ tầng và chi phí lao động là các nhân tố chính tác động đến biến phụ thuộc
là FDI.
Sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội là điều kiện tiên quyết nhằm
giảm thiểu những rủi ro kinh tế chính trị của vốn FDI vượt khỏi sự kiểm soát
của chủ đầu tư nước ngoài. Những bất ổn định kinh tế chính trị không chỉ làm
cho dòng vốn này bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn từ trong
nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi "trú ẩn" mới an toàn và hấp dẫn
hơn. Điều kiện này không chỉ bao gồm các yêu cầu về duy trì sự ổn định phát
triển kinh tế và trật tự xã hội cần thiết cho sự vận hành bình thường của đất
nước, sự hoàn chỉnh hữu hiệu và tính có thể dự báo được của hệ thống pháp
luật đầu tư theo xu hướng ngày càng tiếp cận tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế,
mà còn phải duy trì được dư luận và tâm lý xã hội chung thuận lợi và ủng hộ
các nhà đầu tư nước ngoài. Theo UNCTAD, World Development Report
2012, đây là năm thứ 3 liên tiếp sụt giảm dòng vốn FDI chảy vào các nước
châu Phi, đặc biệt là khu vực Bắc Phi, trong đó Ai Cập và Libya, 2 địa điểm
thu hút FDI nhất khu vực có mức độ bất ổn cao dẫn đến dòng vốn FDI sụt
21
giảm nghiêm trọng. Owusu-Antwi và cộng sự (2012) lý giải nguyên nhân các
2
g
jt
+ β
3
Y
it
+ β
4
Y
jt
+ β
5
dist
ij
+ β
6
V
irt
+ v
t
+ e
ijt
22
Trong đó:
+ β
1
g
it-1
+ β
2
X
ilt
+β
3
Z
ikt
+ ν
it
Trong đó:
g
it
: tốc độ tăng trưởng GDP
X
ilt
: vectơ của l biến nội sinh (% FDI/GDP; % viện trợ nước
ngoài/GDP; % tiết kiệm trong nước/GDP; nguồn vốn nội địa – capital
formation)
Z
ikt
: vectơ của k biến nội sinh (lực lượng lao động; chỉ số phát triển con
người)
ν
it
: sai số tiền của một nước sẽ làm tăng đầu tư nước ngoài vào nước đó hơn với kết quả
nghiên cứu của Froot and Stein (1991) và Blonigen (1997).
John C. Anyanwu (2012) nghiên cứu đề tài “Tại sao FDI đi vào các
nước: bằng chứng thực nghiệm từ các nước châu Phi” với bộ dữ liệu 53 nước
châu Phi trong khoảng thời gian từ năm 1996 – 2008. Tác giả sử dụng phương
pháp nghiên cứu OLS sau đó là GMM để kiểm định mô hình sau:
Trong đó:
i và j là nước thứ i; j và t là thời gian.
FDI: FDI đi vào 1 nước tính trên % của GDP.
UrbanPop: Tỷ lệ dân số thành thị trên tổng dân số
GDPPC: GDP bình quân đầu người (US$)
Openness: Độ mở thương mại (%GDP)
Financialdev: Sự phát triển thị trường tài chính (domestic credit to the
private sector as % of GDP)
25
Inflation: Tỷ lệ lạm phát hàng năm
ExchangeRate: Tỷ giá hối đoái
Infrastructure: chất lượng cơ sở hạ tầng tính bằng tỷ lệ người sự dụng
điện thoại di động trên 1000 dân.
HumanCapital: Chất lượng nguồn nhân lực tính bằng tỷ lệ tốt nghiệp
trung học cơ sở