Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hoá ở học sinh dân tộc miền núi khi dạy học truyện ngắn Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải - Pdf 41

Header Page 1 of 16.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-----------------------

NGUYỄN NGỌC THỦY

“Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hoá
ở học sinh dân tộc miền núi khi dạy học truyện ngắn “Một
người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - Năm 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 1 of 16.

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 2 of 16.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-----------------------


3

2. Lịch sử vấn đề. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

5

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

9

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

10

5. Phương pháp nghiên cứu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

10

6. Giả thuyết khoa học. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

11

7. Cấu trúc luận văn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

11

PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1. MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
VẤN ĐỀ RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
Ở HỌC SINH DÂN TỘC MIỀN NÚI KHI HỌC TÁC PHẨM

2.3 Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hóa ở học

Footer Page 3Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 1

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 4 of 16.

sinh dân tộc miền núi khi dạy học truyện ngắn “Một người Hà Nội”.

57

2.3.1 Biện pháp 1. Thăm dò khả năng tiếp nhận của học sinh
trước khi dạy học truyện ngắn “Một người Hà Nội”. . . . . . . .. .

57

2.3.2 Biện pháp 2. Trang bị kiến thức lịch sử - văn hóa Hà Nội
cho học sinh dân tộc miền núi khi dạy học “Một người Hà Nội” .

58

2.3.3 Biện pháp 3. Bồi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh khi
dạy học “Một người Hà Nội” . . . . . . . . . . . . .. . .. . . . . . . . . . . . .

63

2.3.4 Biện pháp 4. Tổ chức hoạt động thực tế văn học giúp học


3.2.2 Đối tượng, địa điểm, thời gian thực nghiệm. . . . . . . . . . . . .. .

92

3.2.3 Kết quả thực nghiệm. . . . . . . . . . . . .. . .. . . . . . . . . . . . . . . . .

93

PHẦN KẾT LUẬN. . . . . . . . . . . . .. . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

96

TÀI LIỆU THAM KHẢO. . . . . . . . . .. . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 101
PHỤ LỤC

Footer Page 4Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 2

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 5 of 16.

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Khoảng cách trong tiếp nhận văn chương là một hiện tượng phổ biến
trong đời sống văn học, nó tồn tại không chỉ ở những độc giả bình thường mà có
cả ở những độc giả có trình độ cao. Khoảng cách đó biểu hiện ở nhiều phương
diện khác nhau: giữa bạn đọc với tác phẩm; giữa bạn đọc với bạn đọc; giữa các

nhà trường, các em sẽ có vốn kiến thức phổ thông làm cơ sở cho việc tiếp tục
học tập trong các trường Công an để sau khi ra trường các em sẽ trở thành nguồn
cán bộ cốt cán cho việc bảo vệ an ninh quốc gia vùng biên giới của tổ quốc.
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy ở các em có một khoảng cách,
một khoảng trống khá lớn khi tiếp nhận tác phẩm văn học nghệ thuật, khoảng
cách này thể hiện rõ hơn trong quá trình chúng tôi hướng dẫn các em khám phá
vẻ đẹp của tác phẩm văn học viết về miền xuôi. Có những chi tiết tưởng như đơn
giản, dễ hiểu đối với nhận thức của học sinh miền xuôi thì lại vô cùng xa lạ, khó
hiểu đối với sự nhận thức của các em học sinh miền núi. Và càng khó hiểu, khó
tiếp nhận hơn đối với các em học sinh là người dân tộc thiểu số ở miền núi.Thực
tế đó đã thôi thúc chúng tôi - những giáo viên giảng dạy văn hóa trong một ngôi
trường đào tạo con em các dân tộc ở miền núi phía Bắc phải tìm cho được một
con đường, một phương pháp giảng dạy phù hợp.
Vì vậy, chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách
lịch sử - văn hoá ở học sinh dân tộc miền núi khi dạy học truyện ngắn “Một
người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải là trước hết chúng tôi “tự cứu lấy
mình”, tự tìm cho mình một con đường, một phương pháp giảng dạy phù hợp để
dẫn dắt học sinh dân tộc thiểu số miền núi thâm nhập vào tác phẩm văn chương
viết về miền xuôi để cảm, để hiểu về nó một cách đầy đủ và sâu sắc. Mặt khác,
chúng tôi cũng mong muốn góp một phần nhỏ bé công sức của mình vào việc
giúp các bạn đồng nghiệp thực thi có hiệu quả chương trình sách giáo khoa Ngữ
Văn 12 mới, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học Ngữ văn trong
nhà trường phổ thông hiện nay cho đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số.
1.3 Nguyễn Khải là một nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp. Cả đời văn với hơn 40 năm lao động nghệ thuật, ông đã để lại
cho đời một số lượng tác phẩm đồ sộ với một giá trị nhân sinh sâu sắc, người

Footer Page 6Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 4



Footer Page 7Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 5

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 8 of 16.

Nghiên cứu về vấn đề dạy học văn ở miền núi, đặc điểm cảm thụ của học
sinh dân tộc thiểu số miền núi đã có một số người quan tâm. Đặc biệt là những
công trình của các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, nơi đào
tạo đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở và Trung học phổ thông cho các tỉnh miền
núi Việt Bắc và Tây Bắc của tổ quốc. Trải qua hơn 40 năm xây dựng và trưởng
thành, nhà trường đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở các
tỉnh miền núi. Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu và các tạp chí
của các tác giả như:
- Dạy văn và học văn ở miền núi (Đề tài nghiên cứu cấp trường) của 2 tác
giả Trần Thế Phiệt - Vi Hồng, 1990 - 1991.
- Vài nhận xét về đặc điểm cảm thụ của học sinh dân tộc thiểu số miền núi,
tạp chí NCGD, số 9/1991 của tác giả Phùng Đức Hải.
- Dạy và học văn ở miền núi, tạp chí Văn học số 2/1992 của tác giả Vi
Hồng.
- Từ những bài thi vào đại học 1993 ta biết được những gì về dạy và học
văn ở miền núi của tác giả Hoàng Hữu Bội, tạp chí Văn học tháng 3/ 1993.
- Dạy và học thơ cổ ở trường cấp II - III miền núi của hai tác giả Phạm
Luận - Hoàng Hữu Bội, NXB Giáo dục, 1994.
- Dạy và học tác phẩm văn chương ở trường THPT miền núi của tác giả
Hoàng Hữu Bội, NXB Giáo dục,1997.
- Những biện pháp hạn chế khoảng cách tiếp nhận Thơ kháng chiến Việt

phạm Việt Bắc (nay là Đại học Sư phạm Thái Nguyên) và với tâm huyết của
một nhà giáo luôn trăn trở cho sự nghiệp giáo dục đào tạo ở miền núi, tác giả đã
đi sâu tìm hiểu từ trong thực tế dạy học văn ở các nhà trường Trung học phổ
thông miền núi để phát hiện ra những khó khăn trở ngại mà học sinh miền núi
gặp phải trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương nghệ thuật. Từ đó, tác
giả đề xuất những biện pháp hữu hiệu có tính khả thi và tìm ra con đường dẫn
dắt học sinh miền núi khám phá thế giới hình tượng trong tác phẩm văn chương
đó là:
1. Giải tỏa tâm lí mặc cảm khép kín ở học sinh miền núi.
2. Giúp học sinh miền núi vượt qua hàng rào ngôn ngữ.
3. Giúp học sinh miền núi rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hoá.

Footer Page 9Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 7

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 10 of 16.

4. Tăng cường rèn luyện tư duy văn học cho học sinh miền núi.
5. Tăng cường khả năng tác động của văn chương đối với chủ thể tiếp nhận
bằng các biện pháp đặc thù của giảng dạy văn học.
Ngoài ra, công trình nghiên cứu: “Những biện pháp hạn chế khoảng
cách tiếp nhận Thơ kháng chiến Việt Nam 1946 - 1954 ở học sinh trung học
phổ thông miền núi” (Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục) của tác giả Lý Thị
Mai Hương, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2002 cũng đã đề cập đến
khoảng cách tiếp nhận thơ kháng chiến của học sinh trung học phổ thông ở miền
núi của tỉnh Thái Nguyên, ngoài việc nghiên cứu những cơ sở lí luận về tiếp
nhận văn học và đặc điểm của thơ kháng chiến Việt Nam giai đoạn 1946 - 1954

Hương đã thuyết phục người đọc về vấn đề đặt ra trong luận văn.
Một số bài viết khác được đăng trên tạp chí, tuỳ vào từng góc độ, từng khía
cạnh mà mỗi tác giả đề cập đến những vấn đề cụ thể, song nhìn chung các tác
giả đều nêu lên đặc điểm tâm sinh lí của học sinh dân tộc miền núi, những khó
khăn của việc dạy học văn ở các nhà trường miền núi... Mỗi cách nhìn khác
nhau, thành công và hạn chế cũng khác nhau nhưng mỗi vấn đề được các tác giả
đề cập đến đều rất thiết thực, có tính thực tiễn cao, góp thêm giải pháp vào vấn
đề dạy học văn ở nhà trường phổ thông miền núi hiện nay.
Vấn đề được nghiên cứu trong khuôn khổ của luận văn này là sự kế tiếp
thành tựu của các công trình khoa học đi trước, đồng thời luận văn đi sâu nghiên
cứu cụ thể về khoảng cách lịch sử - văn hoá và những khó khăn trở ngại mà học
sinh dân tộc miền núi gặp phải trong quá trình tiếp nhận một truyện ngắn hiện
đại viết về miền xuôi.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Phát hiện ra những khoảng cách lịch sử - văn hoá ở học sinh các dân tộc
thiểu số miền núi khi học truyện ngắn “Một người Hà Nội”
- Đề xuất một số biện pháp rút ngắn khoảng cách về lịch sử - văn hoá ở đối
tượng học sinh này nhằm dạy học có hiệu quả truyện ngắn “Một người Hà Nội”
cho học sinh các dân tộc miền núi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, người nghiên cứu có nhiệm vụ:
- Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của Nguyễn Khải qua hai giai đoạn sáng
tác, nhất là những sáng tác trong thời kì đổi mới (từ năm 1978 về sau), trong đó

Footer Page 11
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 9


những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn “Một người Hà Nội”

Footer Page 12
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 10

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 13 of 16.

và đặc điểm cảm thụ văn học của học sinh miền núi qua các công trình đã được
công bố.
5.2 Phƣơng pháp thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê Toán học để chúng tôi xử lí số liệu thu thập
được trong quá trình điều tra khảo sát và quá trình thực nghiệm.
5.3 Phƣơng pháp điều tra khảo sát
Sử dụng phương pháp này để chúng tôi phát hiện những khoảng cách lịch
sử - văn hoá ở học sinh lớp 12 là người dân tộc thiểu số miền núi khi học truyện
ngắn “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải.
5.4 Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm trong quá trình tiến hành xây
dựng thiết kế bài học và tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Văn hoá I - Bộ
Công an - Tỉnh Thái Nguyên.
6. Giả thuyết khoa học
Khoảng cách trong tiếp nhận văn học là một hiện tượng tất yếu mà nguyên
nhân dẫn đến khoảng cách là do sự chênh lệch về vốn sống, điều kiện sống, về
trình độ năng lực tư duy, nhận thức của mỗi bạn đọc, giữa người sáng tạo và
người tiếp nhận văn học. Vì vậy khoảng cách mà bạn đọc là học sinh dân tộc

2.1 Khảo sát những khoảng cách lịch sử - văn hóa ở học sinh dân tộc
thiểu số miền núi khi học truyện ngắn “Một người Hà Nội”.
2.2 Nguyên nhân tạo ra những khoảng cách lịch sử - văn hoá giữa tác phẩm
"Một người Hà Nội" với bạn đọc - học sinh dân tộc miền núi
2.3 Một số biện pháp rút ngắn khoảng cách lịch sử - văn hóa ở học sinh
dân tộc miền núi khi học truyện ngắn “Một người Hà Nội”.
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm
Phần kết luận

Footer Page 14
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 12

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 15 of 16.

PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ RÚT
NGẮN KHOẢNG CÁCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HỌC SINH DÂN
TỘC MIỀN NÚI KHI HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG
1.1 Lí thuyết về tiếp nhận văn học
1.1.1 Khái niệm tiếp nhận văn học
Bàn về tiếp nhận văn học, sách giáo khoa Ngữ văn 12 - Tập 2 - Chương
trình chuẩn, NXB Giáo dục, 2008 viết: “Tiếp nhận văn học chính là quá trình
người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới
nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả,

thế giới hình tượng thông qua ngôn từ thì buộc người đọc phải chủ động tích
cực, phải hiểu được nghĩa của các từ, các hình ảnh, nhớ những điều đã đọc,
phát hiện được mối liên hệ giữa các câu, các phần, hiểu được những chỗ bỏ
trống, giải thích được những chỗ mâu thuẫn, vô lí của văn bản tác phẩm...
Quá trình người đọc tự tìm hiểu, tự giải đáp cho đến khi người đọc sống với
nhân vật trong tác phẩm, hiểu và phát hiện được ý nghĩa của tác phẩm. Khi
tác phẩm của nhà văn trở thành tác phẩm của người đọc, hòa quyện với tư
tưởng tình cảm của người đọc thì đó là lúc người đọc đã hoàn thành một quá
trình đồng sáng tạo với nhà văn.
Tiếp nhận văn học là một hoạt động mang tính chủ quan và khách
quan. Quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học của bạn đọc có những trạng thái
khác nhau, có trình độ văn hóa khác nhau. Có bao nhiêu bạn đọc thì có bấy
nhiêu cách tiếp nhận. Chẳng hạn với hình ảnh “khuôn mặt chữ điền” trong
bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Đã bao năm qua đi kể từ khi bài thơ ra đời cho đến bây giờ vẫn chưa có sự
thống nhất. Nếu chúng ta đặt hình ảnh đó vào trong bối cảnh ra đời của bài
thơ thì cách lí giải nào cũng có căn cứ thuyết phục. Truyện Kiều của Nguyễn
Du cũng là một trường hợp điển hình. Nhà thơ Tố Hữu ngợi ca nàng Kiều
bằng những tình cảm xúc động: “Nỗi niềm xưa nghĩ mà thương; Dẫu lìa ngó
ý còn vương tơ lòng” còn Nguyễn Công Trứ lại cho rằng: “Đoạn trường cho
đáng kiếp tà dâm ”. Như vậy tính chủ quan và khách quan là đặc điểm nổi bật
trong tiếp nhận văn chương nghệ thuật.
Hiệu quả của việc tiếp nhận văn học còn phụ thuộc vào tầm đón nhận
của bạn đọc. Nếu tác phẩm thấp hơn tầm đón nhận thì bạn đọc không thích

Footer Page 16
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 14


I - Bộ Công an - Tỉnh Thái Nguyên.

Footer Page 17
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 15

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 18 of 16.

1.2.2 Khái niệm khoảng cách và khoảng cách lịch sử - văn hoá
● Khoảng cách là khoảng trống giữa hai sự vật. Ở đây là khoảng trống
giữa tác phẩm văn chương với bạn đọc - học sinh, cụ thể hơn là khoảng trống
giữa truyện ngắn “Một người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải với bạn đọc
là học sinh dân tộc miền núi. Nói cách khác, đây là những khó khăn, vướng
mắc mà học sinh dân tộc miền núi gặp phải khi tiếp nhận truyện ngắn “Một
người Hà Nội”.
● Khoảng cách lịch sử - văn hóa là khoảng trống của bạn đọc - học sinh
về một thời kì lịch sử đã qua trong quá khứ và về một nền văn hóa (gồm văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần của con người) được miêu tả trong tác phẩm
văn chương nghệ thuật.
Khoảng cách mà luận văn đề cập đến ở đây là khoảng trống hiểu biết của
bạn đọc - học sinh dân tộc thiểu số miền núi về văn hoá vật chất và văn hoá
tinh thần của người Hà Nội (Đặc biệt là văn hoá sống, văn hoá ứng xử của
người Hà Nội trong giới thượng lưu) và những hiểu biết của các em về giai
đoạn lịch sử đã qua ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ XX được nhà văn
Nguyễn Khải đề cập đến trong truyện ngắn “Một người Hà Nội”. Có 3
khoảng cách lớn:

trải qua các biến động thăng trầm của lịch sử. Qua cái nhìn của một cán bộ từ
kháng chiến trở về, nhà văn Nguyễn Khải gửi gắm điều gì? thông qua hình
tượng nhân vật Bà Hiền và nhân vật “Tôi”, tác giả ngợi ca điều gì và phê phán
điều gì? Đó lại là một khoảng cách nữa trong tiếp nhận tác phẩm “Một người
Hà Nội” ở học sinh dân tộc miền núi nói chung và ở học sinh cả nước nói
chung.
1.3 Sáng tác của Nguyễn Khải và truyện ngắn “Một người Hà Nội”
1.3.1 Khái niệm truyện ngắn
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao
trùm hầu hết các phương diện của đời sống: Đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái
độc đáo của nó là ngắn”.( Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình
Sử - Nguyễn Khắc Phi biên soạn ,tr.303).
Cuốn Từ điển Tiếng Việt định nghĩa về thể loại truyện ngắn: Là truyện bằng
văn xuôi, có dung lượng nhỏ, số trang ít, miêu tả một khía cạnh tính cách, một mẩu
trong cuộc đời của nhân vật”(tr. 1018).

Footer Page 19
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 17

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 20 of 16.

Từ những khái niệm trên về thể loại truyện ngắn, chúng ta có thể hiểu truyện
ngắn là thể loại phản ánh đời sống theo phương thức tự sự với dung lượng
ngắn mà vẫn phản ánh cuộc sống trong chỉnh thể toàn vẹn. Nó có độ “nén” rất
lớn với khả năng chứa đựng nội dung thông tin và có sức mở hết sức phong



Header Page 21 of 16.

sinh hoạt trong đời sống thường ngày của cá nhân mỗi người. Văn của
Nguyễn Khải cũng nằm trong mạch cảm xúc chung ấy.
Là một người lính, là một nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, Nguyễn Khải cũng giống như bao các nhà văn khác
thâm nhập vào thực tế để tìm nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Khi cuộc
kháng chiến chống Mĩ nổ ra, nhà văn đã từng lăn lộn với lực lượng vũ trang ở
miền Tây của Tổ quốc cùng bộ đội công binh, đến với các đơn vị xe tăng
trong chiến dịch Đường chín - Nam Lào để tìm hiểu, cắt nghĩa cốt cách của
các chiến sĩ, các gương mặt thuộc thế hệ chống Mĩ. Hòa bình lập lại, miền
Bắc bước vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới, nhà văn còn đi đến những
vùng nông thôn, tìm hiểu những xung đột chính trị quyết liệt xảy ra trong
từng xóm, từng thôn, từng gia đình, từng con người để viết về cuộc sống của
vùng nông thôn trong quá trình xây dựng cuộc sống mới. Ông quan tâm đến
những vấn đề mang tính thời sự, chính trị của đất nước, những xung đột giai
cấp, xung đột dân tộc, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể. Nhà văn đã lấy
tiêu chí “đạo đức” và tiêu chí “chính trị” làm cơ sở xác lập cho giá trị mỗi con
người trong sáng tác của mình. Vì thế mà văn Nguyễn Khải thời kì này dạt
dào nhiệt huyết chính trị và cảm hứng sử thi.
Sau năm 1978, nhận thức của nhà văn đã bắt đầu có những biến chuyển.
Đặc biệt, trong hoàn cảnh riêng của nhà văn cũng có những thay đổi đột ngột:
nhà văn đã gặp một gia đình lớn của mình sau mấy chục năm xa cách, ông bắt
đầu cảm thấy chính mình, cảm thấy cuộc đời riêng của mình, những rung
động buồn vui của cuộc đời mình có thể được bộc bạch trên các trang văn. Vì
thế, đọc văn Nguyễn Khải thời kì này chúng ta thấy hiện lên những hình ảnh
vô cùng sinh động và chân thực về một quá trình vận động từ cảm hứng sử thi
sang cảm hứng đời tư, thế sự trong cuộc sống thời bình. Nhà phê bình văn học

trong họ hàng nội ngoại gia đình nhà tác giả. Đọc văn Nguyễn Khải giai đoạn
này chúng ta thấy những mảnh đời bình dị được ông quan tâm. Đó là cuộc
sống của “Hai ông già ở Đồng Tháp Mười” rất mực bình dị, đó là cuộc sống
bình thường dám hi sinh, chấp nhận sự thiệt thòi để được một niềm hạnh phúc
dù nhỏ nhoi như “Chị Mai”, đó còn là cuộc sống bình dị rất đỗi đời thường
như trong truyện ngắn “Một người Hà Nội”. Cuộc sống ấy được nhà văn
Nguyễn Khải ca ngợi: “Tôi thích cái thời này lắm, tôi khoan khoái được sống
cái thời này, chỉ hơi kinh, chỉ không thích cái lối sống bặm trợn, gian trá, tục
tằn của hôm nay thôi” (Chị Mai). Cùng suy nghĩ ấy, một lần nữa nhà văn tâm

Footer Page 22
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 20

http:// www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 23 of 16.

sự trong tiểu thuyết “Gặp gỡ cuối năm”: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay
ngổn ngang bề bộn trong bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy
những biến động những bất ngờ là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả
sức khai phá”. Cuộc sống mới hôm nay đã giúp nhà văn Nguyễn Khải phát
hiện ra những đổi thay của lớp người hiện tại. Ông phát hiện ra những đổi
thay trong tư duy, trong nếp nghĩ của con người trong mỗi gia đình. Trong sự
đổi thay ấy, nhà văn còn nhận thấy rằng có những đổi thay mang niềm hạnh
phúc đến cho con người nhưng cũng có những đổi thay làm rạn nứt tình cảm
gia đình, làm hoen ố đạo đức gia đình và có tác động không nhỏ đến truyền
thống đạo đức gia đình và xã hội (Đổi đời).

của con người, được đông đảo độc giả đón nhận.
Tóm lại, trên hành trình hơn 40 năm cầm bút, Nguyễn Khải đã bộc lộ sự
gắn bó sâu sắc với đời sống chính trị của đất nước. Ông lăn lộn trong đời sống
để được lắng nghe, được trò chuyện, được đối thoại với con người. Mỗi lần
đối thoại là một lần khác nhau nhưng đều có lí, cái lý lần sau bắt nguồn từ cái
nhìn khoáng đạt, đôn hậu đầy chất nhân văn của một nhà văn nhiệt huyết với
cuộc đời. Đọc văn Nguyễn Khải trước sau ta vẫn thấy hình ảnh của một nhà
văn trung thành với một lối viết riêng của mình, đó là “thích lối kể hơn lối tả,
không chú ý nhiều đến cốt truyện, hình dáng của truyện”(Vương Trí Nhàn)
mà nhà văn tập trung làm nổi bật một nhân vật, một kiểu nhân vật, một nhân
cách sống bằng giọng văn vừa tự nhiên vừa duyên dáng, dân dã, vừa đôn hậu,
khoan dung và chất chứa yêu thương đối với con người.
1.3.3 Truyện ngắn “Một người Hà Nội”
1.3.3.1 Tóm tắt tác phẩm
“Một người Hà Nội” là sự khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp và chiều sâu
văn hoá của người Hà Nội, Nguyễn Khải không đi vào khai thác, khám phá
bản chất của con người trong quan hệ lớn lao mang tính thời đại mà đi sâu
phản ánh vẻ đẹp của con người trong quan hệ đời thường, ngắm nhìn con
người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan
hệ gia đình và tiếp nối thế hệ, để đi đến khẳng định, ngợi ca những giá trị
nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người.
Nhân vật chính trong truyện là nhân vật Bà Hiền. “Bà là chị em đôi
con dì ruột với mẹ già” của nhân vật “Tôi” được nhà văn đặt trong bao biến
động thăng trầm của lịch sử xã hội: Từ Hà Nội những năm giải phóng (1955)
đến những năm chống Mĩ, rồi hoà bình lập lại và cả những năm Hà Nội đang

Footer Page 24
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 22

giải phóng, nhiều người dân Hà Nội chưa thật vui vẻ, họ đang tìm cách thích
ứng với chế độ mới: cách sống, cách làm việc, cách nói năng ... Họ cho rằng

Footer Page 25
Số of
hóa16.
bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 23

http:// www.lrc-tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status