BÀI ĐIỀU KIỆN
MÔN BẢO QUẢN, TU BỔ, TÔN TẠO DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN
HÓA DANH LAM THẮNG CẢNH
Đề bài:
Nhận thức của anh (chị) về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh?
Liên hệ thực tế với một di tích mà anh chị có sự quan tâm.
BÀI LÀM
1
Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính đặc thù
chuyên ngành. Tu bổ di tích không chỉ đơn giản là khôi phục lại như mới một
công trình kiến trúc cổ truyền, mà là sự tổng hợp của nhiều mặt hoạt động phức
tạp có quan hệ qua lại rất chặt chẽ...
I. Bảo quản, tu bổ, tôn tạo Di tích lịch sử văn hóa- danh lam thắng
cảnh
1.1. Một số khái niệm về di tích lịch sủ văn hóa- danh lam thắng cảnh
Khoản 3, 4 thuộc Điều 4 trong Luật Di sản văn hóa năm 2001, được sửa
đổi và bổ sung năm 2009 quy định:
- Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học.
- Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết
hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm
mỹ, khoa học.
Căn cứ Điều 4 Luật Di sản văn hóa, Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐCP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Di sản văn hóa, các di tích được phân loại như sau:
1. Di tích lích sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa,
Di tích lưu niệm sự kiện (chính trị, địa điểm chiến tranh, tội ác
chiến tranh).
-
Di tích lưu niệm danh nhân.
Di tích kiến trúc- nghệ thuật gồm: thành lũy, lăng mộ, đình làng , quán
đạo, chùa, đền, miếu, phủ, điện, tháp Chăm, nhà thờ Thiên chúa giáo, kiến trúc
dân gian, di sản kiến trúc Pháp..
Danh lam thắng cảnh bao gồm: cảnh thiên nhiên và cảnh thiên nhiên có sự
chi phối của con người.
Điều 32 quy định:
1. Các khu vực bảo vệ di tích bao gồm:
a) Khu vực bảo vệ I là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích;
b) Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I.
Trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác
định chỉ có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định, đối với di tích quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch quyết định, đối với di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính
phủ quyết định.
3
2. Các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này phải được các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xác định trên bản đồ địa chính, trong biên bản
khoanh vùng bảo vệ của hồ sơ di tích và phải được cắm mốc giới trên thực địa.
3. Khu vực bảo vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không
4
- Công tác tu bổ di tích chỉ đạt được hiệu quả cao khi các kiến trúc sư thiết
kế và thi công tu bổ di tích tuân thủ các nguyên tắc khoa học.
Theo Luật di sản văn hóa, bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam
thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và
hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố
nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia.
Hoạt động bảo quản di tích gồm 2 nội dung chính:
-
Phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hủy hoại di tích, áp
dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn và tiêu diệt các nguyên nhân gây
hại cho di tích có thể bảo quản từng phần hay toàn bộ di tích.
-
Việc áp dụng chế độ bảo quản sẽ có ưu thế là không làm thay đổi
những yếu tố nguyên gốc của di tích.
Từ ưu điểm của hoạt động bảo quản, áp dụng cho 2 loại di tích ở trong
tình trạng khác nhau:
-
Di tích ở tình trạng còn nguyên vẹn, cần có sự chăm nom, bảo vệ
thường xuyên, áp dụng các biện pháp hóa lý nhằm bảo toàn yêu tố nguyên gốc
của di tích.
Phương pháp phục hồi toàn bộ được áp dụng rộng rãi cho các di
tích bị phá hủy trong chiến tranh, do tai nạn đột ngột nhưng vẫn được người
đương thời công nhận như những thực thể tồn tại và chúng ta có đầy đủ chi tiết
các tài liệu để phục hồi lại di tích đó.
Các hình thức tu bổ di tích:
- Tu bổ quy mô lớn với mục tiêu phục hồi và tái tạo lại toàn bộ hay từng
phần di tích đã bị mất đi, bị làm sai lệch hay biến đổi hình dáng. Trong đó phục
hồi di tích đặt ra nhiệm vụ tước bỏ những lớp bổ sung sau này làm sai lệch hình
dáng ban đầu, làm giảm các mặt giá trị của di tích (trừ trường hợp những lớp bổ
sung sau này nếu có giá trị thẩm mỹ trở thành bộ phận hữu cơ của di tích thì cần
được trân trọng). Còn tái tạo di tích có nghĩa là phục dựng lại những yếu tố, các
bộ phận di tích đã bị mất, hoặc chỉ còn lại những chi tiết đơn lẻ. Ngoài ra có thể
tái định vị các bộ phận di tích đã bị sụp đổ hoặc vùi lấp trong các phế tích kiến
trúc.
- Tu bổ mang tính chất sửa chữa nhỏ, có nhiệm vụ bảo vệ và gia cường về
mặt kỹ thuật để cho di tích luôn được giữ trong trạng thái bảo quản ổn định mà
không làm thay đổi hình dáng lịch sử vốn có của nó, như: Bảo dưỡng thường
xuyên và định kỳ cho di tích, nhằm kiểm tra về mặt kỹ thuật, phát hiện, ngăn
chặn hoặc loại trừ nguyên nhân gây hại cho di tích; sửa chữa nhỏ (mái dột, hệ
thống máng nước, thoát nước, sơn cửa, quét vôi).
6
- Bảo quản cấp thiết: Khi phát hiện di tích đang ở trong tình trạng bảo
quản không tốt, có khả năng đe doạ sự toàn vẹn và hoàn chỉnh của nó, hoặc có
nguy cơ bị biến dạng, sụp đổ thì phải áp dụng ngay các biện pháp bảo quản cấp
thiết. Đối với những di tích sau khi được công nhận nếu chưa có khả năng tu sửa
lớn, chưa làm xong các khâu chuẩn bị khoa học cho công tác tu bổ, người ta
nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị của di tích.
3. Bảo đảm sự hài hòa giữa di tích với môi trường cảnh quan xung quanh.
Nguyên tắc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích
1. Chỉ tiến hành bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích trong trường hợp cần
thiết và phải lập thành dự án (trường hợp tu sửa cấp thiết di tích thực hiện theo
quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Quy chế này). Dự án và thiết kế bảo quản,
tu bổ và phục hồi di tích hoặc báo cáo tu sửa cấp thiết di tích phải được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Bảo đảm tính nguyên gốc, tnhs chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững
của di tích.
3. Ưu tiên cho các hoạt động bảo quản, gia cố di tích trước khi áp dụng
những biện pháp kỹ thuật tu bổ và phục hồi khác.
4. Việc thay thế kỹ thuật hay chất liệu cũ bằng kỹ thuật hay chất liệu mới
phải được thí nghiệm trước để bảo đảm két quả chính xác khi áp dụng vào di
tích.
5. Chỉ thay thế một bộ phận cũ bằng một bộ phận mới của di tích khi có
đủ những chứng cứ khoa học chuẩn xác và phải có sự phân biệt rõ ràng giữa bộ
phận mới thay thế với những bộ phận khác.
6. Bảo đảm an tòan cho bản thân công trình và khách tham quan.
Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích;
b) Lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt,
trừ trường hợp sửa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích.
Đối với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm
quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích quốc gia và di tích
quốc gia đặc biệt, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch;
c) Công bố công khai quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phương
nơi có di tích.
kỉ niệm 1000 năm Thăng Long. Tam môn nội được xây dựng bởi kiến trúc gỗ
lim với các đầu đao uốn cong hình con kìm hóa rồng rất uyển chuyển. Sân nội
9
được lát đá theo kiến trúc chiếu hoa. Trong đó, chiếu hoa lớn ở giữa và sáu
chiếu hoa nhỏ ở hai bên để phục vụ bài chí voi ngựa, cờ xí trong dịp lễ hội.
Tam tòa chính điện gồm: Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Đền được xây
theo kiến trúc “tiền nhất hậu đinh”. Trước tòa Tiền tế là hồ bán nguyệt, hai bên
là hai cây muỗng cổ thụ có tuổi đời trên 100 năm.
Bên tả của Tam tòa chính điện là Đền thờ thân phụ thân mẫu ông Thi
Sách và ông Thi Sách. Trải qua thời gian đền đã bị xuống cấp cho nên vùa được
trùng tu năm 2007. Toàn bộ kiến trúc cũng được xây dựng bằng gỗ lim. Nhưng
để phân biệt với đền vua thì tại 2 đền mẫu và 2 đền tướng, kiến trúc gỗ lim được
để trơn chứ không sơn son thiếp vàng.
Qua hồ mắt voi là Đền thờ Thân phụ, thân mẫu, Sư phụ, Sư mẫu của Hai
Bà và Đền thờ các nữ tướng của triều đại Trưng Vương ở bên hữu Tam tòa
chính điện. Đền thờ các vị nữ tướng của triều đại Trưng Vương là nơi thờ tự linh
phù của các vị nữ tướng đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm
40- 43SCN). Đền được khởi dựng và hoàn thiện năm 2006- 2007.
Hàng năm, khu di tích đền Hai Bà Trưng - Mê Linh mở hội chính từ ngày
mồng 6 đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch là ngày Hai Bà tế cờ khởi nghĩa.
Ngoài ra, ở đền còn có những ngày lễ khác cũng được tổ chức hàng năm:
- Ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch là ngày hóa của Hai Bà Trưng tức ngày
mồng 8 tháng 3 năm Quý Mão, năm 43 SCN.
- Mồng 1 tháng 8 âm lịch, là ngày sinh của Hai Bà Trưng tức ngày mồng
1 tháng 8 năm Giáp Tuất, năm 14 SCN.
-Ngày mồng 10 tháng 11 âm lịch là ngày giỗ ông Thi Sách (chồng Bà
Trưng Trắc).
Đặc biệt, là những năm chẵn, từ mùng 4 đến mùng 10 tháng Giêng nhân